Home / Trang Trại / 5 thuốc diệt côn trùng hại cây trồng hiệu quả triệt để

5 thuốc diệt côn trùng hại cây trồng hiệu quả triệt để

/

Tổng hợp các loại thuốc diệt côn trùng tận gốc, được cấp phép lưu hành trên thị trường hiện nay.

thuốc trị tuyến trùng hại rễ

1. Thuốc ức chế sinh trưởng và phát triển côn trùng 

1.1. Buprofezin 

Tính chất: Thuốc nguyên chất ở dạng tinh thể, điểm nóng chảy 104,5 độ C áp suất hơi 9,4 x 10-6 mmHg (25 độ C). Rất ít tan trong nước (0,9 mg/l ở 25 độ C), tan trong nhiều dung môi hữu cơ như acetone (240 g/l), benzene (370 g/l), ethanol (80 g/l). Tương đối bền trong acid và kiềm. Không cháy. 

Nhóm độc III, LD50 qua miệng 2198 – 2355mg/kg, LD50 qua da > 5000mg/kg. TGCL 7 ngày. Ít độc đối với cá, ong và các loài thiên địch. Tác động tiếp xúc. Phổ tác dụng tương đối hẹp, chủ yếu với côn trùng bộ cánh đều và nửa cứng, ít tác động với côn trùng bộ khác. 

Là thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng, chủ yếu ức chế tạo thành chất kitin ở da côn trùng, làm ấu trùng không lột xác được mà chết. Thuốc không diệt được côn trùng trưởng thành nhưng làm hạn chế sự hình thành trứng và trứng đẻ ra không nở được. 

Hiệu lực của thuốc thể hiện chậm (sau 2 – 3 ngày ấu trùng lột xác mới chết) nhưng thời gian hiệu lực có thể kéo dài 20 ngày. 

Sử dụng: Buprofezin chủ yếu dùng phòng trừ các loại rầy, rệp, bọ xít như rầy nâu, rầy xanh, bọ xít hại lúa, các loại rệp, bọ xít hại cây ăn quả, cây công nghiệp, rầy xanh hại chè, đậu đỗ. Đặc biệt với rầy nâu hại lúa, thuốc có hiệu quả cao và kéo dài, ít hại thiên địch, không gây hiện tượng tái bùng phát rầy. Applaud 10WP trừ rầy nâu, rầy xanh cho lúa dùng 0,7 – 1,0 kg/ha pha với 400 – 600 lít nước (nồng độ 0,15 – 0,25%). 

Dùng cho chè, cây ăn quả, pha với nồng độ 0,2% phun ướt đều lên tán lá. Nên phun thuốc khi rầy non mới nở, còn nhỏ.

Khả năng hỗn hợp: Để hiệu lực trừ rầy nhanh hơn, thường hỗn hợp với Isoprocarb (Applaud Mipc) hoặc Fenobucarb (Applaud Bas). Có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu bệnh khác

1.2. Chlorfluazuron

Tính chất: Thuốc nguyên chất dạng tinh thể. Điểm nóng chảy 228 độ C. Hầu như không tan trong nước (0,015 ppm), tan ít trong một số dung môi hữu cơ như acetone (52 g/l), chloroform (30 g/l), xylene (0,03 g/l), ethanol (0,017 g/l). Tương đối bền vững dưới tác dụng của nhiệt độ và ánh sáng.

Nhóm độc III, LD50 qua miệng > 8500mg/kg, LD50 qua da 1000mg/kg. Rất ít độc với cá và ong. TGCL 7 ngày. Tác động vị độc và tiếp xúc. Thuốc có tác dụng chọn lọc, chủ yếu với sâu non bộ cánh vẩy. Ức chế sự hình thành chất kitin tạo lớp da cơ thể sâu, làm cho sâu non không lột xác được mà chết. 

Thuốc không giết chết sâu trưởng thành nhưng hạn chế sự hình thành trứng và làm trứng đẻ ra không nở được. Hiệu lực của thuốc thể hiện chậm, sau 3 – 5 ngày khi sâu non lột xác mới chết, hiệu lực kéo dài 10 – 15 ngày. Có hiệu quả cao với sâu đã chống các thuốc khác. 

Sử dụng: Atabron 5EC chủ yếu dùng trừ các sâu ăn lá cho rau, đậu, ngô, bông như sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, sâu hồng… Liều lượng dùng 1 – 2 l/ha, pha nước với nồng độ 0,2 – 0,4% phun 300 – 400 l/ha.

Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung hoặc dùng luân phiên với thuốc sâu nhóm lân hữu cơ, carbamate hoặc pyrethroid để tăng hiệu quả trừ sâu. Tham khảo thêm thuốc diệt nấm, vi khuẩn bảo vệ cây trồng sinh trưởng tốt.

1.3. Cyromazine

Tính chất: Thuốc kỹ thuật dạng tinh thể trắng, điểm nóng chảy 219 – 222 độ C, tan ít trong nước (1,1% ở 20 độ C), trong methanol (1,7%). Không ăn mòn kim loại, bền vững ở pH = 5 – 9.

Nhóm độc III, LD50 qua miệng 3387 mg/l, LD50 qua da 3100mg/kg. Rất ít độc với cá (LC50 = 87,9 – 92,4 mg/l trong 96 giờ), không độc với ong. TGCL 7 ngày. Là thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng, tác động tiếp xúc, vị độc. 

Sử dụng: Chủ yếu trừ các loại ruồi đục quả, đục lá hại rau, đậu, cây cảnh trồng trong nhà, sân vườn, ban công hay gác mái, trừ muỗi hại gia súc và bọ gậy. Trigard 75 BHN dùng 1,0 – 1,5 kg/ha, pha nước với nồng độ 0,2 – 0,3% phun ướt đều lên cây (400 – 500 lít nước/ha). Trigard 100SL dùng 0,75 – 1,0 l/ha, pha nước với nồng độ 0,15 – 0,2%.

Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác. Đọc thêm thuốc trị tuyến trùng hại rễ, giúp cây phát triển khỏe mạnh.

1.4. Lufenuron

Tính chất: Thuốc kỹ thuật dạng bột trắng, điểm nóng chảy 164,7 – 167,7 độ C. 

Nhóm độc III, LD 50 qua miệng > 2000mg/kg, LD 50 qua da > 2000mg/kg. Ít độc với cá và ong.. TGCL 7 ngày. Tác động vị độc, thuốc điều tiết sinh trưởng, ức chế tổng hợp chất kitin, tác dụng chủ yếu với sâu non, bộ cánh phấn và cánh cứng, sâu chết sau 2 -3 ngày. 

Sử dụng: Phòng trừ các sâu miệng nhai ăn lá như sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, bọ nhảy hại rau, ngô, bông. Ngoài ra, có thể trừ nhện hại cam quýt, trừ côn trùng y tế và thú y. 

Liều lượng sử dụng: match 50EC từ 0,5 – 1 lít/ha, pha nước với nồng độ 0,1 – 0,2% phun nước đều lên cây. 

Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác. Thường hỗn hợp với Dimilin, Abamectin.

2. Thuốc dẫn dụ côn trùng 

2.1. Metyl eugenol

Tính chất: Metyl eugenol là một chất giả chất tiết dục của ruồi cái Dacus dorsalis, có khả năng dẫn dụ ruồi đực rất mạnh. Hiệu lực dẫn dụ kéo dài 10 – 15 ngày. Rất ít độc với người và môi trường. Naled là thuốc trừ sâu thuộc nhóm lân hữu cơ có hiệu quả cao với các loại ruồi, pha lẫn vào bả có chất dẫn dụ sẽ làm ruồi chết ngay. 

Sử dụng: Dùng trừ ruồi đục trái cây. Thấm 1 ml thuốc vào miếng vải hoặc bông đặt trong một hộp nhựa (hoặc sắt) có đục lỗ ở bên (gọi là bẫy) để ruồi bay vào ăn thuốc và chết trong đó. 

Treo bẫy lên cây cách mặt đất khoảng 1,5 – 2 m ở chỗ râm mát, thoáng gió, đặt 2 – 3 bẫy cho 1000m2 , sau 7 – 10 ngày thu dọn ruồi chết và thấm lại thuốc mới để tiếp tục dẫn dụ ruồi. Có thể đặt bẫy quanh năm, nhất là khi trái cây bắt đầu chín. 

Thuốc chỉ dẫn dụ và diệt ruồi đực, ruồi cái sống nhưng không đẻ trứng, sẽ giảm rất nhiều số lượng dòi đục trái.

Khả năng hỗn hợp: không pha thêm thuốc nào khác. b. Pheromon Là những chất bay hơi do cơ thể sinh vật tiết ra hay được tổng hợp có khả năng tác động đến sinh lý hay hành vi của các cá thể khác cùng loài, bắt chúng di chuyển về nguồn phát ra những chất dẫn dụ đó. Các phản ứng có thể xảy ra tức thì (như pheromon sinh dục), hay chậm hơn (do tác động đến các chức năng sinh lý). Các pheromon đều là các acid béo thay thế hay các thành phần tương tự có trong thức ăn, được dùng ở nồng độ rất thấp trong không khí, nên hầu như không độc với độc vật máu nóng. Ở côn trùng, pheromon được tiết ra từ những tuyến đặc biệt hoặc từ các gian đốt. Ngoài côn trùng, pheromon còn có ở các loài giáp xác (ngành chấn đốt), cá lưỡng thê và một số cá khác, cóc và một số loài ve bét. 

Chất dẫn dụ côn trùng được chia làm các nhóm

Những chất dẫn dụ sinh dục: Những chất dẫn dụ sinh học còn gọi là pheromon giới tính. Chúng là các hợp chất tự nhiên (do côn trùng tiết ra) hoặc được tổng hợp nhân tạo, có hoạt tính chuyên hoá cao, chỉ hấp dẫn cá thể cùng loài nhưng khác giới. Các pheromon này sinh ra từ các tuyến thơm của con cái (là chủ yếu) hay từ con đực, có tác động kích thích dẫn dụ hoạt động sinh dục, kết cặp, thường thấy ở bộ cánh cứng, cánh vảy, bọ xít, ruồi. Nồng độ pheromon trong không khí tăng, làm công trùng từ trạng thái di chuyển sang kích thích giao phối. Pheromon sinh dục hay quyến rũ (epagon) đóng vai trò giám sát, theo dõi sự xuất hiện của các loài sâu hại. Lợi dụng đặc tính này, người ta tổng hợp các pheromon giả, phá huỷ khả năng con đực tìm kiếm con cái để giao phối, nhằm làm giảm số lượng quần thể côn trùng đời sau. Đến nay người ta đã biết trên 350 loài côn trùng thuộc 12 bộ có pheromon sinh dục. Người ta cũng đã tổng hợp được một số pheromon nhân tạo, ví dụ chất cis – 7 – dencen – 1- ol axetat có tác dụng hấp dẫn bướm đực Trichophlusiani spp. Chất Prophylur là chất dẫn dụ sinh học của sâu hồng hại bông Pectinophora gossypiella. 

Những chất dẫn dụ tìm kiếm thức ăn: Có tác dụng giúp cho côn trùng lựa chọn loại thức ăn thích nhất của chúng. Những chất này có thể là những chất men (nước đường lên men, dịch thuỷ phân albumin), vitamin,… Những chất dẫn dụ tìm kiếm thức ăn không có tính đặc hiệu cao bằng các chất dẫn dụ sinh dục, chúng có thể hấp dẫn cả con đực và con cái thuộc những loài tương đối xa nhau về mặt di truyền. Tính hấp dẫn của những chất này không xa và lâu dài bằng những chất dẫn dụ sinh dục. Pheromon này có trong côn trùng trưởng thành và ấu trùng, còn có tác dụng quần tụ loài, giúp cá thể trong loài tụ tập vĩnh viễn hay nhất thời, nhằm mục đích nhất định của loài. 

Ví dụ: 15 loài côn trùng thuộc họ Ipidae tiết ra hormon, giúp cho mọt quy tụ trong một cây gỗ làm cuộc sống của loài ở đời sau được thuận lợi. 

Những chất dẫn dụ côn trùng tìm nơi đẻ trứng: Trên rau họ hoa chữ thập, cây sen cạn (Capucine), cỏ mộc tế (Reseda), một số cây thuộc họ hồng lâu (Capparidaceae) có chứa chất alkylizothioxianat dẫn dụ bướm sâu xanh bướm trắng Pieris sp. đến đẻ trứng. 

Pheromon bầy đàn (ethophnon): Thường thấy ở các côn trùng có cuộc sống bầy đàn như ong, kiến, mối… Côn trùng dùng loại pheromon này như tín hiệu thông tin điều tiết bầy đàn: Kết bầy, báo nhiễu loạn nhiệt, ẩm độ trong tổ. 

Pheromon cảnh báo (torybon): Phát tín hiệu báo động khi tổ bị xâm phạm, gây phản ứng chạy trốn hay chống trả. 

Pheromon đánh dấu (odmichinon): dùng để đánh dấu nơi cư trú, đường tìm thức ăn, thậm chí điều tiết số lượng cá thể. 

Việc phân loại pheromon dựa vào chức năng của chúng như: Cảnh báo, đánh dấu, kết bầy, ngụy trang, đẻ trứng, nhận nhóm, giữ nhóm, ngăn chặn, có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng chúng, trong đó pheromon sinh dục là tâm điểm phòng trừ côn trùng. 

Các pheromon tự nhiên hay nhân tạo được dùng trong bảo vệ thực vật nhằm

– Phát hiện kịp thời và đánh giá mức độ xuất hiện của một loài sâu hại nào đó trong vùng cho công tác dự tính dự báo; xác định thời điểm cần phun thuốc trừ sâu. 

– Bẫy bắt quần thể để giảm số lượng cá thể trong loài, giảm sự phụ thuộc của công tác phòng chống sâu hại với thuốc trừ sâu; dùng pheromon để dẫn dụ sâu hại tập trung trên diện tích nhỏ để diệt. 

– Quấy rối giao phối là biện pháp dùng các pheromon giả ở khắp nơi khiến cho côn trùng cùng loài không tìm được bạn tình, nhằm loại trừ sự sinh sản của côn trùng, là một trong những phương pháp hứa hẹn nhất. 

– Bẫy cây trồng (trồng một số diện tích nhất định trước vụ), thu hút côn trùng đầu vụ đến đó để diệt, nhằm hạn chế hay làm chậm sự phát sinh của sâu trong vụ. 

Dùng pheromon có rất nhiều ưu điểm

– Giảm chi phí sản xuất (giảm lượng thuốc, số lần phun, công phun thuốc). 

– Giảm sự ngộ độc, giảm dư lượng thuốc trong môi trường. 

– Rất ít hại đến sinh vật có ít, phù hợp với hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp. 

Hiện nay đã có hơn 700 loại pheromon của các loài côn trùng khác nhau được tổng hợp, trong đó có nhiều loại đã được thương mại hoá với rất nhiều dạng khác nhau, phụ thuộc vào kỹ thuật giải phóng pheromon.

Đọc thêm:

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :