Home / Trang Trại / Tập tính là gì? cơ sở sinh lý học của tập tính ở sinh vật

Tập tính là gì? cơ sở sinh lý học của tập tính ở sinh vật

/

Sự cân bằng đó được thực hiện thông qua quá trình trao đổi chất của cơ thể chỉ có hiệu quả khi được thực hiện trong điều kiện ổn định.

tập tính tự nhiên là gì

1. Khái niệm về tập tính tự nhiên

Cơ thể muốn tồn tại và phát triển được thì phải cân bằng với môi trường sống của nó. Sự cân bằng đó được thực hiện thông qua quá trình trao đổi chất của cơ thể chỉ có hiệu quả khi được thực hiện trong điều kiện ổn định. Các yếu tố của môi trường lại luôn luôn biến động theo không gian và theo thời gian, do đó chúng gây nên những biến đổi bên trong cơ thể. Đối với những biến đổi của điều kiện môi trường diễn ra trong khoảng đời sống của cơ thể thì từng cơ thể sẽ có sự thích ứng, tức là cơ thể trả lại những biến đổi đó một cách chậm chạp bằng cách thay đổi dần các chức năng sinh lý. Nếu điều kiện của môi trường biến đổi một cách đột ngột thì sự điều hoà của cơ thể sẽ được thực hiện bằng những phản ứng nhanh chóng. Những phản ứng này có thể là những phản ứng sinh lý (như hồi hộp, tức giận) hoặc là những phản ứng tập tính (như chạy trốn, tấn công).

Như vậy, tập tính là một trong những biện pháp để thích ứng với những điều kiện khác nhau của môi trường ngoài cũng như sự biến đổi của chúng. Nó chính là một hoạt động phối hợp của cơ. Đôi khi nó còn liên quan đến cử động của một bộ phận nào đó của cơ thể, chẳng hạn như con chó vẫy đuôi, con chim hót. Nhưng đôi khi nó lại là một phức hợp nhiều động tác, trong đó cần có sự tham gia của toàn cơ thể chẳng hạn sự đổi tư thế hay đi đi lại lại… Cũng có những tập tính làm cho con vật trở nên bất động như con mèo chụm chân nằm chờ con chuột đến gần. 

Mặc dù, các tập tính thường được thực hiện nhờ các cơ, nhưng cũng có khi có sự tham gia của các cơ quan khác như sự phun hoả mù của con mực, con bạch tuộc.

Tập tính, đó là sự trả lời lại những biến đổi của môi trường xung quanh. Thế nhưng, sự biến đổi của môi trường xung quanh mà sinh vật phản ứng lại một cách thích nghi còn được gây ra do chính bản thân sinh vật, chẳng hạn sự tiêu hao oxy, làm tăng hàm lượng cacbon, cây cối làm biến đổi nền đất. Sự biến đổi này không chỉ xảy ra ở môi trường ngoài mà còn xảy ra ở ngay bên trong cơ thể sinh vật. Ví dụ, khi đói thì lượng đường trong máu giảm, dạ dày co bóp nhiều hơn… làm cho con vật trở nên lo lắng đi lại sục sạo tìm mồi. Sau khi ăn no, trạng thái bên trong cơ thể lại thay đổi, sự lo lắng không còn nữa, con vật trở nên “phấn chấn”, thoả mãn hoặc buồn ngủ.

Chính vì vậy, các phản ứng tập tính mang tính thích nghi, nghĩa là làm cho cá thể hoặc cho loài tồn tại và phát triển một cách ổn định. Tập tính của các cá thể khác nhau thì không giống nhau, chúng mang tính chất đặc trưng cho loài. Ví dụ, tiếng hót của chim chích chòe khác với tiếng hót của chim vàng anh, chim yến sử dụng vật liệu để xây tổ khác với các loài chim khác, tu hú không biết tự làm lấy tổ nhưng lại có tập tính đẻ “trộm” trứng của mình vào tổ của loài khác. Ngoài ra, ngay trong một cơ thể thì ở vào những hoàn cảnh khác nhau sẽ có những phản ánh tập tính không giống nhau. Chẳng hạn, con bò cạp cái trước khi giao phối thì rất hiền từ, chấp nhận sự nhảy múa của con bò cạp đực, nhưng khi giao phối song, nó lập tức vồ lấy con bọ cạp đực và ăn ngấu nghiến nếu như con đực không kịp chạy trốn.

Tập tính thường được phản ánh trong các phản ứng vận động hay ngừng vận động… khi trả lời sự biến đổi của môi trường bên ngoài và môi trường bên trong cơ thể. Vì thế, cơ sở để thực hiện tập tính không chỉ riêng các cơ quan trả lời lại sự biến đổi, mà còn là cả một hệ thống phản ứng của giác quan và hệ thần kinh. Mỗi một hệ thống tham gia vào phản ứng tập tính theo một đặc điểm của nó. Hơn nữa, việc tổ chức của hệ thống phản ứng được thiết kế một cách xác định để khi nhận được kích thích nó trả lời như một chương trình đơn giản nhưng hoàn toàn tự động hóa. Chẳng hạn, hoạt động của cơ được kiểm tra chặt chẽ, liên tục bằng các tín hiệu cảm giác được phát sinh khi cơ hoạt động và sự kiểm tra đó lại có tác dụng điều chỉnh hoạt động của cơ.

2. Cơ sở sinh lý học của tập tính

Trong quá trình tiến hoá của sinh vật, đặc biệt là của giới động vật, tập tính sinh học ngày càng phức tạp trên cơ sở của sự phát triển chung của hệ thần kinh. Trong đa số động vật có xương sống cơ sở tập tính là các phản xạ, là những động tác định hình (hay bản năng) và tính hướng (hướng quang, hướng động và hướng lên, hướng xuống). Trong quá trình phát triển của giới động vật, các dạng tập tính thấp ngày càng bị chèn ép bởi các tập tính cao hơn dựa trên cơ sở học tập của từng cá thể.

2.1. Tính hướng (hay theo)

Tính hướng là một dạng tập tính đơn giản. Nó được xuất hiện chủ yếu dựa trên những phản ứng trả lời lại các nhu cầu sinh lý đơn giản của thực vật và các loài động vật bậc thấp. Chẳng hạn, cây mọc buộc rễ cây phải đâm xuống đất, thân cây phải hướng lên không khí. Sự phát triển thực vật về phía có ánh sáng gọi là quang hướng động dương (như lá lạc, hoa hướng dương). Tính hướng còn gặp ở nhiều loài động vật không xương sống khác như thuỷ tức.

Ngoài ra, sự di chuyển của động vật để tránh những điều kiện không thuận lợi là những dạng vận động không định hướng, song cũng có thể hiểu “hướng” của nó là từ nơi bất lợi đến nơi thuận lợi. Chẳng hạn, các loài sinh vật di chuyển khỏi những vùng bị ô nhiễm.

2.2. Tập tính dựa trên cơ sở các phản xạ không điều kiện

Trong những tập tính đơn giản thì khi có kích thích thường gây ra một phản ứng nhất định, phản ứng ấy có thể làm cho một cơ hay một nhóm cơ hoạt động. Trong những trường hợp này, tập tính được xác định bằng sự có mặt của một cơ quan cảm giác tương ứng và một cơ hay một nhóm cơ liên hệ với cơ quan cảm giác bằng các mối liên hệ thần kinh. Nhưng cũng có những tập tính được thực hiện bởi sự hoạt động của những chuỗi nơron rất phức tạp. Ở đó, các cung phản xạ là cơ sở phản ứng, nhưng chúng không phải là những công tắc đơn giản mà còn có khả năng làm thay đổi tín hiệu truyền vào.

Những tập tính dựa trên các phản xạ còn xuất hiện hiện tượng tiếp diễn do có “điện thế tiếp diễn” trong xinap của các chuỗi thần kinh hay hiện tượng “tập cộng thời gian” và “tập cộng không gian”. Chẳng hạn, khi chạm vào lông đuôi của con gián thì con gián bắt đầu chạy, nếu ta thôi kích thích thì con gián vẫn tiếp tục chạy chứ không dừng lại do có sự tiếp diễn điện còn duy trì ở xinap của chuỗi thần kinh bụng.

Khi số lượng xinap tham gia trong cung phản xạ tăng lên thì mức độ phức tạp của tập tính cũng tăng lên rất nhiều. Ngoài ra, khi tăng cường độ các kích thích thì sẽ mở rộng các vùng tham gia vào phản ứng, đồng thời trong các phản ứng phức tạp còn xuất hiện sự điều hoà các phản xạ nhờ các mối “liên hệ ngược”. Chẳng hạn, con bọ ngựa rình mồi khi con mồi xuất hiện trước thị trường của nó thì lập tức nó quay đầu về phía con mồi, rồi xoay cả thân theo hướng đó. Khi con mồi ở khoảng cách mà con bọ ngựa “ước đoán” được vừa tầm với thì nó dùng hai chân trước vồ mồi nhanh như chớp. Như vậy, khi bọ ngựa phát hiện được mồi liền xác định được cả hướng, khoảng cách và điều khiển hành động thông qua cơ quan thị giác, thông tin đó được truyền đến “ thị quan bản thể” nằm ở giữa phần nối đầu – ngực và hoạt động được thực hiện nhờ cơ chân.

2.3. Hoạt động tự phát

Sự hình thành tập tính còn có sự đóng góp “hoạt động tự phát” của hệ thần kinh và các cơ chế “lập trình trung ương”. Khi đó các kích thích từ bên ngoài được coi như là những “tín hiệu” gây ra những hoạt động của các chương trình đã mã hoá. Thường tập tính của những động vật bậc thấp đều là những hoạt động tự phát. Chẳng hạn, nhiều chỗ trên mép dù của con sứa có các tập hợp nơron và cơ quan thăng bằng, tại đó phát sinh những sóng hưng phấn gây ra sự co bóp nhịp nhàng của dù làm cho sứa vận động được. Sự co bóp này không phải là những phản ứng được gây ra trực tiếp bởi kích thích mà phụ thuộc vào sự co bóp của cơ dưới ảnh hưởng của các xung động phát ra từ các hạch thần kinh khác nhau, hoạt động tự động. Do đó, để duy trì các hoạt động này con vật không cần thiết có “não bộ”. Vì thế, khi ta tách rời các phần ra khỏi cơ thể con vật thì chúng vẫn có khả năng hoạt động co bóp một cách bình thường.

Ở đa số động vật không xương sống, tập tính được xác định bằng các xung động vận động mà trình tự của chúng đã được chương trình hóa trong hệ thần kinh trung ương.Vì thế, các kích thích đặc hiệu đối với chúng chỉ có thể có vai trò như là các tín hiệu phát động, đôi khi là những tín hiệu điều khiển. Ví dụ, sự điều hoà tiếng kêu của con dế mèn đã được chương trình hoá trong hệ thần kinh. Sự phức tạp của các động tác co cơ cần cho các dạng âm thanh phát ra của dế phụ thuộc vào sự “quyến rũ” hay sự “doạ dẫm”… mà phần lớn đã được xác định ngay trong não. Như vậy, “sự quyến rũ” hay sự “doạ nạt” là những tín hiệu khác nhau làm cho dế thay đổi tiếng kêu của mình.

Vai trò của những kích thích trong các quá trình điều khiển tập tính cũng rất khác nhau. Hơn nữa, các loài động vật khác nhau tiếp nhận thế giới xung quanh hoàn toàn khác nhau qua thị giác, khứu giác, xúc giác. Chẳng hạn, con chó đánh hơi tốt, con dơi nghe được siêu âm… Như vậy, các thành phần của thế giới xung quanh có ý nghĩa khác nhau đối với các động vật khác nhau. Nhưng mỗi con vật chỉ phản ứng lại một cách chọn lọc những yếu tố “đặc hiệu” đối với đời sống của nó thông qua các cơ quan cảm giác và hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, những tập tính quan trọng thường được xuất hiện liên quan với những dấu hiệu rất cơ bản như con mồi, vật dữ, những cá thể khác giới… những loại này thể hiện rất đa dạng để cho con vật có thể thu nhận được bằng “tay”, “mắt”, “tai”, “mũi”.

Trong thực tế, đôi khi cũng một kích thích nhưng lúc này thì gây ra phản ứng, nhưng ở thời điểm khác lại có thể hoàn toàn không gây ra một hiệu quả nào, thậm chí còn gây ra phản ứng ngược lại vì cơ thể ở những trạng thái khác nhau. Nhưng cũng lại có những phản ứng trước các kích thích thì gây hưng phấn, song nếu kích thích đó được lập đi lập lại có thể tạo ra sự kìm hãm hay dập tắt. Chẳng hạn, con tò vò đực “khoe mẽ” trước con tò vò cái, nếu được con cái hưởng ứng thì càng tăng, nhưng nếu không được con cái hưởng ứng thì động tác “khoe mẽ” đó nhanh chóng ngừng hẳn.

Có trường hợp, kích thích nhiều lần có thể làm cho phản ứng bị dập tắt, song cũng có trường hợp kích thích được lập lại sẽ gây ra một phản ứng mới hoặc làm cho phản ứng tăng lên. Những hiện tượng này có liên quan đến “trạng thái hưng phấn trung ương” “phản ứng thức tỉnh” hay “phản ứng phòng vệ”.

2.4. Tập tính có động lực

Tập tính có động lực xuất hiện thường liên quan đến một nhu cầu nào đó trong đời sống của động vật như đói, khát, giao phối, làm tổ, nuôi con, bảo vệ lãnh thổ.

Đặc trưng của tập tính có động lực là sự liên quan chặt chẽ với trạng thái nhất định của cơ thể và với các kích thích xác định. Tập tính có động lực thường được xuất hiện dưới ảnh hưởng của một nhu cầu nào đó, làm cho con vật bắt đầu tìm kiếm đối tượng cần thiết. Nhưng điều đó không có nghĩa con vật “tìm kiếm” một cách có ý thức đối tượng, mà nó biết được mục đích của hành động nó làm. Cũng có lúc tập tính không được các kích thích bên ngoài điều chỉnh mà chỉ trong quá trình diễn biến con vật mới tìm được nguồn cần thiết cho các kích thích tiếp theo. Ví dụ, khi con mèo đói thường sục sạo khắp nơi. Nhưng khi nhìn thấy hay ngửi thấy chuột thì hành động của nó được chuyển thành dạng hoạt động có định hướng. Đến khi về được chuột thì con mèo lại xuất hiện một nhu cầu trực tiếp: nhu cầu ăn uống. Khi ăn xong chuột thì mèo không còn tập tính sục sạo nữa và tập tính nhu cầu cũng mất.

Tập tính thường biến đổi theo thời gian và mang tính chu kỳ dài ngắn khác nhau như chu kỳ ngày đêm, chu kỳ mùa, chu kỳ chiếu sáng của Mặt trăng… Ngoài ra, theo sự phát triển của cơ thể, các tập tính không những biến đổi (hoặc bị mất đi, hoặc xuất hiện tập tính mới thay thế), mà còn được củng cố và hoàn thiện. Và sự hoàn thiện đó có liên quan đến sự phát triển của hệ thần kinh. Chẳng hạn, nếu sờ vào lòng bàn chân của người lớn thì các ngón chân sẽ co lại, nhưng cũng kích thích đó tác động vào bàn chân của trẻ từ 8-9 tháng thì các ngón chân cái vểnh lên (Phản xạ Babinski).

Ngoài ra, hoóc – môn cũng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà tập tính. Các hoóc – môn gây ảnh hưởng đối với tập tính bằng nhiều con đường:

– Ảnh hưởng lên các giai đoạn phát triển sớm của hệ thần kinh.

– Gây biến đổi trong các cơ quan ngoại vi tham gia vào sự kích thích hệ thần kinh trung ương bằng con đường của cảm giác.

– Tác động lên các trung khu đặc biệt của não.

– Gây ảnh hưởng không đặc hiệu lên cơ thể động vật nói – chung.

Ví dụ: ảnh hưởng của hoóc – môn prolactin lên sự nuôi con của chim bồ câu. “Sữa” bồ câu thực chất được tiết ra từ các tế bào niêm mạc của diều. Đến khi chim non sắp nở, dưới ảnh hưởng của prolactin, diều lớn lên và các kích thích cảm giác phát sinh, tạo ra quá trình hưng phấn “bản năng” nuôi con của bồ câu.

Các hoóc môn gây ảnh hưởng lên tập tính bằng cách thay đổi trạng thái chung của cơ thể hay lên các bộ phận đặc hiệu của thần kinh trung ương. Ở động vật có vú, bộ phận này là vùng dưới đồi. Những động vật bị thiến tức là triệt tiêu hóoc môn sinh dục, do đó sẽ không còn tập tính sinh dục nữa. Ngược lại những động vật chưa trưởng thành sinh dục, nếu được tiêm hóoc môn sinh dục thì chúng sẽ phát dục sớm.

Sự tác động qua lại giữa trạng thái hóoc môn và các yếu tố bên ngoài có vai trò rất quan trọng trong sự điều chỉnh tập tính và thường rất phức tạp.

Những biến đổi của tập tính liên quan với những biến đổi về cấu trúc và sinh lý được diễn ra cùng với sự phát triển của cơ thể và chu kỳ sinh sản. Thế mà, động vật khi thực hiện nhiều lần một chương trình tập tính nào đó bao giờ cũng có những kinh nghiệm nhất định. Do vậy, trong sự phát triển tập tính rất khó phân biệt được quá trình trưởng thành với sự tích lũy kinh nghiệm. Hai quá trình này liên quan chặt chẽ với nhau đến nỗi không thể tách chúng ra.

Tập tính được bắt đầu không phải từ lúc sinh hay lúc nở khỏi trứng mà “ngay trong bụng mẹ”. Quan sát trên một số loài động vật, người ta thấy nhiều hoạt động tập tính được xuất hiện ngay sau lúc sinh như tập tính há mồm đòi mớm hay tập tính nằm “bất động” khi thấy báo hiệu nguy hiểm của chim… Điều đó chứng tỏ rằng kinh nghiệm thực tiễn ở một chừng mực nào đó có ngay trong trứng hay trong thời kỳ phát triển phôi thai. Nhiều thí nghiệm đã chứng minh về vai trò của kinh nghiệm cũ được phát triển ở bên trong cơ thể mẹ. Chẳng hạn, tập tính co chân của trẻ sơ sinh có thể là “dấu vết” kinh nghiệm của phôi.

Ngoài vai trò của kinh nghiệm cũ thì “bắt chước” cũng chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển tập tính. Trong quá trình phát triển cá thể, động vật luôn quan sát tập tính của bố mẹ, anh chị nó. Vì thế, khi chúng phải sống cách ly thì kinh nghiệm của chúng sẽ trở nên nghèo nàn. Ví dụ: chim chích nếu sống cách ly thì chỉ có một điệu hót đơn giản so với chim sống đàn. Hoặc con mèo, hổ, báo không biết cách dạy cho con cái mình cách săn mồi.Vì thế khi còn nhỏ được sống cạnh bố mẹ chúng cũng rất chịu khó luyện tập kỹ năng này.

2.5. Sự học tập

Sự học tập là việc thành lập những biến đổi tương đối bền vững trong tập tính do quá trình tích lũy kinh nghiệm của cá thể có liên quan với sự duy trì và hồi tưởng những thông tin đã nhận được.

Học tập thường được xem như là sự biến đổi tập tính và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Các quá trình học tập có thể có mấy loại như sau:

– Thói quen (tập quán) là sự mất các phản ứng được hình thành trước đây chứ không phải sự thành lập các phản ứng mới. Chẳng hạn sự thuần dưỡng động vật. Khi con vật đã được thuần dưỡng thì sẽ mất đi một số phản ứng cũ. Nhưng được quay trở về điều kiện sống cũ thì những phản ứng trước đây sẽ được phục hồi và mức độ phục hồi của chúng phụ thuộc vào quá trình thuần dưỡng dài hay ngắn.

+ Sự tập luyện kinh điển (hay thành lập các phản xạ có điều kiện kinh điển). Đây là một dạng học tập đơn giản nhất.

+ Sự tập luyện bằng dụng cụ (hay thành lập các phản xạ có điều kiện dụng cụ hay học tập bằng cách thử nghiệm và sai lầm). Đây là một dạng học tập có tính chất liên hợp.

Các phản xạ có điều kiện kinh điển và phản xạ có điều kiện dụng cụ được thành lập dựa trên những phản xạ không điều kiện, còn các kích thích có điều kiện tác động đến mà con vật “nhận thức” được trong quá trình tập luyện sẽ thiết lập nên mối quan hệ giữa những kích thích trước đây không có ý nghĩa gì với kích thích có điều kiện (trong đó bao gồm có cả những thành công và thất bại mà con vật gặp phải), gọi là những phản xạ có điều kiện. Các phản xạ có điều kiện là cơ sở của quá trình nhận thức. Hơn nữa, nhiều phản xạ có điều kiện được thiết lập, nhưng không được củng cố trực tiếp, song nhờ sự “phân tích” các nguồn thông tin mới, nhờ sự “tìm tôi” mà con vật có thể “nắm được” thế giới xung quanh và sử dụng các thông tin đó vào trong tương lai. Hiện tượng đó là “việc học tập do kinh nghiệm tiềm tàng”. Chẳng hạn, nhiều loài côn trùng (như ong, kiến) thường thực hiện chuyến bay định hướng xung quanh tổ mới xây hay nguồn thức ăn mới được phát hiện để “đánh dấu” vị trí.

Hình thức học tập cao được gọi là sự học tập có liên quan với “trí tuệ” của các động vật cao cấp, đặc biệt ở khỉ và ở người. Đây là khả năng sử dụng và kết hợp hai hay nhiều thành phần của kinh nghiệm cũ để thành một dạng mới, cho phép con vật hành động để đạt được mục đích cần thiết.Ví dụ, khỉ Simpanze biết chồng các hộp làm thang hay biết chắp que thành gậy dài để lấy chuối treo trên cao. Việc học tập luôn luôn liên quan với sự duy trì trong hệ thống thần kinh và với khả năng sử dụng thông tin đó trong các trường hợp cần thiết. Quá trình nhận biết thông tin, phân tích và tổng hợp thông tin để có những phản ứng chính xác là đặc trưng của hệ thần kinh thuộc các động vật cao cấp. Vì vậy, sự phát triển của hệ thần kinh là cơ sở của việc học tập cao cấp và sự tư duy ở con người.

2.6. Tập tính xã hội

Tập tính xã hội bao gồm những mối tương tác của các cá thể cùng loài dựa trên mối liên kết sinh sản giữa các cá thể khác giới, mối quan hệ chăm sóc và bảo vệ con cái của đàn” bố mẹ, mối quan hệ huyết thống và di truyền giữa các thế hệ. 

Sinh vật sống thành “xã hội” ở những mức tổ chức khác nhau như bầy đàn liên hệ với nhau bằng các thông tin hay các tín hiệu mà chúng có thể nhận biết ra nhau, những trạng thái của nhau thông qua các cơ quan cảm giác. Chẳng hạn, cá sống thành đàn, nhận biết ra nhau bằng màu sắc của đàn, các loài hươu, cầy hương… có những tuyến tiết “hương” ở hốc mắt, ở gốc đuôi xung quanh vùng hậu môn. Nhiều loài sử dụng âm thanh để nhận biết nhau như côn trùng, ếch nhái. Những tín hiệu nhận biết nhau qua thị giác không chỉ là màu sắc mà còn là điệu bộ của các con vật khác giới, đặc biệt là điệu bộ “khoác áo cưới”, các cử chỉ “khoe mẽ” như nhảy múa và những động tác ‘kệch cỡm” không đúng lúc, không phù hợp với con đực.Ví dụ, sự rỉa lông, uống nước không đúng lúc của con chim đực trước sự có mặt của con chim cái hoặc việc “cắn móng tay”, “vuốt tóc”, “gãi gáy” hay những động tác vụng về của các chàng trai trước người bạn gái đang muốn “đặt vấn đề”.

Tổ chức xã hội có thể là những “gia đình” những “ bộ tộc” để tạo nên một “xã hội” lớn. Trong thiên nhiên cũng gặp những xã hội không phải của một loài. Chẳng hạn, nhóm khỉ và hươu sao nhờ sự nhạy cảm của khứu giác để phát hiện những nguy hiểm ẩn khuất. Khi sống trong “xã hội”, động vật có nhiều lợi ích trong việc khai thác mồi, bảo vệ nhau khỏi vật dữ, nhưng trong đó có những cái thua thiệt nhất định.

Nhiều “xã hội” có sự lãnh đạo tập thể, song nhiều xã hội có con đầu đàn chỉ huy. Ở những động vật có tập tính xã hội cao, lãnh thổ của chúng là chung chứ không phải cho từng “gia đình”, với diện tích 7-15 km2, diện tích vị trí lãnh thổ ít thay đổi qua nhiều thế hệ nếu như nguồn dinh dưỡng và nước vẫn được duy trì. Đối với những loài sống trên cây, có thể xác định địa bàn của chúng bằng tiếng kêu. Chẳng hạn, khỉ Rê Vun hàng sáng trong khoảng 30 phút chúng thường hú lên những tiếng kêu dài để cho đàn khác biết phạm vi lãnh thổ của mình.

Tổ chức xã hội theo trật tự lệ thuộc là đặc tính của hầu hết các loài động vật sống thành đàn, trong đó động vật có xương sống có tổ chức xã hội kiểu này đạt đỉnh cao nhất. Những con đực trở thành con đầu đàn nhờ sức mạnh của cơ thể, tính hung hãn và nhờ những chiến công của nó trong các cuộc đọ sức.

Trong thiên nhiên có thể tìm thấy các dạng sống chuyển tiếp từ đơn độc đến xã hội có tổ chức chặt chẽ. Có những loài sống đơn độc hoặc không biết cách chăm sóc con cái (như muỗi, chuồn chuồn) hoặc biết tìm nơi có nguồn thức ăn sẵn cho con cái (như ruồi, bướm), hoặc đẻ trứng vào các đối tượng mà sau này con cái có thức ăn (như ong ký sinh) hoặc biết làm tổ, cất giấu thức ăn rồi đẻ trứng vào đó (như tò vò), hoặc tích trữ thức ăn và chăm sóc trứng (như nhiều loài cánh cứng). Bên cạnh đó, lại có nhiều loài côn trùng sống thành dạng xã hội phát triển cao và rất cổ như mối, ong, kiến. Trong cuộc sống xã hội này thức ăn luôn được chuẩn bị sẵn, những thành viên trong xã hội còn biết cách chăm sóc những cá thể bé hơn mình. Không những thế trong kiểu sống này, không chỉ con cái sống dựa vào bố mẹ mà ngược lại sau này bố mẹ lại dựa vào con cái. Trong xã hội của chúng bao giờ cũng có “bà chúa” được “suy tôn”, còn các thành viên của xã hội là con của chúa.

Các tập đoàn ong, kiến được xuất hiện từ các gia đình nhỏ, trong đó có một con cái và con cháu của chúng. Đối với xã hội con người ở giai đoạn tiền sử cũng mang những nét tương tự.

Những “kinh nghiệm” tập tục lối sống của côn trùng, của con người đều di truyền cho các thế hệ con cái. Nhưng sự khác biệt cơ bản giữa lối sống xã hội của con người và của côn trùng là ở chỗ con người có khả năng thích nghi với mọi điều kiện và tình huống xảy ra trong môi trường. Sở dĩ con người có được khả năng này là do con người đã sử dụng khả năng học tập và tư duy trừu tượng của mình, chính vì vậy mà làm cho xã hội loài người trở nên mềm dẻo và linh hoạt. Còn đối với xã hội của côn trùng đã phân hoá chức năng của các thành viên rất chặt như những khuôn mẫu giúp cho xã hội của chúng hoạt động đồng bộ, song rất cứng nhắc.

Ngoài ra, do loài người có bộ óc phát triển, bàn tay lao động khéo léo, có ngôn ngữ và chữ viết nên đã đưa con người vượt xa tất cả các sinh vật khác và trở thành “chúa tể” của muôn loài.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :