Home / Trang Trại / Sinh quyển, sinh thái quyển là gì? các môi trường sống chính 

Sinh quyển, sinh thái quyển là gì? các môi trường sống chính 

/

Sinh quyển, sinh thái quyển là những môi trường sống cung cấp thực phẩm trên Trái Đất bởi trong hệ sinh thái đa dạng sinh học được phát triển mạnh mẽ.

sinh quyển là gì

1. Sinh quyển là gì?

 Sinh quyển là khoảng không gian của Trái đất, ở đó có sinh vật cư trú và sinh sống thường xuyên. Đó là một hệ sinh thái khổng lồ duy nhất, bao gồm tất cả các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước. Chúng gắn bó với nhau bằng chu trình vật chất và dòng năng lượng trên phạm vi toàn cầu.

Đại bộ phận sinh vật không sinh sống lên cao quá 50 – 100m. Ở độ cao cao hơn nữa số loài giảm đi, ở độ cao 1km chỉ có rất ít các loài sinh vật, còn ở độ cao 10 – 15km chỉ có một số vi khuẩn và bào tử nấm tồn tại. Nói chung, sinh vật không thể vượt ra khỏi tầng ozon. Tầng ozon có vai trò như một tấm áo giáp che chở cho sinh vật trên Trái đất không bị huỷ diệt.

Sinh quyển đã trải qua quá trình phát triển tiến hoà hàng tỉ năm để đạt trạng thái cân bằng ổn định. Ngày nay, con người và hoạt động của họ đang làm cho sinh quyển bị tổn thất, có hại cho muôn loài và cho chính con người.

2. Sinh thái quyển là gì?

Sinh thái quyển là tổng thể các thành phần vô cơ và sinh vật cấu thành sinh quyển, bao gồm lớp vỏ quả đất có sự sống và tổng thể các loài sinh vật sống ở đó. Lớp vỏ Trái đất được biến đổi thường xuyên do hoạt động sống của sinh vật trong sinh quyển, đồng thời chính nó cũng chịu sự tác động của những biến đổi của các nhân tố vô sinh của sinh quyển. Vì thế, những nhân tố vô sinh của sinh quyển và sinh vật sống trên đó đã tạo thành một hệ thống tự nhiên. Hệ thống này được duy trì bởi sự chuyển hoá vật chất và năng lượng giữa các thành phần của sinh quyển.

3. Các môi trường sống chính

Trên hành tinh có hai môi trường chính, đó là môi trường trên cạn và môi trường nước.

3.1. Môi trường ở trên cạn

Ở trên cạn thảm thực vật chiếm một sinh khối rất lớn và gắn liền với khí hậu địa phương. Tuy cơ sở để phân loại chính là hệ thực vật nhưng trong khu sinh học cũng bao gồm những thổ nhưỡng, đặc trưng cho điều kiện sống cục bộ của từng vùng và những giai đoạn phát triển mà ở đó có các dạng sống chiếm ưu thế. Chẳng hạn, quần xã thảo nguyên là giai đoạn sớm của khu sinh học rừng (biome rừng), còn rừng ở ngoại vi (bìa rừng) lại là một phần của biome thảo nguyên. Những loại động vật có khả năng vận động lại có quan hệ với nhau ở các tầng và ở các giai đoạn phát triển khác nhau của thảm thực vật. Chúng tham gia vào mọi bậc dinh dưỡng trong biome để tạo nên sự khép kín của các chu trình sinh địa hoá và hoàn thiện sự biến đổi của năng lượng.

Môi trường trên cạn đi từ địa cực về xích đạo có 8 biome lớn:

3.1.1. Đồng rêu

Bao quanh Bắc Cực. Đây là một đồng bằng không cây cối, nhiều đầm lầy giá lạnh băng tuyết. Nhiệt độ rất thấp, độ ngưng tụ hơi nước rất kém, mùa sinh trưởng của sinh vật rất ngắn nền đất bị đông cứng. Vì vậy, số lượng thực vật ít, chủ yếu là cỏ bông, rêu và địa y. Còn động vật đặc trưng cho vùng này là hươu, tuần lộc, thỏ, chó sói Bắc Cực, gấu trắng Bắc Cực, chim cánh cụt.

3.1.2. Rừng lá kim (Taiga)

Khu rừng này nằm kế sau đồng rêu ở phía Nam. Đất ở vùng này bị băng tuyết, nghèo muối dinh dưỡng. Trong vùng lắm đầm lầy, hồ, suối. Trong rừng thực vật gồm cây lá kim thường, xanh, thân thẳng như các loài thông. Dọc những nơi có nước là dương liễu, bạch dương, phong. Còn động vật thì đa dạng. Ngoài các loài côn trùng còn có các loài động vật bậc cao như thỏ, cáo, chó sói, gấu, linh miêu.

3.1.3. Rừng lá ôn đới

Đây là loại rừng phát triển mạnh ở phía đông Bắc Mỹ, Châu Âu và phía đông Châu Á. Ở đây có lượng mưa vừa phải và thời tiết ấm về mùa hè, song về mùa đông khí hậu trở nên khắc nghiệt. Rừng lá ôn đới có lá rụng vào thời gian lạnh trong năm. Lá khô rụng nhiều, tạo nên một thảm lá khô dày đặc phủ lên mặt đất làm cho lớp rêu không phát triển được, vì thế rêu thường mọc trên gốc cây.

Thành phần các loài cây của vùng này rất đa dạng về giống loài và cũng có thể được phân thành nhiều phân vùng. Chẳng hạn ở Bắc Mỹ có đại diện đặc trưng là thông trắng, thông đỏ, sến đỏ. Còn về hệ động vật thì giàu có cả về loài và số lượng, từ côn trùng đến thú lớn nhưng không có một loài nào chiếm ưu thế.

3.1.4. Rừng mưa nhiệt đới

Đây là thảm thực vật phát triển phong phú nhất trong các thảm thực vật trên Trái đất, đó là quê hương của các loài lim, lát, samu, tếch. Đặc trưng của rừng mưa nhiệt đới là phân tầng, thường có tới năm tầng, trên cùng là tầng ưa sáng với nhiều cây cao. Trong rừng có nhiều dây leo thân gỗ chằng chịt, có nhiều cây sống khí sinh, bì sinh.

Ví dụ, phổ biến trong rừng là cây “bóp cổ”. Cây bì sinh thân rỗ như tổ ong còn làm “nhà” cho kiến. Trong rừng cây thân gỗ, bì sinh, cây leo phủ kín không cho ánh sáng lọt xuống, cho nên trên mặt đất cây cỏ nghèo nàn, chỉ có những cây chịu bóng, nấm mốc, địa y mọc trên lá mục, trên thân cây.

Hệ động vật tương đối phong phú. Trên cây thì có khỉ, sóc vượn, cầy bay. Dưới đất là voi, lợn lòi, bò rừng, trâu rừng, hươu, hoãng, nai, gấu, hổ, báo.

3.1.5. Hoang mạc

Hoang mạc có ở miền nhiệt đới và ôn đới. Mưa ở đây rất hiếm và không đều, thường dưới 200mm. Vì thế thực vật rất nghèo, chỉ có một số ít cây thấp nhỏ, xơ xác. Và cũng chỉ có một ít loài động vật có xương sống có cỡ lớn như lạc đà một bướu, linh dương, báo sư tử, song các loài gặm nhấm sống trong đất thì lại phong phú

3.1.6. Thảo nguyên

Ở đây mùa hạ nóng và kéo dài, mùa đông thì đỡ lạnh có ít tuyệt. Mùa xuân khi tuyết tan thì đắt trở nên khổ. Đất thảo nguyên tốt, giàu mùn và muối khoáng. Trên thảo nguyên thảm thực vật chủ yếu là cỏ thấp, úa khô. Còn động vật ở đây có tính chất sống theo đàn, vận chuyển nhanh, bay giỏi, ngủ đông, ngủ hè, dự trữ thức ăn. Đại diện là bò bisông, ngựa hoang, lừa, sóc, chó sói đồng cỏ, chuột, sáo đất, chuột nhảy…

3.1.7. Sa van (rừng cỏ đới nóng)

Ở đây có đặc điểm là mưa ít, mùa mưa rất ngắn, còn mùa khô thì dài. Về mùa khô phần lớn cây cối bị rụng lá vì thiếu nước. Ở savan, cỏ mọc thành rừng, nhiều nhất là cỏ tranh lá dài, sắc nhọn, những cây to mọc thành nhóm hay đứng một mình, chung quanh cây to có bụi rậm hoặc cỏ cao.

Về động vật thì có những loài động vật như linh dương, ngựa vằn, hươu cao cổ, voi, tê giác, sư tử, báo, đà điểu, cào cào, châu chấu.

Hiện nay nhiều savan đã bị thay đổi lớn, đặc biệt do tập quán đốt rừng của con người. Ở Việt Nam, savan rải rác ở khắp nơi, có khi ngay ở giữa miền rừng rậm. Ví dụ, ở miền Đông Nam bộ có nhiều rừng cỏ cao mọc đầy dứa dại. Hoặc ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn, Lai Châu có nhiều rừng cỏ cao và ưu thế là cỏ tranh.

3.1.8. Rừng rậm nhiệt đới

Ở đây khí hậu nóng và ẩm. Nhiệt độ cao và gần như ổn định quanh năm. Lượng mưa cao, khoảng 1800 – 2000mm vì thế rừng nhiệt đới quanh năm xanh tốt, rậm rạp tạo thành nhiều tầng. Trong rừng ánh sáng Mặt trời ít khi chiếu rọi được xuống mặt đất, do đó, độ ẩm không khí cao tạo điều kiện cho sâu bọ phát triển.

Trong rừng có nhiều cây cao to, dưới gốc có “bạnh” trên thân có các loài phong lan, tầm gửi dây leo chằng chịt và có nhiều loại cây ưa bóng, họ Cà phê, họ Thài lài, họ Gừng.

Hệ động vật rất phong phú. Có nhiều loài sống trên cây ít khi xuống đất như khỉ, khỉ vượn, sóc bay, thỏ, gấu, báo… còn trên mặt đất có nhiều loài động vật cỡ lớn như voi, tê giác, trâu rừng, bò tót, linh dương, lợn lòi…

Trong những năm gần đây rừng nhiệt đới đã bị biến đổi bộ mặt do con người khai thác mạnh mẽ và không kế hoạch. Ở Việt Nam rừng chiếm một diện tích khá lớn, bao gồm rừng rậm, rừng thưa, rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn, rừng tre nứa.

3.2. Môi trường ở dưới nước

Trên hành tinh nước bao phủ 73% tổng diện tích (trong đó 71% là đại dương, 2% là nước ngọt), chiếm trên 97% tổng khối lượng nước.

3.2.1. Hệ sinh thái nước mặn

Sinh vật sống ở nước mặn thích ứng với nồng độ muối 30 – 38%. Hệ thực vật nước mặn rất nghèo, chỉ chủ yếu là vi khuẩn, tảo. Hệ động vật thì lại rất phong phú, có hầu hết ở các nhóm động vật trừ các nhóm động vật đặc trưng chủ yếu cho môi trường cạn.

Dựa vào cách vận chuyển mà có thể chia sinh vật ở nước thành các loại như sau:

Sinh vật nền đáy: thực vật nền đáy có tảo nâu, tảo đỏ, tảo lục, cỏ biển. Động vật có bọt biển, hải quỳ, cầu gai, cua, tôm, cá, ốc, sò.

Sinh vật nổi: vi khuẩn sống nổi, thực vật nổi, động vật nổi (sứa ống, sứa dù, sứa lược).

Sinh vật tự bơi: bò sát biển, thú.

Sự xâm nhập của ánh sáng xuống các tầng nước phụ thuộc vào độ trong của nước. Tầng trên (tầng sáng) là tầng có đủ các tia sáng từ đỏ tới tím, cho nên đảm bảo cho sự phát triển của thực vật. Tầng giữa (tầng ít sáng) là tầng chỉ có các tia sáng ngắn và cực ngắn nên thực vật không phát triển được. Tầng dưới (tầng tối) là tầng không có tia sáng nào xuống được.

Dựa vào nền vỏ bao quanh khối lượng nước hải dương từ trên xuống dưới có thể phân thành những vùng như: thềm lục địa (tương đối bằng phẳng, ít dốc, ở độ sâu 200 – 500m) sườn dốc lục địa (độ sâu 500 – 3000m) nền đại dương (sâu từ 3000m trở xuống) và vùng đáy cực sâu (có khi có những khe rất sâu tới 11034m).

Nếu dựa theo chiều ngang hải dương được phân thành hai vùng lớn: vùng ven bờ (nước không sâu, có ánh sáng, chịu ảnh hưởng của thuỷ triều và sóng nước) và vùng sâu.

Quần xã vùng ven bờ thay đổi tuỳ theo vùng hải dương. Ở đây có sự biến động của nhiệt độ và độ mặn rất lớn, đặc biệt là những vùng biển gần cửa sông. Vì vậy, sinh vật sống ở vùng cửa sông phải có khả năng chống chọi với điều kiện môi trường bất lợi như ngập nước triều mặn, đất bùn lỏng thiếu oxy. Sinh vật vùng ven bờ có chu kỳ hoạt động ngày đêm thích ứng với hoạt động của nước triều và có khả năng chịu đựng được trong điều kiện thiếu nước khi nước triều rút. Nhìn chung, độ đa dạng của quần xã ven bờ cao hơn hẳn quần xã vùng khơi, không những thế ở đây còn có sự phân bố theo tầng của tảo đa bào và nhất là tảo đơn bào.

Ở vùng khơi, hệ thực vật gồm các thực vật nổi, chúng thực hiện chu kỳ di cư hàng ngày theo đường thẳng đứng xuống dưới tầng nước sâu. Hệ động vật chủ yếu là động vật nổi, nhưng càng xuống sâu thì số lượng loài càng giảm. Chằng hạn, cá có ở độ sâu 6000m; tôm, cua – 8000m, mực – 9000m.

Nếu dựa vào chiều sâu có thể chia hải dương thành hai môi trường sống, đó là môi trường sống ở tầng đáy và môi trường sống ở tầng nước trên.

3.2.2. Hệ sinh thái nước ngọt

Sinh vật sống ở nước ngọt thích ứng với nồng độ muối thấp (khoảng 0,05 – 5%) vì vậy kém đa dạng. Trong môi trường này động vật màng nước (chuyên sống quanh màng nước hoặc trên hoặc dưới màng nước) có số lượng phong phú. Ví dụ như con cất vó, bọ vẽ, cà niếng, ấu trùng muỗi. Còn thực vật có kích thước lớn, có hoa thì phong phú hơn ở nước mặn. Ngoài ra, trong môi trường nước ngọt tảo lam, tảo lục rất phát triển.

Hệ sinh thái nước ngọt có thể chia thành hệ sinh thái nước đứng (đầm lầy, ao, hồ) và hệ sinh thái nước chảy (sông, suối).

3.2.3. Hệ sinh thái nước đứng

Ở các mực nước đứng có kích thước càng nhỏ, thì càng ổn định vì nhiệt độ của nước phụ thuộc vào nhiệt độ của không khí. Không những thế, khi trời nóng nực nước có thể bị khô cạn, độ mặn tăng, còn khi mưa rào thì có thể bị ngập nước.

3.2.4. Hệ sinh thái đầm

Đầm thường bị khô hạn theo từng thời kỳ nhất định. Vì thế, sinh vật thường có khả năng thích nghi cao với sự khô hạn hoặc chúng phải di cư sang các vực nước khác, hoặc sống tiềm sinh. Trong các tầng nước, nhiệt độ và lượng muối khoáng được phân bố đồng đều dưới tác dụng của gió. Vì vậy, ở vùng bờ thường có những cây thủy sinh có rễ ăn xuống đáy, còn ở trên mặt có những thực vật nổi bồng bềnh như các loại bèo. Hệ động vật bao gồm: động vật nổi, động vật đáy và những động vật tự bơi.

3.2.5. Hệ sinh thái hồ

Ở hồ ánh sáng đủ chiếu được vào tầng nước trên, do đó vực nước phân thành hai lớp: lớp trên và lớp dưới. Lớp trên được chiếu sáng, nhiệt độ của nước thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ không khí, thực vật nổi phong phú. Lớp dưới thiếu ánh sáng nhưng nhiệt độ ổn định (4°C).

3.2.6. Hệ sinh thái nước chảy (sông suối)

Ở đây có chế độ nước chảy, vì vậy chế độ nhiệt, muối khoáng nói chung là đồng đều, nhưng thay đổi theo mùa. Do đó, quần xã thuỷ sinh có thành phần không đồng nhất và thay đổi tuỳ theo thượng, trung và hạ lưu sông. Về thành phần loài gồm rong, rêu, vi khuẩn, tảo, ấu trùng sâu bọ, giáp xác nhỏ… nhưng chúng kém phát triển. Ở những nơi có dòng chảy mạnh thì nhiệt độ của nước thấp, nồng độ oxy cao, thực vật ít, động vật nổi không phát triển nhưng sinh vật đáy phát triển (như rong mái chèo). Ở những nơi nước chảy chậm thì hệ thực vật phát triển phong phú với nhiều loài thực vật có hoa, động vật nổi xuất hiện nhiều giống như quần xã ao hồ.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :