Home / Trang Trại / Quần xã sinh vật là gì? cấu trúc, tính chất, ví dụ, mối quan hệ

Quần xã sinh vật là gì? cấu trúc, tính chất, ví dụ, mối quan hệ

/

Một quần thể không thể tự hoàn thành chức năng sống của mình, nó không thể tồn tại một cách độc lập mà phải dựa vào những quần thể khác để tạo nên một tổ hợp các quần thể thuộc những loài khác nhau nhằm cho ra đời một tổ chức cao hơn gọi là quần xã sinh vật.

quần xã sinh vật là gì

1. Khái niệm về quần xã sinh vật

Quần xã sinh vật là một tập hợp sinh vật cùng sống trong một không gian nhất định là sinh cảnh, được hình thành trong một quá trình, liên hệ với nhau do tính chất chung nhất các đặc trưng sinh thái, biểu hiện đặc tính thích nghi giữa sinh vật và ngoại cảnh.

Như vậy, quần xã sinh vật có thể được xem như là một tổ hợp của các quần thể khác loài với những mối tương tác giữa chúng, sống trong một vùng địa lý xác định (hay sinh cảnh), hay tổ hợp của các loài mà chức năng sinh thái và sự biến động của chúng đều diễn ra trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.

Quần xã không phải là số cộng đơn thuần của các quần thể mà nó bao gồm các quần thể cũng như các mối quan hệ giữa chúng để tạo nên những “đặc tính nổi trội” của quần xã (Begon et al, 1995).

Trong tự nhiên, các quần xã sinh vật được gọi theo nhiều cách:

– Gọi theo địa điểm phân bố của quần xã như quần xã sinh vật bãi triều, quần xã sinh vật núi đá vôi…

– Gọi theo dạng sống như quần xã sinh vật nổi, quần xã sinh vật tự bơi.

– Gọi tên theo chủng loại phát sinh như quần xã sinh vật ven hồ, quần xã động vật sa mạc.

– Gọi tên quần xã theo loài hay nhóm loài sinh vật ưu thế như quần xã sinh vật đồng cỏ (cỏ là cây ưu thế), quần xã cây bụi.

Nói chung, ranh giới giữa các quần xã rất khó phân định một cách rạch ròi mà chúng thường gối lên nhau, tạo nên những dạng chuyển tiếp hay vùng đệm giữa các quần xã chính. Ví dụ: bìa rừng hay bãi lầy là vùng đệm của quần xã rừng và quần xã đồng ruộng. Ở vùng chuyển tiếp, ngoài những loài có mặt ở cả hai quần xã còn có những loài riêng. Chính vì thế, số loài ở vùng chuyển tiếp đôi khi phong phú hơn và số lượng loài nhiều hơn so với ở chính các quần xã.

2. Cấu trúc của quần xã sinh vật

Quần xã có cấu trúc đặc trưng, vì thế cần giúp cho nó thực hiện được đầy đủ các chức năng sống để tồn tại và phát triển ổn định. Cấu trúc của quần xã được thể hiện ở các vấn đề sau:

2.1. Đa dạng về loài, về cấu trúc và về gen

Khuynh hướng của các quần xã là đạt đến sự đa dạng về loài về cấu trúc, về gen cũng như về các mối quan hệ giữa chúng.

Sự đa dạng về loài được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản. Đó là “sự giàu có” hay độ “phong phú” về loài và tính “bình quân” (san bằng) dựa trên độ phong phú tương đối và vị trí của nó trong cấu trúc của quần xã khi đánh giá tính đa dạng của quần xã, người ta không chỉ sử dụng các chỉ số hình thái và sinh thái mà còn cả các chỉ số về gen và các giai đoạn, các pha khác nhau của chu kỳ sống, của các dạng sống khác nhau thường chiếm những ổ sinh thái đặc trưng, tạo nên tính đa dạng chung của toàn hệ thống.

2.2. Cấu trúc về không gian của quần xã

Các cá thể trong quần xã đều phản ứng một cách thích nghi với sự biến động của môi trường để tồn tại. Các yếu tố của môi trường lại phân bố không đồng đều trong không gian và biến động Talla theo thời gian. Vì thế, chúng ảnh hưởng đến các cấu trúc về không gian của quần xã theo chiều ngang cũng như chiều thẳng đứng.

Trong các cấu trúc về không gian của quần xã thì cấu trúc đứng cần đặc biệt chú ý vì mỗi động vật có thể sống trong nhiều tầng sinh thái và không gian như chim, côn trùng.

2.3. Cấu trúc về dinh dưỡng

Trong quần xã các nhóm sinh vật được sắp xếp theo chức năng dinh dưỡng, tạo nên cấu trúc dinh dưỡng của quần xã. Cấu trúc này phản ánh hoạt động chức năng của quần xã, nhờ vậy vật chất được chu chuyển và năng lượng được biến đổi..

3. Mối quan hệ giữa các loài trong quần xã

3.1. Quan hệ giữa động vật và thực vật

Đối với đời sống của động vật thì thực vật có vai trò rất quan trọng. Nó là nguồn thức ăn cho động vật ăn thực vật hay hỗn thực, là nơi ở hoặc nơi sinh đẻ. Tuy vậy, cũng có nhiều loài (như nấm) gây bệnh cho động vật. Đồng thời, ngay trong mối quan hệ này, thực vật đã hình thành những thích nghi tương ứng như sự tự vệ (cây có vỏ dày, có gai, có nhựa đắng), sự thụ phấn (cấu tạo của hoa mùi thơm, màu sắc). Ngoài ra động vật giúp thực vật trong việc thụ phấn, phát tán hạt (đối với thú ăn quả), diệt sâu bọ.

3.2. Quan hệ cạnh tranh

Quan hệ cạnh tranh giữa các loại thường xảy ra khốc liệt hơn so với cạnh tranh cùng loài, đặc biệt là khi các loài khác nhau có cùng nhu cầu về thức ăn, nơi ở và về những điều kiện khác của sự sống. Những loài càng có quan hệ sinh thái gần nhau thì giữa chúng có quan hệ cạnh tranh càng gay gắt. Các nhà sinh thái cho rằng: quan hệ cạnh tranh đóng vai trò chủ yếu trong mối quan hệ của các loài trong quần xã vì nó ảnh hưởng đến sự biến động số lượng, sự phân bố địa lý và nơi ở, sự phân hoá về mặt hình thái..

3.3. Quan hệ vật ăn thịt – con mồi

Mối quan hệ vật ăn thịt – con mồi tạo nên mắt xích thức ăn trong thiên nhiên, thông qua đó vật chất được quay vòng và năng lượng được biến đổi. Vì thế, quần xã sinh vật và các hệ sinh thái mới được duy trì và phát triển một cách bền vững.

Quan hệ vật ăn thịt – con mồi là quan hệ trong đó động vật ăn thịt là động vật sử dụng những loài động vật khác làm thức ăn. Vì vậy:

Vật ăn thịt có ảnh hưởng đến số lượng con mồi, nhưng vật ăn thịt lại thường săn bắt con mồi yếu, bệnh tật. Do vậy, hiện tượng này trong một giới hạn nào đó lại tác động chọn lọc được cá thể khỏe cho quần thể.

Đa số vật ăn thịt thuộc nhóm rộng thực nên chúng thường không bị lệ thuộc vào một loại mồi. Còn nếu vật ăn thịt thuộc nhóm hẹp thực thì khi con mồi đặc trưng bị thiếu số lượng sẽ ảnh hưởng đến vật ăn thịt.

– Khi mật độ con mồi trở nên quá thấp, việc tìm mồi của vật ăn thịt trở nên khó khăn. Vì thế một số vật ăn thịt đã bị tử vong, trong khi đó những con mồi sống sót sẽ tiếp tục phát triển, số lượng của chúng tăng lên nhanh chóng. Từ đó tạo điều kiện cho những con vật ăn thịt sống sót phát triển số lượng.

– Khi vật ăn thịt và con mồi có cùng một tiềm năng sinh học (khả năng sinh sản tương tự) thì tác dụng của vật ăn thịt lên con mồi là lớn. Còn nếu tiềm năng sinh học của vật ăn thịt thấp hơn con mồi thì tác dụng của nó lên con mồi sẽ cố định.

– Sự cân bằng sinh học trong tự nhiên là sự cân bằng tương đối về số lượng các loài trong quần xã, trong mối quan hệ giữa vật ăn thịt và con mồi và những quan hệ sinh thái khác loài khác. Vì thế, nếu số lượng loài trong quần xã bị thay đổi nhiều hay ít thì quần xã đó bị mất thế cân bằng hoặc nhiều hoặc ít. Sau đó thế cân bằng lại được tái lập nhưng ở dưới một dạng khác.

– Sử dụng một động vật như vật ăn thịt hoặc vật ký sinh vào việc tiêu diệt những động vật có hại cho nông, lâm nghiệp gọi là biện pháp khống chế sinh học. Ví dụ, ong mắt đỏ diệt sâu đục thân lúa. Biện pháp này thường có hiệu quả tốt nhưng khi dùng nó phải thận trọng vì khi loài có hại bị tiêu diệt thì các loài gây hại khác là con mồi của loài này tha hồ phát triển.

– Quan hệ giữa vật ăn thịt – con mồi trong nhiều trường hợp còn ảnh hưởng đến sự trao đổi cá thể trong những sinh cảnh khác nhau. Chẳng hạn, khi con mồi phải trốn chạy vật ăn thịt, cũng như vật ăn thịt trong khi truy kích con mồi phải qua nhiều sinh cảnh. Do đó, có sự trao đổi vật ăn thịt và con mồi trong nhiều quần xã.

– Vật ăn thịt và con mồi có những thích nghi nhất định để bắt mồi và tự vệ có hiệu quả.

Nhìn chung, trong mối quan hệ vật ăn thịt – con mồi thì vật ăn thịt khai thác con mồi làm thức ăn, còn con mồi nuôi sống vật ăn thịt. Mối quan hệ này không chỉ tồn tại lâu bền trong thiên nhiên mà cũng là một trong những động lực giúp cho vật ăn thịt và con mồi không ngừng tiến hoá. Trong quá trình này, thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên, vật dữ càng “khôn” hơn để khai thác con mồi có hiệu quả, còn con mồi “sắc sảo” hơn để bảo vệ mình.

3.4. Quan hệ ký sinh – vật chủ

Quan hệ ký sinh – vật chủ là sự biến thể, là trường hợp đặc biệt của mối quan hệ vật ăn thịt – con mồi. Đây là mối quan hệ, trong đó loài này (vật ký sinh) sống nhờ vào mô hoặc thức ăn được tiêu hoá của loài khác (vật chủ). Vật ký sinh có thể là nấm vi khuẩn, sán lá, sâu bọ… vật chủ có thể là thực vật, các loài động vật có xương sống (trong đó có con người)…

Quan hệ ký sinh – vật chủ khác với quan hệ vật ăn thịt – con mồi ở chỗ:

– Vật ký sinh không giết chết ngay vật chủ mà nó dinh dưỡng nhờ vào cơ thể vật chủ nhiều lần làm cho cơ thể vật chủ yếu dần đi.

– Vật ký sinh không có đời sống tự do mà chuyên hoá hẹp đối với vật chủ.

– Vật ký sinh có tiềm năng sinh học cao hơn vật ăn thịt.

– Vật ký sinh ngoại lai thường gây hại cho vật chủ lớn hơn vật ký sinh địa phương.

– Tỷ lệ nhiễm ký sinh của vật chủ thay đổi phụ thuộc vào loài, tuổi, tính đực, cái nơi phân bố của vật chủ và theo mùa.

3.5. Quan hệ ức chế cảm nhiễm

Quan hệ ức chế cảm nhiễm là quan hệ giữa các loài sinh vật, trong đó loài này ức chế sự phát triển hoặc sự sinh sản của loài kia bằng cách tiết vào môi trường những chất độc. Chẳng hạn, rễ của nhiều loài thực vật tiết ra chất phytonxit, chất này có tác dụng gây kìm hãm sự phát triển của những loài thực vật khác.

3.6. Quan hệ cộng sinh (hỗ sinh)

Đây là mối quan hệ hợp tác giữa hai loài sinh vật, trong đó cả hai bên đều có lợi, song mỗi bên chỉ có thể sống, phát triển được dựa vào sự hợp tác của bên kia. Mối quan hệ này phổ biến ở nhiều loài sinh vật.

3.6.1. Cộng sinh giữa thực vật và nấm hoại vi khuẩn

Chẳng hạn, nấm và tảo sống cộng sinh với nhau chặt chẽ tới mức tạo nên một dạng sống tưởng như một ngành phân loại độc lập, đó là địa y. Ngoài ra, còn có sự cộng sinh của vi khuẩn cố định đạm sống ở nốt sần của rễ cây họ đậu.

3.6.2. Cộng sinh giữa động vật và thực vật

Chẳng hạn, cộng sinh giữa vi khuẩn, nấm men sống trong ống tiêu hoá của sâu bọ. Chúng góp phần tăng cường tiêu hoá xenlulo.

3.6.3. Cộng sinh giữa động vật và động vật

Chẳng hạn, cộng sinh giữa kiến và ấu trùng bướm. Kiến ăn chất đường do ấu trùng bướm tiết ra, còn ấu trùng bướm được kiến bảo vệ khỏi các loài ăn thịt và ký sinh.

3.7. Quan hệ hợp tác

Mối quan hệ này cũng giống như quan hệ cộng sinh, nhưng hai loài không nhất thiết phải thường xuyên sống với nhau, khi sống tách riêng chúng vẫn tồn tại được. Ví dụ: Quan hệ hợp tác giữa chim sáo và trâu. Sự hợp tác này giúp cho mỗi bên được bảo vệ có hiệu quả hơn trước kẻ thù.

3.8. Quan hệ hội sinh

Đây là mối quan hệ giữa hai loài sinh vật, nhưng chỉ có một loài có lợi cần thiết, còn loài kia không có lợi và cũng không có hại gì. Ví dụ: Sâu bọ sống nhờ trong tổ kiến mối (hiện tượng ở gửi), cây biểu sinh như địa y sử dụng cành cây làm giá thể. Trong tự nhiên dạng quan hệ này rất phổ biến khi vật này sử dụng vật khác như một giá thể để bám, làm phương tiện vận động, kiếm ăn hay làm nơi sinh sản.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :