Home / Trang Trại / Nước ảnh hưởng đến cơ thể động vật, sinh vật như thế nào

Nước ảnh hưởng đến cơ thể động vật, sinh vật như thế nào

/

Nước đối với sinh vật là sự sống còn, là điều kiện sinh tồn. Nước trong cơ thể sinh vật chiếm trung bình 2/3 trọng lượng chung, còn ở động thực vật thuỷ sinh 90 – 98%.

ảnh hưởng của nước

1. Ý nghĩa của nước

Nước đối với sinh vật là sự sống còn, là điều kiện sinh tồn. Nước trong cơ thể sinh vật chiếm trung bình 2/3 trọng lượng chung, còn ở động thực vật thuỷ sinh 90 – 98%.

Nước tham gia vào hầu hết các hoạt động sống của sinh vật. Nước là nguyên liệu cho quang hợp, là phương tiện vận chuyển và trao đổi khoáng trong cây. Cây xanh luôn luôn hút và thoát nước để tồn tại và phát triển.

Nước là phương tiện vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật. Nước tham gia trao đổi năng lượng điều hoà nhiệt độ của cơ thể. Nước tham gia quá trình sinh sản và phát tán nòi giống và là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.

Dòng nước và mức độ chênh lệch thế năng nước giữa rễ, đất và lá cây (thế năng nước tính bằng MPa - megapascan)
Dòng nước và mức độ chênh lệch thế năng nước giữa rễ, đất và lá cây (thế năng nước tính bằng MPa – megapascan)

2. Các loại nước chính và độ ẩm không khí

2.1. Các loại nước chính bao gồm

– Nước ngọt (nước mưa, nước sông), nước mặn (nước biển, nước lợ).

– Nước mưa: tương đối nguyên chất, có bụi và một ít chất dưới dạng khí pH = 4,4 – 4,9.

– Nước sông: chứa nhiều \mathrm{PO}_4^{-3}, \mathrm{NH}_4^{+}, \mathrm{NO}_2, \mathrm{NO}_3, \mathrm{SiO}_2, \mathrm{Ca}^{+2} và một lượng lớn hữu cơ và phù sa.

– Nước mặn: có hầu hết các nguyên tố hoá học đã phát hiện trong vũ trụ.

– Nước lợ là sự xáo trộn của nước ngọt và nước mặn.

Khi nhiệt độ hạ thấp, hơi nước trong không khí sẽ đọng lại thành các dạng mù, sương, mưa, tuyết.

Mù gồm những hạt nước nhỏ li ti xuất hiện lúc sáng sớm, mù có tác dụng làm tăng độ ẩm không khí, tạo điều kiện thuận lợi cho loài sinh vật sinh trưởng.

Sương thường hình thành vào ban đêm, có tác dụng cung cấp nước cho nhiều loài sinh vật sống ở nơi khô hạn, núi đá.

Mưa có vai trò quan trọng trong cung cấp nước cho sinh vật. Có nhiều kiểu mưa. Mưa rào là kiểu mưa lớn tập trung trong khoảng thời gian ngắn nên có vai trò quan trọng cung cấp nước trên mặt đất, nhưng cũng dễ gây ra xói mòn đất và lũ lụt. Kiểu mưa này thường ở vùng nhiệt đới. Mưa phùn có lượng nước cung cấp tuy ít nhưng do thời gian mưa kéo dài nên duy trì được độ ẩm cho đất và không khí. Mưa đá thường xuất hiện vào mùa nóng, gây tác hại lớn cho sinh vật và nhà cửa.

Tuyết rơi vào những ngày đông ở vùng ôn đới. Lớp tuyết do có tác dụng như các tấm thảm xốp cách nhiệt và bảo vệ cho chồi cây và nhiều loại động vật sống dưới đó. Khi tuyết tan nó cũng cung cấp một lượng nước đáng kể cho đất

2.2. Độ ẩm không khí

Dưới tác động của nhiệt độ, nước luôn bốc hơi từ mọi mặt tạo nên độ ẩm không khí. 

Độ ẩm không khí được xác định bằng hai đại lượng là độ ẩm tương đối và độ ẩm tuyệt đối.

Độ ẩm tương đối (RH) là tỉ lệ phần trăm áp suất hơi nước có trong không khí với áp suất hơi nước cực đại có thể có trong không khí trong cùng một điều kiện nhiệt độ.

Độ ẩm tương đối đo được bằng các loại ẩm kế, kể cả ẩm kế tự ghi.

Trong sinh thái học, ngoài việc đo độ ẩm tương đối, người ta còn đo “độ hụt bão hoà”. Độ hụt bão hoà là hiệu số giữa áp suất hơi nước trong điều kiện bão hoà với áp suất hơi nước trong thực tế.

Độ ẩm tuyệt đối là khối lượng hơi nước bão hoà trong một đơn vị không khí (số gam nước chứa trong 1kg không khí) Độ ẩm tuyệt đối có thể tính theo công thức sau: \mathrm{AH}=\frac{0,623 \times 1293 \times \mathrm{x}}{760(1+\propto t)}=\frac{1,062}{1+\propto t}\left(g / \mathrm{m}^3\right)

Trong đó:

0,623 là tỉ trọng hơi nước so với không khí.

1293: là khối lượng khô của không khí ở t°C và áp suất 760mmHg.

∞ : là hệ số nở của các chất khí (∞ = 1/273).

t: là nhiệt độ của không khí.

e: là áp suất hơi nước chứa trong không khí tính bằng mmHg

Độ ẩm không khí ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật. Mỗi loài sinh vật có một giới hạn chịu đựng riêng đối với độ ẩm. Ví dụ cây phi lao chịu được độ ẩm tương đối thấp. Muỗi Culex Fatigans chỉ hút máu trong điều kiện độ ẩm tương đối từ 40% trở lên. Nhiều loài động vật tuy sống trên cạn nhưng vòng đời không thể hoàn toàn tách khỏi môi trường nước như các loài lưỡng cư (ếch nhái), muỗi hoặc phải sống trong môi trường ẩm ướt như giun đất, ốc sên.

3. Đặc điểm cơ bản của môi trường nước

3.1. Độ đậm đặc của môi trường nước

Độ đậm đặc của môi trường nước có tác dụng nâng đỡ cho các cơ thể sống. Vì vậy, sinh vật sống ở trong nước có những đặc điểm như sau:

– Tăng cường bề mặt tiếp xúc của cơ thể với nước như cơ thể có dạng dẹp, kéo dài, có nhiều mấu. Ví dụ: lá cây nong tằm (Victoria regia) sống trong các ao hồ vùng sông (Amazon) có lá lớn đường kính 1-1,2m nổi lên mặt nước. Các yếu tố cơ trong cây kém phát triển và thường tập trung ở phần trung tâm có tác dụng nâng đỡ và tạo nên nhiều khoảng trống chứa khí.

– Ở nhiều loài động vật như cá trích, cá thu, cá mập có hệ cơ phát triển và mình thon nhọn có tác dụng hạn chế sức cản của nước nên chúng bơi rất nhanh.

Cơ thể thực vật và động vật đều giảm tỉ trọng cơ thể bằng cách tích lũy lipid hoặc có túi hơi. Chẳng hạn tảo silic dự trữ nhiều giọt dầu. Nhiều loại động vật có phồng khí như loài thân mềm hoặc nhiều loài động vật sống ở nước có ống xiphông như loài sứa nhờ vậy mà chúng trôi nổi được trong nước một cách dễ dàng.

3.2. Lượng oxy trong nước

Oxy có trong nước chủ yếu nhờ hoạt động quang hợp của thực vật thuỷ sinh và nhờ sự khuếch tán từ lớp khí bề mặt. Vì vậy lớp nước ở trên mặt giàu oxy hơn lớp nước ở sâu.

Sinh vật trong nước hấp thụ oxy qua cơ quan chuyên hoá ở động vật như màng, phổi. Đối với thực vật sống chìm trong nước, trên cơ thể không có lỗ khí nên không khí thấm qua bề mặt cơ thể. Ví dụ: ở lá súng mặt trên tiếp xúc với không khí có lỗ khí, còn mặt phía dưới tiếp xúc với nước không có lỗ khí.

Đối với động vật hấp thụ oxy qua da thường có da mỏng. Ví dụ: cá chạch hấp thụ trung bình 63% oxy qua da. Một số động vật khi thiếu oxy cơ thể kéo dài ra như giun, thuỷ tức… để làm tăng bộ mặt hô hấp oxy. Còn trong những động vật ít di chuyển thường cử động vây hoặc lắc lư để tăng khả năng hấp thụ oxy. Ngoài ra khi thiếu oxy nhiều loài sinh vật ngoi đầu lên mặt nước để thở, tránh bị chết ngạt.

3.3.  Nhiệt độ của nước

Nhiệt độ trong nước tương đối ổn định nên sinh vật sống trong nước thường là sinh vật chịu nhiệt hẹp, càng xuống sâu nhiệt độ trong nước càng ổn định.

Ngoài ra còn có một số loài sinh vật như vi khuẩn, tảo có thể tồn tại được với nhiệt độ trong nước khoảng từ 65-90°C của các suối nước nóng, hoặc trong các vùng nước đóng băng có nhiệt độ rất thấp khoảng 0°C.

3.4. Ánh sáng trong nước

Ánh sáng được phân bố trong nước theo các lớp nông sâu tuỳ theo độ dài sóng khác nhau của tia sáng. Tia sáng đỏ phân bố ở lớp nước trên cùng rồi đến da cam, vàng, lục lam cuối cùng là tia xanh tím. Sự phân bố không đồng đều các tia sáng là nguyên nhân tạo ra sự phân bố khác nhau theo chiều sâu lớp nước của sinh vật.

Đối với thực vật, phần lớn cây hạt kín, tảo lục phân bố ở vùng nước nông vì chúng hấp thụ vùng tia sáng đỏ. Đối với động vật, màu sắc của nó cũng được phân bố theo sự phân bố của các tia sáng trong nước. Chẳng hạn động vật sống ở vùng thuỷ triều có màu sắc sặc sỡ nhất, động vật ở dưới sâu hoặc ở trong hang có màu tối. Nhiều loài động vật có khả năng phát sáng tùy vào lượng ánh sáng yếu ớt trong nước. Hoặc nhiều loài động vật đã sử dụng âm thanh làm phương tiện định hướng (ví dụ, con sứa có thể nhận biết được biến đổi của nhịp sống và kịp thời lặn xuống sâu để tránh bão). Hoặc nhiều loài động vật dùng âm thanh để liên lạc trong quần thể.

Ví dụ: tôm, cua cọ sát vào các phần cơ thể để phát ra âm thanh, cá phát ra âm thanh nhờ chuyển động các bộ phận răng, hầu, hàm, vây… Ngoài ra hiện nay có một số các loài cá có khả năng phát sóng điện từ trong nước để liên lạc và tìm mồi.

3.5. Độ mặn muối của nước

Độ mặn của nước là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phân bố và mức độ phong phú của các loài thuỷ sinh. Tùy theo khả năng chịu đựng sự biến đổi của độ mặn mà người ta chia sinh vật thành hai nhóm: nhóm chịu muối rộng và nhóm chịu muối hẹp. Các sinh vật thuộc nhóm chịu muối hẹp khi tăng hoặc giảm độ mặn một chút thì chúng không phát triển bình thường, ví dụ như các loài thuộc chỉ Thống (Pinus) và một số loài cá nước ngọt.

4. Sự cân bằng của nước ở sinh vật và sự thích nghi của chúng với chế độ nước trên cạn

4.1. Đối với thực vật

Để tồn tại và phát triển, các cơ thể sống đều có phương thức để duy trì sự cân bằng nước trong cơ thể. Thực vật cân bằng nước thông qua sự điều chỉnh hài hòa giữa ba quá trình:

– Hút nước ở rễ cây.

– Vận chuyển và tích lũy nước trong cây.

– Thải nước qua cơ quan thoát hơi nước trên lá và thân cây Khả năng điều chỉnh này khác nhau giữa các loài cây. Cây lấy nước từ đất qua hệ thống rễ, nhưng hầu như (khoảng 97-99%) nước bị thoát khỏi bề mặt lá (hiện tượng thoát hơi nước). Nước thoát khỏi cây mới tạo nên “dòng nước” mang muối dinh dưỡng từ môi trường ngoài lên lá để thực vật tổng hợp các chất hữu cơ trong quá trình quang hợp. Nếu nước và muối khoáng không bị hạn chế thì sự tăng trưởng của thực vật trên mặt đất tỉ lệ thuận với nguồn năng lượng trải xuống Trái đất. Nhưng phần lớn năng lượng đó biến thành nhiệt để đảm bảo cho sự thoát hơi nước một cách ổn định. Do đó, sự tăng trưởng của thực vật tỉ lệ thuận với sự thoát hơi nước. Ngoài ra sự thoát hơi nước còn có tác dụng làm mát lá, tránh được sự huỷ hoạt động của enzym để tham gia vào quá trình quang hợp.

Sở dĩ cây có khả năng hút và tích lũy nước trong cơ thể là nhờ giữ được mức độ chênh lệch thế năng nước giữa các bộ phận của cây (như : rễ, thân, lá) và môi trường đất xung quanh rễ cây. Độ chênh lệch này càng lớn thì lực hút nước của cây càng mạnh. Khi cây sống trong môi trường khô hạn, rễ cây phải có sức hút nước lớn mới đủ để hút được lượng nước ít ỏi có trong đất vào trong cây. Trong điều kiện lượng mưa dự trữ ở xung quanh đất không đủ thì rễ cây sẽ tăng cường diện tích tiếp xúc bằng cách sinh trưởng nhanh, đâm nhiều nhánh và lan ra xa.

Nước trong đất bổ sung thông qua nước mưa, băng tuyết và nước mao dẫn từ dưới lên tạo ra độ ẩm của đất. Đất xốp có nhiều khe hở làm cho đất thoáng khí, nước dễ mao dẫn vì thế rễ mới có thể hút được nước và muối khoáng. Nếu khe đất có đường kính nhỏ hơn 0,2-0,8mm thì rễ cây không thể xâm nhập được. Vì vậy đất càng mịn thì khả năng giữ nước càng tốt nhưng càng yếu khí, cây vẫn bị chết.

Đối với thực vật bậc thấp, chúng thường lấy nước ngầm qua toàn bộ bề mặt cơ thể. Còn đối với thực vật bậc cao thì chúng có nhiều cách lấy nước vào cơ thể. Chẳng hạn, ngành Rêu lấy nước trong đất bằng rễ giả; một số dương xỉ lấy nước bằng cách ngấm qua lá mỏng; các loài thuộc họ Lan hút hơi nước qua rễ trong không khí, một số loài họ Dứa, sống kí sinh trên cây, chúng lấy nước nhờ các lớp lông hình vảy trên lá hút sương và mù, còn rễ chỉ làm nhiệm vụ bám vào giá thể còn các ngành khác của thực vật bậc cao dùng rễ thật để hút nước ở trong đất.

Nước khi vào trong cơ thể sẽ theo mạch gỗ đi tới các cơ quan. Trong đó chỉ có 5 phần nghìn lượng nước được dùng cho quá trình quang hợp. Phần còn lại dùng để duy trì sức trương, nước của tế bào và lượng nước thừa sẽ được thoát ra ngoài dưới dạng hơi nước qua lỗ khí. Lỗ khí là bộ phận rất nhạy cảm với sự thiếu nước trong cây, khi thiếu nước lỗ khí đọng lại làm cho sự thoát hơi nước giảm.

Như vậy, sự cân bằng nước ở thực vật chỉ được đảm bảo khi ba quá trình hấp thụ nước, dẫn truyền và thoát hơi nước được phối hợp nhịp nhàng.

Theo nhu cầu về nước, người ta chia thực vật thành bốn nhóm như sau:

4.2. Nhóm cây ngập nước định kỳ

Gồm các loài cây sống trên đất bùn ở dọc sông, ven bờ biển, vùng cửa sông chịu tác động của thuỷ triều. Đất ngập nước, đôi khi chỉ là bùn lỏng thiếu oxy. Đối với đất ven biển có lẫn nhiều cát sỏi, nước có độ mặn cao. Ở các bãi lầy ngập mặn ven biển, cửa sông vùng nhiệt đới có nhiều loài cây bụi, cây gỗ mọc thành rừng ngập mặn. Những cây ở rừng ngập mặn có đặc tính thích nghi như: có bộ rễ rất phát triển để giúp cho cây có khả năng đứng vững trên lớp đất mềm, lá cứng đôi khi dày lên do có mô chứa nước phát triển. Chính các mô chứa nước này có tác dụng làm giảm độ muối trương lá.Ví dụ các cây thuộc chi Mắm, chi Đước… Còn ở những đầm, hồ, ao, ngập nước ngọt thường gặp các cây gỗ như cây bụt mọc có rễ hô hấp, cây xanh có nhiều rễ phụ mọc từ thân, cành.

4.3. Nhóm cây ưa ẩm

Bao gồm những cây sống trên đất ẩm như bờ ruộng, bờ ao, sông suối trong các rừng ẩm. Các cây này không chịu được thiếu nước. Có hai loại cây thuộc loại này thường gặp trong rừng ẩm, bờ suối, hốc núi đá vôi, trong hang. Các cây này thường lá có ít lỗ khí, nhưng lỗ khí có cả ở hai mặt của lá. Lá mỏng, rộng bản. Tỉ lệ nước trong cây tới 80% nhưng khả năng điều tiết của nước rất yếu, do đó khi mất nước bị héo rất nhanh. Đại diện là cây họ Ráy, họ Thài lài.

4.4. Cây ưa ẩm ưa sáng

Thường gặp ở ven bờ ruộng, ven hồ ao. Các cây này thường có lá hẹp, ít diệp lục và thường không chịu được điều kiện khô hạn của môi trường. Đại diện là một số loài thuộc chi Cói, cây lúa nước.

4.5. Nhóm cây chịu hạn

Bao gồm những cây có thể sống trong điều kiện khô hạn. Khi gặp điều kiện khô hạn thì quá trình trao đổi chất của cây yếu đi nhưng không ngừng hẳn. Chẳng hạn: các cây sống ở vùng sa mạc, thảo nguyên, savan, đụn cát.

Thuộc nhóm này có hai dạng cây:

4.5.1. Cây chịu hạn mọng nước

Bao gồm các loài cây thân thảo, nhỏ trong họ Thầu dầu, họ Xương rồng, họ Rau muối, họ Rứa, họ Hành… Cây có chứa tới 95-98% nước so với khối lượng cơ thể. Lá cây mọng nước có tầng cutin dày, trên mặt lá thường có sáp hoặc lông rậm. Lỗ khí nằm chìm sâu trong biểu bì. Mô lá có nhiều tế bào lớn tích nước, gân lá kém phát triển. Một số loài cây lá tiêu giảm, chỉ còn là các vảy nhỏ, sớm rụng như cây xương rồng hoặc lá biến thành gai như cây xương rồng bà.

Do lá cây tiêu giảm nên thân và cành các cây này có nhiều tế bào chứa nước và mang nhiều diệp lục làm nhiệm vụ quang hợp. Khi gặp khô hạn lâu, rễ cây bị héo nhưng khi có mưa chúng phục hồi nhanh chóng, phát triển nhiều rễ bên, hoạt động sinh lý của cây mọng nước yếu. Ban ngày lỗ khí đóng kín có tác dụng hạn chế quá trình thoát hơi nước. Ban đêm mới mở nhờ đó hấp thụ được CO2 dùng cho quang hợp ngày hôm sau. Đồng thời do sự trao đổi chất với môi trường ngoài ít nên cây mọng nước sinh trưởng rất chậm.

4.5.2. Cây chịu hạn lá cứng

Có lá hẹp, phủ nhiều lông trắng bạc có tác dụng cách nhiệt. Gân lá phát triển, nhiều loài cây có lá tiêu giảm biến thành gai, có tác dụng hạn chế tốc độ thoát hơi nước. Ví dụ: họ Lúa, họ Cói, một số ít loài họ Đậu, họ Thông, họ Phi lao…

4.6. Nhóm cây trung sinh

Là những cây có tính chất trung gian giữa cây chịu hạn và cây ưa ẩm. Nhóm cây này phân bố rộng từ vùng ôn đới tới nhiệt đới như các loài cây gỗ, các cây cỏ trong đồng cỏ.

Đặc điểm các cây thuộc nhóm này: lá có kích thước trung bình, mỏng. Bộ rễ không phát triển lắm. Khả năng điều tiết thoát hơi nước không cao nên cây rễ bị mất nước và héo nhanh khi khô han.

5. Đối với động vật

5.1. Sự cân bằng nước ở động vật trên cạn

Cân bằng nước ở động vật là sự cân bằng nước của các quá trình lấy nước, sử dụng và thải nước ra ngoài môi trường. Phần lớn động vật lấy nước bằng cách uống nước vào cơ thể, do đó môi trường của động vật thường phải gần các nguồn nước như: sông, suối, ao, hồ. Một số động vật có khả năng lấy nước rất đặc biệt, thích nghi với điều kiện sống.

Ví dụ: chim nhạn, chim én uống nước trong khi bay ngang qua mặt nước. Một số loài động vật trong đó có chuột túi… chỉ sử dụng lượng nước có trong thức ăn của chúng. Một số loài có khả năng hấp thụ nước qua bề mặt cơ thể. Chẳng hạn: ếch nhái hấp thụ nước qua da, một số sâu bọ lấy nước và thải nước bằng cách thấm qua tầng cutin, mọt bột và rệp hấp thụ hơi nước trong không khí qua toàn bộ bề mặt cơ thể.

Sử dụng nước qua quá trình trao đổi chất. Nước được cung cấp qua quá trình oxy hóa và phân giải các chất hữu cơ (như protid, gluxit, lipit) trong cơ thể. Cứ 100g lipid oxy hóa cho ra 107g nước, 100g gluxit oxy hoá cho ra 55g nước và 100g protid oxy hóa cho ra 41g nước. Phương thức sử dụng nước kiểu này thường gặp ở một số động vật ăn thức ăn khô như nhậy ăn len dạ, mọt ăn lúa mì, mọt ăn gạo, một số loài gặm nhấm, lạc đà.

Nước trong cơ thể động vật được thải ra ngoài qua nước tiểu, phân, thoát hơi nước qua da và hô hấp. Mức độ thải nước ra ngoài phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng nước lấy vào từ môi trường, khả năng điều tiết chống mất nước và điều hoà nước của cơ thể.

5.2. Các hình thức hạn chế mất nước và điều hoà nước trong cơ thể

– Sự bài tiết nước tiểu ở dạng cần ít nước. Đây là hình thức tiết kiệm nước của nhiều loài động vật như: bò sát, sâu bọ, thân mềm ở cạn.

– Thải phân đặc. Ví dụ: loài gặm nhấm, sơn dương sống ở sa mạc, nhiều loài sâu bọ, bò sát, chim sống nơi thiếu nước thải phân khô hơn các động vật khác.

– Hạn chế mất nước khi nhiệt độ môi trường quá cao. Ví dụ: lạc đà khi lượng nước trong cơ thể giảm sự thoát hơi nước có thể ngừng lại và nó có thể chịu đựng nhiệt độ cơ thể tăng lên 5-6°C.

– Tập tính tìm chỗ trú ẩn có độ ẩm cao. Ví dụ: nhiều loài gặm nhấm, bò sát, sâu bọ chỉ hoạt động vào ban đêm.

5.3. Các nhóm động vật liên quan đến chế độ nước trên cạn

5.3.1. Nhóm động vật ưa ẩm

Gồm những động vật có nhu cầu về độ ẩm của môi trường sống hay lượng nước trong thức ăn cao. Đại diện của nhóm này: ếch nhái, ốc trên cạn, giun ít tơ, động vật đất…

5.3.2. Nhóm động vật ưa khô

Gồm những động vật có khả năng chịu được độ ẩm thấp, thiếu nước lâu dài nhờ có cơ quan tích nước dự trữ và cơ thể tự bảo vệ chống mất nước, khả năng sử dụng nước tiết kiệm của cơ thể. Đại diện của nhóm này: các loại động vật sống ở sa mạc, núi đá, đụn cát (sâu bọ cánh cứng, châu chấu, sa mạc…).

5.3.3. Nhóm động vật ưa ẩm vừa phải

Gồm những loài động vật có nhu cầu về nước và độ ẩm vừa phải. Thuộc nhóm này gồm phần lớn các loài động vật ở vùng ôn đới và nhiệt đới gió mùa.

6. Những hình thức thích nghi chính của sinh vật với chế độ nước của môi trường

Có ba hình thức cơ bản:

– Hình thức giảm tính thấm của vỏ bao bọc cơ thể sinh vật. Chẳng hạn có lớp cutin dày ở cây lá cứng hoặc ở sâu bọ sống trên sa mạc; biểu bì hóa sừng dày ở một số động vật đẳng nhiệt.

– Hình thức xuất hiện các cơ quan hô hấp bên trong. Chẳng hạn: hệ thống khí quản ở sâu bọ, ở động vật nhiều chân, hoặc phổi ở động vật có xương sống. –

– Hình thức lẩn tránh môi trường có độ ẩm không thích hợp. Phổ biến nhất ở động vật là tập tính đi tìm chỗ trú ẩn có độ ẩm phù hợp.

Thường thì nh vật thích nghi với chế độ nước của môi trường bằng cách kết hợp ba hình thức trên nhưng ở các mức độ khác nhau.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :