Home / Trang Trại / Nghề chăn nuôi bò sữa: xu hướng & cơ hội

Nghề chăn nuôi bò sữa: xu hướng & cơ hội

/

Nghề chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam có khó không? Tìm hiểu thông tin về xu hướng, cơ hội và những yếu tố kỹ thuật trước khi đầu tư vốn.

1. Ngành chăn nuôi bò sữa qua các thời kỳ phát triển

Việt Nam vốn không có ngành chăn nuôi trâu bò sữa truyền thống nên không có các giống trâu bò sữa chuyên dụng đặc thù nào. Chăn nuôi bò sữa xuất hiện ở Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ XX. Trải qua những năm tháng khó khăn của đất nước, ngành chăn nuôi bò sữa đã đóng góp đáng kể trong việc đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên ngành chăn nuôi bò sữa mới chỉ thực sự trở thành ngành sản xuất hàng hóa từ những năm 1990 trở lại đây.

1.2. Giai đoạn từ 1920 – 1923

Giống bò chịu nóng Red Sindhi (thường gọi là bò Sind) và bò Ongle (thường gọi là bò Bô) có nguồn gốc từ pháp được đưa vào Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và Hà Nội để nuôi thử và lấy sữa để phục vụ cho nhu cầu của người Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên số lượng bò sữa thời đó còn ít (khoảng 300 con) và năng xuất sữa thấp (2 3kg/con/ngày).

1.3. Giai đoạn từ 1937 – 1942

Hình thành một số trại chăn nuôi bò sữa ở Sài Gòn – Chợ Lớn, mỗi ngày sản xuất được hàng nghìn lít sữa và Việt nam cần được phân tích, đánh giá để có giải pháp thích hợp.

2. Cơ hội thị trường ngành chăn nuôi bò sữa

2.1. Mức sống của người dân

Theo số liệu thống kê, thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam năm 2006 là 7,6 triệu đồng. Người thành thị thu nhập bình quân cao hơn người nông thôn 2,04 lần. Chênh lệch giữa nhóm 10% người giàu nhất với nhóm 10% người nghèo nhất là 13,5 lần (2004) và ngày càng tàng.

Thu nhập bình quân của đồng bào thiểu số chỉ bằng 40% so với trung bình cả nước. Con số này cho thấy đại bộ phận người Việt Nam có mức sống thấp. Giá 1kg sữa tươi tiệt trùng bằng 3kg gạo, vì vậy người dân nghèo chưa có tiền uống sữa.

Trong tình hình lạm phát ngày càng tăng như hiện nay, chỉ một nhóm ít người đủ tiềm lực kinh tế mua sản phẩm sữa. Thực tế cho thấy người Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tiêu thụ 80% lượng sữa cả nước. Nâng cao mức sống người dân sẽ tăng thêm lượng khách hàng tiêu thụ sữa.

Vinamilk có chương trình 1 triệu ly sữa cho trẻ em nghèo. Nhưng đây không phải là việc của một công ty hay các tổ chức từ thiện. Dự án cải thiện dinh dưỡng người Việt Nam cần dành một khoản kinh phí thích đáng cho người nghèo được tiếp cận với sản phẩm sữa.

2.2. Thói quen uống sữa

Việt Nam không phải là nước có truyền thống sản xuất sữa, vì vậy đại bộ phận dân chúng chưa có thói quen tiêu thụ sữa. Trẻ em giai đoạn bú sữa mẹ trong cơ thể có men tiêu hóa đường sữa (đường lactose). Khi thôi bú mẹ, nếu không được uống sữa tiếp thì cơ thể mất dần khả năng sản xuất men này.

Khi đó đường sữa không được tiêu hóa gây hiện tượng tiêu chạy nhất thời sau khi uống sữa. Chính vì vậy nhiều người lớn không thể uống sữa tươi (sữa chua thì không xảy ra hiện tượng này, vì đường sữa đã chuyển thành acid lactic). Tập cho trẻ em uống sữa đều đặn từ nhỏ, giúp duy trì sự sản sinh men tiêu hóa đường sữa, sẽ tránh được hiện tượng tiêu chảy nói trên.

Những nước có điều kiện kinh tế tương đối phát triển đã xây dựng chương trình sữa học đường, cung cấp miễn phí hoặc giá rất rẻ cho các cháu mẫu giáo và học sinh tiểu học. Điều này không chỉ giúp các cháu phát triển thể chất, còn giúp các cháu có thói quen tiêu thụ sữa khi lớn lên.

Chúng ta đã bàn đến chương trình này nhưng chưa thực hiện được. Bà Rịa Vũng Tàu đang thực hiện chương trình sữa học đường với ngân sách của nhà nước là một điểm sáng cần nghiên cứu nhân rộng cho cả nước.

2.2. Chính sách về xuất nhập khẩu sữa

Chính sách của nhà nước về sữa nhập khẩu trong những năm qua chưa thúc đẩy được phát triển sữa nội địa. Cần có chính sách thích dáng khuyến khích các công ty chế biến sữa Việt Nam giảm dần lượng sữa bột nhập khẩu tái chế, tăng dần tỷ trọng sữa tươi sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, từ 2010 nếu dùng chính sách thuế để khuyến khích hay hạn chế nhập sữa bột sẽ không khả thi, vì vậy cần có những chính sách thích hợp cho lộ trình đến năm 2015 trở đi nguồn nguyên liệu từ sữa tươi sản xuất trong nước tối thiểu phải đáp ứng được trên 40% nhu cầu sữa nguyên liệu.

Hơn một năm qua giá sữa bột trên thị trường thế giới tăng gấp 2 lần và luôn biến động. Các Công ty chế biến sữa như Vinamilk, Dutchlady đã quan tâm hơn đến phát triển nguồn sữa nguyên liệu tại chỗ. Tuy vậy vẫn chưa đảm bảo chắc chắn chương trình tăng tỷ lệ sữa nội địa của họ cho những năm tiếp theo.

2.3. Thu mua sữa tươi nguyên liệu

Hệ thống thu mua sữa tươi hiện nay do các nhà máy tổ chức thông qua các đại lý trung chuyển sữa. Vì mục đích lợi nhuận; các điểm thu mua chỉ được thiết lập khi có đủ số lượng bò, đủ lượng sữa để đặt bồn và không quá xa nhà máy giảm chi phí vận chuyển và an toàn vệ sinh sữa. Đây là khó khăn để mở rộng địa bàn chăn nuôi đến những vùng có tiềm năng đất đai và lao động.

Thành phố Hồ Chí Minh nơi có đàn bò sữa trên 66 ngàn con, chiếm hơn 50% tổng đàn bò sữa cả nước. Trong vòng 3 năm qua, tốc độ tăng đàn bò sữa ở đây chỉ đạt 7% mỗi năm, những năm tới, tốc độ tăng chậm hơn hoặc không tăng do quá trình đô thị hóa. Củ Chi, Lâm Đồng, Mộc Châu là những nơi có tiềm năng quyết định đến tốc độ tăng đàn bò cho cả nước. Hiện nay người chăn nuôi đang muốn bán bò đi vì nuôi không có lời.

Để đạt 350 ngàn bò sữa vào năm 2015 chúng ta phải cần đến 35.000 ha cỏ trồng (tính 10 con bò/ha). Nhà nước cần có chính sách thật cụ thể về quy hoạch vùng chăn nuôi, đất trồng cỏ. Làm gì để đàn bò sữa, nhà máy chế biến sữa chuyển dần đến những vùng chăn nuôi có tiềm năng như Lâm đồng, Mộc Châu và một vài nơi trong cả nước?

3. Thị trường Việt Nam và những vấn đề phát triển chăn nuôi bò sữa

Việt Nam phát triển ngành sữa từ những năm 1970 nhưng tốc độ phát triển tương đối chậm. Đến năm 1980 mức tiêu thụ sữa chỉ đạt 0,3kg/người, năm 1990 đạt 0,5kg và năm 2007 ước đạt 7kg. Sữa tươi trong nước hiện mới chỉ đáp ứng 25% nhu cầu.

3.1. Quy mô chăn nuôi bò sữa nông hộ tại Việt Nam chiếm trên 90%

Trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đề ra mục tiêu tăng đàn bò sữa từ 104 ngàn con năm 2005 lên 200 ngàn con vào năm 2010. Sản lượng sữa từ 200 ngàn tấn tăng lên 377 ngàn tấn. Tốc độ tăng đàn dự kiến từ năm 2005 – 2010 là 13%; đến năm 2015 sẽ có 350 ngàn bò sữa sản xuất ra 700 nghìn tấn sữa, tăng lượng sữa tươi sản xuất trong nước lên 7,5kg/người/năm. 

3.2. Mối quan hệ giữa nhà máy chế biến và người chăn nuôi bò sữa

Việt Nam có 2 công ty thu mua và chế biến sữa chủ yếu là Vinamilk trên 50% và Dutch Lady khoảng 25% lượng sữa sản xuất trong nước. Có rất ít nhà máy chế biến nhỏ công nghệ thấp và thị phần cũng không đáng kể. Vì vậy các công ty lớn rất dễ độc quyền quyết định giá mua vào và sản phẩm bán ra.

Phương thức thu mua sữa giữa các công ty với người chăn nuôi chưa thật bình đẳng và rõ ràng, khiến người chăn nuôi luôn có cảm giác phần thiệt thuộc về mình. Tiêu chuẩn chất lượng sữa mua vào do các nhà máy đưa ra không cao (chất khô 12%; chất béo 3,5% thời gian mát màu xanh methylen I giờ).

Mặc dầu vậy vẫn có từ 20 – 50% số sữa không đạt một trong các tiêu chuẩn chất lượng (theo thống kê của vinamilk 6 tháng đầu năm 2008). Người chăn nuôi hoài nghi kết quả danh giá sữa của họ vì nhà máy thu mua tự kiểm tra chất lượng không có sự chứng kiến của họ. Thật ra dây là mâu thuẫn tiềm tàng giữa bên mua và bên bán.

Người chăn nuôi nhỏ cần được tổ chức lại, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của mình cùng với nhà máy sản xuất ra sữa chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm cho xã hội. Cải thiện và nâng cao sự hiểu biết, đồng thuận với nhau giữa người chăn nuôi và nhà máy chế biến.

Người chăn nuôi mong muốn có một cơ quan trung gian đừng ra làm trọng tài kiểm tra chất lượng sữa tươi khi giao cho ác nhà máy.

3.3. Lợi nhuận từ chăn nuôi bò sữa

Lợi nhuận từ chăn nuôi bò sữa thấp bởi vì giá thức ăn cao. Rất ít thị trường mà giá 1kg bắp hạt (5000 – 5500d) cao gần bằng một lít sữa (6000 – 6500) như ở nước ta. Tại Thái Lan người dân bán 11 sữa mua được 2kg bắp hạt. Tại Mỹ 4,6kg; Hà Lan 2,6kg; Úc 2,0kg. Người chăn nuôi bò sữa Việt Nam bán 11 sữa (trung bình thực nhận 6000₫) chỉ mua được 1,1kg thức ăn tinh (tỷ giá là 1,1). Tại Thái Lan tỷ giá này là 1,5; tại Mỹ là 3,3; tại Hà Lan là 2,1; tại Úc là 1,6.

Giá bò giống, công lao động và mọi chi phí khác đều tăng cao. Thời gian khai thác ngắn, bò bị loại thải sớm do bệnh tật, những rối loạn sinh sản, viêm vú làm cho tổng lượng sữa trong một đời bò thấp dẫn đến khấu hao giống tính trên kilogam sữa rất cao, làm giảm lợi nhuận.

Theo tính toán, với giá thức ăn như hiện nay và giá sữa 6000đ/1 lít thì chỉ những con bò nào có năng suất từ 4000kg/năm hay 4500kg/chu kỳ mới không bị thua lỗ. Số bò cái đạt năng suất sữa này không nhiều. Năng suất 2007 chỉ đạt bình quân đàn bò cả nước năm 3800kg/năm.

Số liệu này cho thấy nhiều người chán nuôi đang bị thua lỗ. Họ cố gắng giữ dàn bò vì đó là công việc, là nguồn sống. Họ chờ đợi và hy vọng vào thiện chí của các Công ty chế biến thức ăn, Công ty thu mua sữa và sự quan tâm sắp tới của Nhà nước.

Mặt khác người chăn nuôi phải chủ động nâng cao kiến thức và kỹ năng chăn nuôi để sản xuất ra sữa chất lượng cao với chi phí thấp nhất.

3.4. Lợi nhuận và phân bố lợi nhuận trong quá trình sản xuất sữa

Người chăn nuôi bò sữa nếu tính đủ chi phí thì lợi nhuận rất thấp 3 – 4% hoặc không có lời, chủ yếu là lấy công làm lãi. Người chăn nuôi mua thức ăn tinh của các công ty lớn và cũng bán sữa tươi cho các công ty lớn. Sự phụ thuộc này càng làm giảm đi lợi nhuận của họ.

Nhà máy mua vào sữa tươi với giá ước 7.500đ/kg, sau khi tiệt trùng giá bán 20.000đ/kg. Có thể thấy tỷ suất lợi nhuận của khâu chế biến cao hơn nhiều so với người chăn nuôi.

Kế hoạch 2006 – 2010 đã đi được nửa chặng đường, có quá nhiều việc phải làm để đến năm 2010 cả nước đạt được mục tiêu 200 ngàn con bò sữa và 377 ngàn tấn sữa.

4. Công nghệ nuôi bò sữa ở nước ta

Đến năm 2010, số lượng bò sữa phải đáp ứng trên 40% lượng sữa tiêu dùng trong nước… Tuy nhiên, các chuyên gia chăn nuôi lo ngại bò sữa Việt Nam thiếu đồng cỏ xanh và nước sạch.

Bò không chỉ cần đủ thức ăn, nước uống sạch mà còn cần bầu không khí trong lành, nơi nghỉ ngơi sạch sẽ và được đi lại thoải mái. Những con bò sống trong môi trường dễ chịu cho nhiều sữa hơn, khỏe mạnh hơn, sống lâu hơn…

4.1. Đồng cỏ xanh – thách thức phát triển đàn bò sữa

Đứng ở góc độ của công nghệ chăn nuôi, chất lượng sữa phụ thuộc vào 3 yếu tố: con giống, chăm sóc nuôi trong và vấn đề quản lý dịch bệnh.

Đã có nhiều dự án nhập bò thuần từ Úc, New Zealand, Cuba về nuôi, đặc biệt tập trung giống tại trung tâm bò sữa Ba Vì. Đa số bò sữa nhập về đều là bò ôn đới, do đó, đối với điều kiện miền Nam, nuôi bò sữa thuần bị ảnh hưởng rất lớn vì thời tiết và thức ăn.

Bò sữa đang nuôi phổ biến hiện nay, đặc biệt giống bò sữa cao sản Holstein Friesian (có nguồn gốc từ Hà Lan), đều có từ 50 – 87,5% máu bò sữa xứ lạnh. Do đó, khả năng chịu đựng khí hậu nóng ẩm nhiệt đới của chúng kém. Hai nơi đủ điều kiện khí hậu để nuôi bò sữa tốt nhất là Lâm Đồng và Mộc Châu. Trong đó, đàn bò sữa Mộc Châu được chăm sóc tốt hơn.

Một trong những bí quyết để sản lượng sữa nhiều là các đàn bò sữa được sống trong môi trường yên tĩnh. Từng con bò đều có một vùng không gian đủ rộng để đi lại, vận động. Nhờ đó, tay chân khỏe mạnh và cơ bắp săn chắc. Nằm tại thị trấn Mộc Châu, tỉnh Sơn La, cách Hà Nội 194km về phía Tây Bắc, nông trường Mộc Châu có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 1.600ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 969 ha. Tổng đàn bò sữa trên 3500 con, hàng năm sản xuất trên 10.000 tán sữa Trong đó hơn 3.200 con bò sữa đều là giống bò cao sản Hoistem Frisian.

Tuy nhiên, ngay cả nơi dạng được xem là thuận lợi nhất để phát triển bò sữa như Mộc Châu, diện tích dành cho chăn thả vẫn còn đang rất hạn hẹp. Diện tích đất chủ yếu dành để trồng cỏ.

Mặt hạn chế của ngành chăn nuôi bò sữa nước ta là rất khó tìm thấy những trang trại bò sữa với những đồng cỏ xanh ngát. Đồng cỏ ở nước ta tương đối hẹp. Cổ chủ yếu được trồng bên ngoài và đem về chuồng cho bò ăn. Vì vậy, thời gian thả bò ở Việt Nam rất ngắn, trong khi ở nước ngoài có thể tha bỏ ra ngoài đồng gần như suốt ngày.

4.2. Chế độ dinh dưỡng trong chăn nuôi bò sữa

Đàn bò sữa ở nước ta thường sống trong điều kiện không gian hạn hẹp, nhiều tiếng ồn, thiếu ánh sáng, nguồn nước không đảm bảo… Điều này đã hạn chế phần nào khả năng tăng sản lượng sữa của bò.

Không chỉ có vậy, các nghiên cứu cho thấy cách thức cho ăn và nguồn thức ăn cho bò đang trở nên ngày càng quan trọng. Lượng sữa được sản xuất ra phụ thuộc chủ yếu vào số lượng và chất lượng thức ăn mà bò ăn vào.

Chế độ ăn dành cho bò sữa tương đối ngặt nghèo. Lượng có tươi phải dồi dào và đa dạng, như: cỏ voi, cỏ signal, cỏ yến mạch, cỏ sao… Ngoài ra, để sản xuất 10kg sữa (tương đương 101 sữa), bò cần thêm 4kg thức ăn tinh mỗi ngày, bao gồm: ngô, cám gạo, bột đậu tương. bột xương thịt, vitamin, khoáng chất.

Bên cạnh đó, phải kể đến một yếu tố rất quan trọng với sản lượng sữa của đàn bò là nguồn nước.

Khoảng 90% sữa là nước, vì vậy khi lượng nước uống của bò có ảnh hưởng lớn đến sản lượng sữa. Khi bò được cung cấp đủ nước sạch, bò sẽ uống nhiều hơn, ăn nhiều hơn và tạo ra nhiều sữa hơn.

Thực tế nhưng khối lượng nước phải cung cấp cho đàn bò là rất lớn. Một kilogam chất khô, bò hấp thụ vào sẽ cần đến 51 nước. Bò sẽ cần ít nhất 31 nước để tạo nên một lít sữa.

Với khí hậu nóng và khô, lượng nước này sẽ cao hơn. Bò thích uống nước nhanh, có thể đến 201/phút. Nếu không đạt được mức này, lượng nước hấp thụ vào có thể giảm đi và sản lượng sữa sẽ bị ảnh hưởng. Ví dụ như lượng nước hấp thụ giảm 40% có thể làm giảm sản lượng sữa khoảng 25%. 

Một điều rất quan trọng khi nói về nguồn nước, đó là chất lượng nước. Bò thích uống nước sạch và mát thậm chí chúng còn nhạy cảm với chất lượng nước hơn người. Không chỉ như vậy, nuôi bò sữa phụ thuộc nhiều vào cỏ, mà cỏ dành cho bò cũng chứa đến 90% nước.

Thông qua đất, cỏ hút nước và kết hợp với các yếu tố khác như thiết kế chuồng trại, hệ thống vắt sữa, chăm sóc đàn bò… để tạo nên môi trường sống thoải mái cho đàn bò, đàn bò sữa nước ta sẽ được cải thiện và tăng trưởng trong thời gian không lâu.

5. Một số vấn đề cần chú ý trong chăn nuôi bò sữa

Người ta có thể ví con bò sữa như một cỗ máy. Để cho máy chạy khỏe, hiệu quả cao ta phải chọn mua loại máy tốt, phải thường xuyên chăm sóc, bảo dưỡng. Để cho máy hoạt động được thì ta phải cung cấp nhiên liệu cho nó. Máy càng tinh vi, hiện đại thì nhiên liệu cũng càng phải có chất lượng cao.

Con bò sữa là một cỗ máy hiện đại. Chính vì vậy, việc chọn mua, chăm sóc, nuôi dưỡng và khai thác phải đặc biệt cẩn thận. Trong chăn nuôi bò sữa chúng ta cần chú ý những vấn đề sau đây:

5.1. Về việc chọn mua giống bò sữa

Câu hỏi đặt ra là nên chọn mua giống bò nào? Thực tế, vấn đề này không đơn giản. Không nên tùy tiện mà phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm chăn nuôi của chủ hộ, cũng như các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và chuồng trại (điều kiện kinh tế và hạ tầng kỹ thuật) của mỗi gia đình.

Những gia đình mới bắt đầu chăn nuôi bò sữa, do còn thiếu kinh nghiệm (và đôi khi cả khả năng kinh tế còn hạn chế) nên chọn mua bò lại F1 (Lai Sind x Hà Lan) hoặc bò lai F2 (F1 x Hà Lan). Không nên chọn mua bò Hà Lan thuần hoặc bò lai có tỷ lệ máu bò Hà Lan cao (F3, F4…).

Bởi vì bò sữa Hà Lan thuần hoặc bò lai có tỷ lệ máu bò Hà Lan càng cao (bò F3, F4 – 7/8 và 15/16 máu bò Hà Lan) thì càng khó tính, càng kém chịu đựng được điều kiện nóng ẩm và kham khổ do thiếu thốn thức ăn. Khi nhiệt độ lên trên 34°C, bò có tỷ lệ máu bò Hà Lan cao thường thở dốc, xù lông, năng suất sữa giảm.

Mặt khác, tỷ lệ nhiễm bệnh ở bò tăng, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng đường máu và bệnh tụ huyết trùng. (thực tế chăn nuôi bò sữa ở nước ta chỉ ra rằng, bò sữa Hà Lan thuần thích hợp nhất ở một số vùng như Mộc Châu – Sơn La, Đức Trọng, Lâm Đồng – nơi có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân hàng năm 21C).

Dù có nuôi bò lai F1 hoặc F2 việc chọn con có năng suất cao (tương ứng với từng giống) rất quan trọng. Hiện nay, giá bò sữa thường tính theo năng suất. Vì vậy, khi mua bò, nếu là bò đang khai thác sữa thì cần kiểm tra năng suất sữa thực tế.

Ngoài ra cũng phải xem xét nó đang tiết sữa kỳ thứ mấy, tháng thứ mấy của chu kỳ (thông qua sổ sách, hỏi người chủ, quan sát và xem răng để định tuổi…). Giả sử là bò F2, đang tiết sữa tháng thứ hai của chu kỳ 3 mà mỗi ngày chỉ vắt được 101 sữa thì cần phải đặc biệt chú ý.

Ngoài ra, việc không thể xem nhẹ là kiểm tra hình dạng và cấu trúc bầu vú cũng như hệ thống mạch máu tuyến vú. Với bò sữa, chỉ có bầu vú phát triển, mềm mại, các tĩnh mạch nổi rõ, cuộn lên như sợi dây thừng thì mới cho nhiều sữa (vì máu vận chuyển các chất đến bầu vú để tạo sữa và để tạo ra 11 sữa cần 5401 máu chảy qua bầu vú).

Thêm vào đó, cũng nên chú ý rằng, chỉ khi nào bò đẻ mới cho ra hai sản phẩm quan trọng nhất là bê và sữa. Vì vậy, khi mua bò cần chú ý kiểm tra cơ quan sinh dục đối với loại bò trưởng thành đã đẻ cũng như đối với bò cái tơ chưa đẻ lứa nào.

Việc kiểm tra này cần dựa vào các bác sỹ thú y chuyên khoa bằng quan sát cơ quan sinh dục bên ngoài và sờ khám qua trực tràng để xem cơ quan sinh dục của con bò ấy có phát triển bình thường không? Tử cung, buồng trứng… có bị viêm nhiễm, teo ao không? Tức là phải biết được con bò ấy có đẻ được tốt không?

5.2. Về việc nuôi dưỡng

Cũng như một số động vật khác, bò sữa cần một lượng dinh dưỡng để duy trì cuộc sống (khó hấp. hoạt động tim mạch, vận động…). Ngoài ra, bò sữa cần một lượng dinh dưỡng rất lớn cho tăng trọng, nuôi thai và sản xuất sữa. Hàm lượng vật chất khô (các chất đạm. đường, mỡ, khoáng…) trong sữa trung bình là 12, (tức là trong 1kg sữa có chứa 120g vật chất khô).

Như vậy, một con bò sữa (giả sử nặng 400kg) có sản lượng sữa trung bình 4.000kg/chu kỳ thì trong thời gian một chu kỳ nó tạo ra một lượng vật chất khô 480kg. nghĩa là lớn hơn rất nhiều so với khối lượng cơ thể bản thân nó. Mà các chất này chỉ có thể được tạo ra trong sữa, từ thức ăn cung cấp cho con bò.

Điều đó cho thấy, việc cung cấp thức ăn đầy đủ với chất lượng tốt cho bò sữa có vai trò vô cùng quan trọng. Chúng ta không thể có nhiều sữa. sữa chất lượng tốt khi chỉ cho bò ăn rơm lúa hoặc các thức ăn kém phẩm chất, cũng giống như chúng ta không thể đổ xăng chất lượng kém vào xe máy mà nó có thể chạy khỏe được.

Nuôi dưỡng bò sữa thực chất là nuôi dưỡng các loài vi sinh vật sống trong dạ cỏ. Nuôi dưỡng bò sữa đúng kỹ thuật tức là tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho hệ vi sinh vật trong dạ cỏ phát triển bình thường. Chúng ta phải cung cấp khẩu phần thức ăn cân đối, phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng con; không thay đổi thức ăn đột ngột; chia thức ăn tính ra thành nhiều bữa…

Trong nuôi dưỡng bò sữa, điều cần chú ý là bảo đảm đầy đủ khẩu phần thức ăn thô xanh. Chính thức ăn thô xanh là yếu tố cơ bản cho hệ vi sinh vật dạ cỏ hoạt động bình thường, bò cho năng suất sữa cao và chất lượng sữa tốt. Muốn vậy, phải lưu ý áp dụng các dày, trồng cỏ…

Trong điều kiện của miền Bắc nước ta, biện pháp giải quyết thức ăn the xanh như: trồng ngô do vụ đông – xuân khô hạn kéo dài thường thiếu cỏ và các loại thức ăn xanh khác, cần áp dụng biện pháp ủ chua để dự trữ, chủ động có đủ thức ăn thô xanh quanh năm.

Thức ăn của bò sữa rất đa dạng, các loại phế phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp chế biến cũng là nguồn thức ăn rất có giá trị nuôi bò sữa. Việc tận dụng các nguồn thức ăn này kết hợp với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật để xử lý, bảo quản cho phép chúng ta hạ giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa một cách đáng kể. Đây chính là một trong những bí quyết quan trọng để thành công. Bởi vì chi phí thức ăn chiếm khoảng 70% trong tổng chi chăn nuôi bò sữa.

5.3. Đặc điểm tiêu hóa thức ăn của bò sữa

Nên sử dụng nguồn đạm vô cơ (phân urê) để bổ sung vào khẩu phần thức ăn. Đây là cách bổ sung đạm rẻ tiền và mang lại hiệu quả cao.

– Không cần cho ăn thêm bột cá, gây lãng phí và tốn kém.

– Không cần đun nấu thức ăn cũng như không hoà loãng thức ăn như nuôi lợn. Cho ăn sống, khô và uống nước sạch, uống nước tự do. Nên lưu ý là nước uống đối với bò sữa cũng quan trọng như thức ăn.

5.4. Về vấn đề chăm sóc và khai thác sữa

Việc chẩn đoán và điều trị một số bệnh của bỏ sữa nên trông cậy vào bác sĩ thú y có chuyện món trong lĩnh vực bệnh bò sữa

Nên tuân thủ nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh. Không nên lơ là biện pháp phòng bệnh để giảm thiểu nguy cơ bò mắc bệnh, ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng sữa

Các biện pháp phòng bệnh chủ yếu là:

– Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, đảm bảo chuồng trại luôn trong tình trạng sạch sẽ, thông thoáng. Diệt ruồi, muỗi và các loài ký sinh ngoài da.

– Nuôi dưỡng đúng quy trình kỹ thuật.

– Áp dụng các biện pháp phòng bệnh viêm vú. Tiệm điều trị dự phòng ký sinh trùng đường máu.

– Tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, dịch tả, lở mồm long móng.

Ngoài ra còn một vấn đề quan trọng khác là làm sao để bò đẻ càng nhiều càng tốt, tốt nhất là đẻ năm một. Chỉ khi bò chửa, đẻ chúng ta mới có sữa, có bệ con. Như vậy, ngoài các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh, vấn đề đặt ra là phải phát hiện động dục kịp thời, phối tinh với chất lượng tốt, đúng kỹ thuật, đúng thời điểm, để làm sao bò cái sớm có chửa lại sau khi đẻ, tức là rút ngắn khoảng cách lứa đẻ.

Bỏ lỡ, hỏng một chu kỳ động dục là chúng ta chẳng những mất đi một lượng sản phẩm đáng kể; mà còn phải chịu thêm nhiều chi phí cho thức ăn, nhân công… do phải “nuôi báo cổ”.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :