Home / Trang Trại / Kỹ thuật trồng & chăm sóc cây có múi ra trái nhiều, đẹp

Kỹ thuật trồng & chăm sóc cây có múi ra trái nhiều, đẹp

/

Cây có múi chủ yếu gồm các loại cam (Citrus sinensis), quýt (Citrus reticulata), chanh (Citrus aurantifolia), bưởi (Citrus grandis), ngoài ra có thanh yên, phật thủ, quất.

kỹ thuật trồng và chăm sóc cây có múi

1. Đặc điểm sinh học của cây có múi

Đặc điểm sinh học của cây có múi, chủ yếu thuộc loại Citrus spp., có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới, có sự ưa thích đối với nhiệt độ trung bình, nằm trong khoảng từ 20 – 30°C. Tổng quát, chúng có khả năng chịu nhiệt tốt hơn là chịu lạnh. Trong điều kiện nhiệt độ cao, khi trái cây chín, vỏ của cam và quýt không có màu vàng, thịt quả trắng, mang lại hương vị nhạt nhòa. Tuy nhiên, nếu chúng được chín trong điều kiện nhiệt độ ổn định, cam và quýt sẽ có màu sắc rực rỡ và hương vị tốt hơn, đặc biệt là với bưởi.

Cây có múi yêu cầu độ ẩm trung bình và tương đối cao. Ở khu vực nhiệt đới, nơi mưa nhiều, cam và quýt có thể ra hoa nhiều lần trong một năm. Đất phù sa và đất cát pha, thoát nước tốt, với độ pH khoảng 6 – 7, là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của chúng.

Ở phía Nam Việt Nam, sau mùa khô đến tháng 4-5, nếu cây được tưới nước hoặc có mưa, chỉ trong vòng một tháng, cam và quýt sẽ ra đọt, cùng lúc với quá trình ra hoa, và có thể thu hoạch vào tháng 11-12, đây là vụ chính. Nếu thời tiết tháng 11-12 có nhiệt độ thấp và độ ẩm vẫn cao, cây có thể ra hoa lần nữa và thu hoạch vào tháng 6-7, đó là vụ cam trái, tuy nhiên, lượng sản phẩm thường ít hơn so với vụ chính. 

2. Cách chọn giống cây có múi

Ở Việt Nam, trồng các giống cây có múi như cam, quýt, chanh, và bưởi nổi tiếng được chọn lựa và phát triển ở từng vùng địa lý, tạo nên đặc sản độc đáo cho mỗi địa phương. Các giống nổi tiếng bao gồm cam xã Đoài (Nghệ An), cam Bố Hạ (Bắc Giang), cam Sa Đéc (Đồng Tháp), quýt đường Bố Hạ, quýt Lý Nhân (Hà Nam), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Năm Roi (Vĩnh Long), và bưởi Biên Hòa (Đồng Nai).

Hiện nay, trồng cây có múi đã được cải tiến với nhiều phương pháp cho ra năng suất cao, ít bệnh. Thay vì trồng từ hạt, người ta thường sử dụng hạt để lấy cây gốc ghép. Quá trình nhân giống chủ yếu được thực hiện thông qua chiết cành và ghép mắt. Quá trình này không chỉ đảm bảo độ chính xác về giống và chất lượng trái cây mà còn giúp nâng cao hiệu suất sản xuất.

Trong quá trình chọn gốc và mắt ghép, đặc biệt cần lưu ý đến việc không mang nguồn bệnh vàng lá gân xanh (greening). Điều này thường được thực hiện bằng cách sử dụng cây không có bệnh và lựa chọn vùng trồng không có lịch sử bệnh.

3. Kỹ thuật trồng cây có múi

Thời vụ trồng:

  • Ở miền Bắc, cây có múi thường được trồng vào vụ xuân (tháng 2 – 3) và vụ thu (tháng 8 – 9 – 10).
  • Ở miền Nam, trồng có thể thực hiện quanh năm, nhưng thời điểm tốt nhất là vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 6), khi cung cấp đủ nước cho cây.

Khoảng cách:

  • Đối với cam, quýt và chanh, nên trồng ở khoảng cách 3 – 4m.
  • Đối với bưởi, khoảng cách nên là 5 – 6m, tùy thuộc vào loại giống cụ thể.

Cách trồng:

  • Trong quá trình trồng, nên xoay mắt ghép về hướng gió chính trong năm để ngăn chặn tác động của gió làm tách chồi.
  • Trong trường hợp trồng bằng cành chiết, cần đặt cành hơi nghiêng để cây phân cành tốt, tạo nên cấu trúc cây ổn định và thuận lợi cho quá trình chăm sóc.
  • Sau khi trồng, nên tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô hoặc bèo lục bình để giữ ẩm đất và cản trở sự phát triển của cỏ dại.
  • Việc cắm сос (cột chống) sẽ giữ cho cây ổn định và tránh tình trạng đổ đứt.
  • Việc tưới nước ngay sau khi trồng là quan trọng để giúp cây định giữ độ ẩm và khởi đầu quá trình phục hồi sau khi được trồng.

4. Cách chăm sóc cây có múi

Tưới nước:

  • Cây có múi đòi hỏi lượng nước đều đặn, nhưng không chịu được nước đọng nước.
  • Trong mùa khô, cần thường xuyên tưới để đảm bảo đất luôn ẩm.
  • Trong mùa mưa, cần đảm bảo thoát nước tốt để tránh tình trạng ngập úng gây hại cho cây.

Bón phân:

  • Bón lót phân hữu cơ ủ hoai 20 – 30 kg/cây giúp cải thiện chất đất và cung cấp dưỡng chất cho cây.
  • Sau mỗi mùa thu hoạch, nên bón một lần phân hữu cơ vi sinh, cung cấp thêm dưỡng chất cho cây. Việc này giúp duy trì sức khỏe và sự phát triển của cây.

Phân hóa học:

  • Việc sử dụng phân hóa học như phân thúc là quan trọng để kích thích sự phát triển của cây.
  • Liều lượng phân sử dụng phụ thuộc vào tuổi của cây.
Tuổi cây (năm)NP2O5K2O
1-350 – 15050 – 10060 
4-6200 – 250150 – 200120 
7-9300 – 400250 – 300180 
Từ 10 năm trở lên500 – 800350 – 400240
Bảng hướng dẫn về liều lượng cụ thể có thể tham khảo để đảm bảo rằng cây nhận được đủ dưỡng chất cần thiết

Khi chăm sóc cây bưởi, việc quy định liều lượng phân bón là một yếu tố quan trọng. So với cam và quýt, bưởi đòi hỏi mức bón nhiều hơn. Trong giai đoạn cây còn nhỏ, cần bón lân và kali một lần vào cuối mùa mưa. Việc chia phân đạm thành 3 – 4 lần bón hoặc tưới cũng là cách hiệu quả. Khi cây đã vượt qua 3 tuổi và bắt đầu đổ quả, lịch trình bón phân đạm nên được chia thành 3 giai đoạn: trước khi cây ra hoa, sau khi quả đậu, và sau khi thu hoạch. Phân kali nên được bón 2 lần, một sau khi quả đậu và một khoảng 1-2 tháng trước thu hoạch. Phân lân được bón toàn bộ sau khi thu hoạch, kèm theo phân hữu cơ.

Cây bưởi có múi đặc biệt cần chất vi lượng như kẽm (Zn), mangan (Mn), sắt (Fe), và đồng (Cu). Do đó, việc thường xuyên phun phân bón lá chứa vi lượng là cần thiết, đặc biệt là khi cây bộc lộ dấu hiệu thiếu hụt chất dinh dưỡng.

Khi xử lý ra hoa cho cây bưởi có múi, có hai phương pháp chính là xiết nước và bón phân. Đối với phương pháp xiết nước, nên áp dụng ở những vùng có hệ thống bờ bao tốt và có thể chủ động quản lý nước. Sau khi thu hoạch, cần tỉa cành, dọn cây và bón phân. Sau đó, rút nước đến khi lá cây hơi héo, sau đó cho nước vào mương rãnh cách mặt vườn 20 – 30cm trong 12 giờ và rút nước ra còn cách mặt vườn 50 – 60cm. Việc kết hợp phun KNO3 và chất kích thích Atonik giúp rút ngắn thời gian xiết nước, đồng thời đẩy nhanh quá trình cây ra đọt và nụ hoa.

Ngược lại, với phương pháp bón phân, thực hiện ở vùng đất thấp và không có khả năng chủ động nước. Sau thu hoạch, cần làm vệ sinh vườn và bón phân đạm ure hoặc Thiourea với liều lượng gấp đôi so với liều lượng thông thường (không bón lân và kali). Nếu có điều kiện, có thể bổ sung một lớp bùn mỏng 1 – 2cm. Đồng thời, kết hợp với phun KNO3 nồng độ 0,1%, và pha thêm chất Auxin hoặc GA. Sau 20 – 30 ngày xử lý, cây sẽ ra hoa. Chú ý rằng việc bón phân nên thực hiện trong thời gian khô ráo, để tránh tình trạng mưa liên tục có thể làm ảnh hưởng đến quá trình ra hoa của cây.

5. Phòng trừ sâu bệnh hại cây có múi

Đặc điểm các loại sâu bệnh hại cây có múi:

  • Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella): Đây là sâu non có khả năng đục vào mô lá non, tạo thành các đường vòng vèo, làm lá xoăn lại và gây ảnh hưởng đáng kể đến quá trình quang hợp của cây.
  • Rầy chổng cánh (Diaphorina citri): Rầy trưởng thành có chiều dài khoảng 3 – 4mm, còn rầy non rất nhỏ. Cả hai loại rầy này đều sống ở mặt dưới lá non và thực hiện quá trình chích hút nhựa, dẫn đến sự kém phát triển của cây. Đặc biệt, rầy chổng cánh còn là môi trường lý tưởng để lan truyền bệnh vàng lá gân xanh, tạo ra tình hình nguy hiểm cho sự phát triển của cây.
  • Rệp sáp và rệp muội (Planococcus citri, Aonidiella aurantii, Toxoptera aurantii): Rệp thường bám ở đọt, lá non, cành non, hoa và quả, chích hút nhựa làm cây trở nên yếu đuối và khó phát triển. Điều này có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng của quả và toàn bộ cây.
  • Bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis): Bọ trĩ rất nhỏ, thường bám mặt dưới lá và dưới lá đài hoa, chích hút vỏ quả tạo ra các vết sẹo màu xám quanh cuống quả. Điều này có thể tạo ra những ảnh hưởng đặc trưng và giảm chất lượng của quả.
  • Nhện đỏ (Panonychus citri): Nhện có kích thước nhỏ như hạt cát, màu đỏ hồng, thường bám mặt dưới lá và chích hút nhựa làm cho lá cây khô và chuyển sang màu vàng. Đặc biệt, nhện còn tấn công vỏ quả, tạo ra hiện tượng vỏ xám đen và sần sùi, được gọi là hiện tượng da cám, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của cây và chất lượng quả.

Biện pháp phòng trừ các loại sâu hại trên là:

  • Không trồng mật độ dày quá, tạo tán, tỉa cành cho vườn cây thông thoáng. Ngắt bỏ lá bị sâu hại nặng tiêu hủy.
  • Bón phân đầy đủ, kịp thời cho đọt ra tập trung để thuận lợi phun thuốc.
  • Phun các thuốc Sherpa, Polytrin, Pyrinex, Supracide, Vibasu, Monster, Padan… có thể diệt được nhiều loại sâu. Riêng với nhện đỏ dùng các thuốc chuyên trị như Comite, Nissorun, Ortus, Danitol, Dandy. Sử dụng dầu khoáng SK.Enspray, DC-Tron Plus, Vicol… có thể diệt được các loại sâu và nhện lại rất ít độc hại với người và thiên địch. Với sâu vẽ bùa cần phun thuốc hoặc dầu sớm ngay khi đọt non vừa nhú. Ngoài các loại sâu trên, các cây có múi còn bị nhiều loại sâu hại khác như sâu non bướm phượng ăn lá, sâu ăn đọt, bướm hút quả, sâu đục vỏ quả. Dùng tay bắt giết hoặc phun các thuốc trừ sâu thông thường đều diệt được 
  • Nuôi thả kiến vàng có tác dụng hạn chế sâu hại có hiệu quả.
  • Bệnh loét (do vi khuẩn Xanthomonas campestris): Tạo thành những vết loét sần sùi màu vàng trên lá và vỏ quả. Vết đục của sâu vẽ bùa tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây bệnh. Biện pháp phòng trừ chủ yếu là vệ sinh vườn cây, phun các loại thuốc gốc đồng như Vidoc, COC, Kocide, Hidrocop.
  • Bệnh ghẻ lồi (do nấm Elsinoe fawcetti): Tạo thành những nốt lồi lên như mụn ghẻ trên lá, cành và vỏ quả, làm vỏ quả có màu nâu đen sần sùi. Phun các thuốc trừ nấm như Viben-C, Zin, Bonanza, Score, Rovral.
  • Bệnh nứt thân chảy nhựa (do nấm Phytophthora palmivora): Bệnh tạo thành những vết nứt ở vỏ thân gần gốc, chỗ nứt có nhựa chảy ra, rễ bị thối, cây bị bệnh sinh trưởng kém, khô chết từng cành và cả cây. Biện pháp phòng trừ là vườn cây cần thoát nước, hằng năm vào đầu và cuối mùa mưa dùng các thuốc gốc đồng quét lên thân hoặc tưới gốc.
  • Trong mùa mưa phun 2 – 3 lần các thuốc Mexyl-MZ, Ridomil, Aliette. Phát hiện có vết bệnh trên thân dùng dao cạo hết vỏ chỗ bị bệnh rồi dùng các thuốc trên quét lên, quét 2 – 3 lần cách nhau 10 – 15 ngày.
  • Bệnh vàng lá gân xanh (bệnh greening do vi khuẩn Liberobacter asiaticum): Triệu chứng điển hình là phiến lá chuyển màu vàng trên đó nổi lên các gân lá còn xanh. Bệnh nặng thì lá nhỏ lại, thẳng đứng và uốn cong dạng tai thỏ. Nếu cây còn nhỏ mà bị bệnh thì toàn cây thấp bé. Trên cây lớn triệu chứng bệnh nếu nhẹ thì chỉ biểu hiện trên một số lá hoặc một số cành, bị nặng mới thể hiện toàn cây. Cây bệnh có thể cho thu hoạch vài năm nhưng quả nhỏ, méo mó, vị chua, sau đó mới chết. Triệu chứng bệnh lúc đầu dễ lầm với triệu chứng cây thiếu kẽm hoặc sắt. Bệnh do rầy chổng cánh làm môi giới lan truyền.

Phòng trừ bệnh hại bằng các biện pháp:

  • Không dùng giống ở những cây hoặc những vùng có bệnh.
  • Phòng trừ triệt để rầy chổng cánh.
  • Phát hiện cây chớm bị bệnh phun các chất vi lượng kẽm, mangan và đồng từ 10 – 15 ngày một lần cho đến khi cây phục hồi. Để phòng ngừa bệnh hàng năm có thể phun định kỳ 2 – 3 lần.
  • Các dụng cụ dùng cắt tỉa, chiết, ghép cần khử trùng sau mỗi lần sử dụng bằng bột giặt hoặc cồn.
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :