Home / Trang Trại / Kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M năng suất cao ít bệnh tối ưu chi phí

Kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M năng suất cao ít bệnh tối ưu chi phí

/

Trong điều kiện sinh sản và chăn nuôi tại Việt Nam (cả 2 miền Nam, Bắc) vịt C.V. Super M đã chứng tỏ là một giống vịt chuyên thịt cao sản thực sự. Vịt ông bà, bố mẹ và thương phẩm đều phát triển rất tốt đạt các tiêu chuẩn của giống nuôi tại Vương quốc Anh. Ngay cả khả năng đẻ trứng vịt C.V. Super M cũng đã cho năng suất cao hơn hẳn các giống vịt nuôi ở Việt Nam từ trước tới nay.

Kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M

1. Đặc điểm giống vịt C.V. Super M

C.V. Super M là giống vịt chuyên thịt cao sản được tạo ra thông qua chọn lọc di truyền nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ thịt nạc của vịt Bắc Kinh. Giống vịt C.V. Super M được nghiên cứu năm 1976 tại Công ty Cherry Valley Farms Ltd, Rothwell, Lincoln Vương quốc Anh: Năm 1981 đàn vịt C.V. Super M bố mẹ đầu tiên được xuất khẩu sang Trung Quốc và sau đó năm 1985 C.V. Super M bố mẹ đã chiếm lĩnh được thị trường thế giới. Từ năm 1986 John Powell (tác giả của giống vịt cao sản này) được lãnh thêm nhiệm vụ xuất khẩu đàn vịt giống C.V. Super M với những Cẩm nang hướng dẫn chăn nuôi kèm theo. Đến này vịt C.V. Super M đã xuất hiện và đang phát triển có hiệu quả ở 86 nước trên khắp 5 châu lục của hành tinh chúng ta.

Vịt C.V. Super M được nhập khẩu vào nước ta từ năm 1989 trong khuôn khổ hoạt động của dự án “Nghiên cứu phát triển chăn nuôi vịt VIE-86-007” do chương trình của Liên hợp quốc về phát triển (UNDP) tài trợ. Vịt nhập nội (bao gồm cả đàn bố mẹ và đàn ông bà) được nuôi giữ, chọn lọc và nhân thuần tại cơ sở của Viện Chăn nuôi: Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên – Hà Tây và Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao Tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi – Thành phố Hồ Chí Minh.

Vịt C.V. Super M vốn là một giống vịt cao sản, thích hợp với điều kiện chăn nuôi thâm canh, song trong điều kiện chăn nuôi chăn thả, có cho ăn bổ sung (bán thâm canh) vịt vẫn đạt được kết quả khá tốt; Lúc 75 ngày tuổi đạt trọng lượng 2.8- 3,2kg. Thức ăn tiêu tốn cho 1kg thịt hơi là 1,8 – 2,0kg. Vịt đực C.V. Super M bố mẹ cũng đã được sử dụng để lai với các giống vịt hiện nuôi ở địa phương. Con lai vịt C.V. Super M cũng có năng suất khá cao. Ở các tỉnh phía Nam vịt lai C.V. Super M với vịt miền Nam, nuôi trong điều kiện chăn thả, lúc 75 – 90 ngày cũng đạt được 2,2 – 2,9 kg.

2. Kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M năng suất cao, khỏe mạnh

Kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M đạt năng suất cao cần chú ý tới chuẩn bị chuồng trại, nguồn nước, chất lượng thức ăn và theo dõi các bệnh vịt hay mắc.

2.1. Chuẩn bị chuồng trại nuôi vịt C.V. Super M

2.1.1. Vệ sinh chuồng sạch sẽ

Trước khi đưa vịt C.V. Super M vào nuôi, chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh sạch sẽ, vô trùng. Điều chỉnh các phương tiện làm thông thoáng để bảo đảm ổn định nhiệt độ không khí trong lành trong chuồng nuôi. Giữ gìn chuồng trại và khu vực xung quanh sạch sẽ, ngăn nắp, không để chuột bọ, chim chóc hoành hành trong khu vực chuồng trại, phải đặc biệt chú ý chống chuột khi vịt còn nhỏ.

2.1.2. Chuẩn bị nền chuồng và quây vịt

Đối với vịt con từ 1 đến 28 ngày tuổi:

Kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M quan trọng nhất trong 7 ngày tuổi đầu tiên vịt phải được nuôi trong quây dưới chụp sưởi trên nền chuồng hoặc trên sàn lưới. Tất nhiên vịt con nuôi trên sàn lưới là tốt nhất, bởi vì nuôi vịt trên sàn lưới phần lớn thức ăn, nước uống rơi vãi cùng với các chất bài tiết của vịt qua sàn lưới không đọng lại nên hợp vệ sinh hơn. Kích thước mắt lưới để làm sản vịt tốt nhất là 18 – 19mm, cũng có thể dùng loại lưới nhỏ hơn (12 – 13mm). Quây vịt làm bằng vật liệu rắn có đường kính khoảng 4m, thành quây cao 0,5 – 0,7m. Mỗi quây như vậy có thể nhốt 280 – 300 vịt con (tốt nhất là 2 đơn vị vịt giống: 280 con). Sang ngày thứ 2 mở rộng dần quây, đến ngày thứ 7 thì bỏ hẳn quây. Nếu chuồng hẹp thì làm quây nhỏ hơn, nhốt đàn ít hơn. 

Mật độ trong chuồng ở 4 tuần lễ đầu bố trí như sau

Nuôi trên sàn lưới:

  • Tuần thứ nhất: 27 – 28 con/m2.
  • Tuần thứ hai: 18 – 20 con/m2.
  • Tuần thứ ba + tư: 11 – 12 con/m2.

Nuôi trên nền chuồng:

  • Tuần thứ nhất: 23 – 24 con/m2.
  • Tuần thứ hai: 9 – 10 con/m2.
  • Tuần thứ ba + tư: 5 – con/m2.

Ở giai đoạn này mỗi ô nhốt tối đa 280 con. Chuồng nên chia thành nhiều ô, các ô ngăn cách nhau bằng các tấm ngăn cứng, chiều cao của tấm ngăn là 0,7m, các vách ngăn phải an toàn không cho vịt chui qua chui lại giữa các ô.

Bắt đầu từ tuần thứ 4 phải rải chất độn chuồng trên 2/3 diện tích sàn lưới. Lúc này máng uống phải đặt trên phần diện tích có sàn lưới, để nước rơi vãi không làm ướt chất độn chuồng. Chất độn chuồng có thể dùng là: rơm, rạ, trấu hoặc phoi bào, nhưng tốt nhất là dùng phoi bào.

Đối với vịt từ 5 18 tuần tuổi: Bảo đảm mật độ: 3 – 4 con/m2. Diện tích yêu cầu cho một con vịt: 0,25 – 0,3m2.

Từ tuần tuổi thứ 19 đến hết giai đoạn vịt đẻ. Diện tích chuồng nuôi yêu cầu tối thiểu: 0,4m2/con. Mỗi ô nhốt tối đa 240 con (2 đơn vị).

Lưu ý: Ở những nơi bố trí chuồng có sân chơi ngoài thì yêu cầu diện tích chuồng nuôi và sân chơi cho mỗi con vịt là 0,6m2 trong đó diện tích chuồng ít nhất là 0,3m2 cho mỗi vit.

2.1.3. Chuồng có thể sưởi ấm vịt C.V. Super M

Nhiệt độ chuồng trại cũng là một kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M cực kỳ quan trọng cần chú ý. Trong những ngày đầu vịt con cần được sưởi ấm, mức độ và thời gian sưởi phụ thuộc vào nhiệt độ xung quanh. Về mùa lạnh có thể sử dụng lò sưởi gas hoặc bếp điện có công suất khoảng 5000Kcal.

– Thông thường mỗi quay vịt dùng 4 bảng điện 60W đính trên một khung gỗ treo cách nền chuồng 0,5m ở khoảng giữa của quây vịt. Quây làm bằng vật liệu cứng, đường kính vòng quây 4m, quây cao 0,5 – 0,7m, quây phải kín tránh cho vịt khỏi bị gió lùa, đồng thời giữ cho vịt gần chụp sưởi, máng ăn, máng uống trong vài tuần đầu. Tùy theo điều kiện thời tiết mà bố trí lò sưởi trong quây vịt. Về mùa lạnh chú ý bật lò sưởi để làm ấm phòng trước khi chuyển vịt đến. Nếu trời quá lạnh nên bố trí một phòng sưởi phụ để cung cấp thêm nhiệt cho vịt. Ở những nơi độ môi nhiệt trường giao động lớn (ngày nóng, đêm lạnh) phải chú ý giữ cho vịt không bị quá nóng trong thời gian sưởi bằng cách:

– Giảm cấp nhiệt.

– Bố trí chuồng nuôi rộng để vịt có thể tránh xa nguồn nhiệt lúc bị nóng.

Phải chú ý đề phòng, về đêm nhiệt độ ngoài trời có thể giảm xuống đột ngột làm cho vịt dễ cảm lạnh. Nói chung trong thời gian đầu nên bố trí máng ăn, máng uống ngay trong quây dưới chụp sưởi theo sơ đồ dưới đây:

Nhìn chung muốn chăm sóc tốt đàn vịt giống, người chăn nuôi phải thường xuyên quan sát kỹ lưỡng trạng thái sinh lý của đàn vịt. Thước đo hợp lý nhất để kiểm tra một cách chính xác nhiệt độ sưởi của vịt đó là sự phân bố đàn vịt trong quây. Chỉ qua quan sát trạng thái đàn vịt trong quây có thể biết nhiệt độ sưởi có thích hợp hay không. 

– Nếu đàn vịt tụm lại dưới đèn nằm chồng chất lên nhau là nhiệt độ quá thấp, vịt bị lạnh (A).

– Nếu vịt tản ra xa đèn; chụp sưởi phân bố tản mạn vùng ria quây là nhiệt độ quá nóng (B).

– Nếu vịt xô dạt vào từng góc một cách không bình thường, không đều, thì chắc chắn trong quầy có chỗ bị gió lùa (C).

– Nếu đàn vịt tản đều trong quây đi lại, hoạt động nhanh nhẹn, nhiệt độ sưởi thích hợp (D).

Về mùa đông phải sưởi cho vịt suốt 28 ngày đầu, mùa ẩm chỉ cần sưởi 2 – 3 tuần đầu là đủ. Sưởi cho vịt như thế nào và sưởi bao lâu phải căn cứ vào nhiệt độ không khí hàng ngày để quyết định. Khi vịt đã mọc đủ lông thì không cần sưởi ấm nữa trừ khi nhiệt độ xuống dưới 1°C, lúc này nước bị đóng băng sẽ gây hại lớn cho năng suất đẻ trứng. Khi đó ta hãy sưởi ấm chuồng để cung cấp nước cho vịt uống. 

Phải chú ý: Khi nhiệt độ bên ngoài xuống quá thấp, cần sưởi cho vịt với mức độ vừa phải.

2.2. Nguồn nước uống cho vịt C.V. Super M

Phải thường xuyên cung cấp cho vịt một nguồn nước uống sạch sẽ và thuận tiện. 

Trong 7 ngày tuổi đầu tiên: cho vịt C.V. Super M uống bằng máng chụp tự động – cứ 100 vịt phải có ít nhất một máng đường kính 300mm (0,3m) cao 300mm (0,3m) hoặc máng có đường kính 0,25m, cao 0,35m (hình bên. Nếu vịt vận chuyển từ xa tới 3 ngày đầu nên cho thêm’ vitamin và khoáng vi lượng nào nước uống để vịt nhanh chóng bình phục sức khỏe.

Từ ngày thứ 8 ngày thứ 28: sau khi bỏ quây, máng uống chuyển sang cạnh ô chuồng hoặc nơi quy định để đặt máng nước, dưới có rãnh thoát không để nước động làm ướt nền chuồng.

Từ sau ngày thứ 28 trở đi: dùng máng uống dài thay thế máng tròn (tự động). Máng uống dài 2m là đủ cho 240 – 280 con vịt (đặt mỗi ô chuồng 1 chiếc máng uống). Nước phải thay đổi thường xuyên ít nhất ngày một lần. trong máng Không bao giờ cho vịt ăn khi không có nước uống Chú ý: đối với chuồng trại có mương bơi, phải giữ cho nước ở mương luôn sạch sẽ, mương phải thường xuyên đầy nước, tốt nhất là nước chảy liên tục. Tháo nước rửa sạch mương mỗi tuần một lần. Trong trường hợp không có nước chảy qua mương thì hàng ngày tháo nước rửa sạch mương

2.3. Thức ăn cho vịt C.V. Super M

Thức ăn và cách thức nuôi dưỡng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất của đàn vịt giống. Nếu chúng ta không điều khiển được mức độ dinh dưỡng thì năng suất trứng và tỷ lệ ấp nở của trứng sẽ giảm sút đáng kể. Số vịt con 1 ngày tuổi sản xuất ra trong một chu kỳ đẻ trứng (40 tuần đẻ) có thể giảm đi trung bình 28,5%. Nội dung chủ yếu của mục này là giới thiệu thức ăn và cách cho vịt ăn.

2.3.1. Chất lượng nguyên liệu

Nguyên liệu chất lượng kém sẽ cho thức ăn có phẩm chất kém, vì vậy nguồn nguyên liệu để làm thức ăn cho vịt C.V. Super M nên khai thác ổn định ở những nơi tin cậy, có giá trị dinh dưỡng cao, ổn định và không bị ẩm mốc. Phải thật lưu tâm rằng vịt đặc biệt nhạy cảm với mycotoxin; loại chất độc này làm giảm năng suất của vịt, nó gây nguy hại cho gan, làm giảm sức đề kháng bệnh tật, sưng ống dẫn mật, khí quản, ngăn cản quá trình tổng hợp protein, do vậy không bao giờ nên tận dụng thức ăn ẩm mốc để cho vịt ăn.

2.3.2. Chất lượng thức ăn

Chất lượng thức ăn phụ thuộc trước tiên vào chất lượng nguyên liệu dùng chế biến, sau đó là kỹ thuật chế biến và bảo quản. Thức ăn cho vịt C.V. Super M nên chế biến ở dạng viên là tốt nhất, tuy nhiên cũng không nhất thiết phải dùng thức ăn viên, người ta có thể dùng thức ăn dạng bột để nuôi vịt.

Một yếu tố khác ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thức ăn đó là bảo quản. Chúng ta có thể giữ nguyên phẩm chất của thức ăn nếu như bảo quản chúng ở những nơi khô ráo mát mẻ. Nóng ẩm sẽ làm giảm chất lượng thức ăn nhanh chóng. Có thể trộn chất chống mốc và chống oxy hóa vào thức ăn sẽ giúp ta kéo dài thời gian bảo quản. Nhưng nhìn chung biện pháp hữu hiệu nhất là nên sử dựng thức ăn trong vòng 4 tuần kể từ khi sản xuất.

2.3.3. Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn cho vịt C.V. Super M

Có 3 loại hỗn hợp thức ăn thường được sử dụng trong chăn nuôi vịt C.V. Super M giống hướng lấy thịt nhiều nạc đó là:

  • Thức ăn vịt con (Starter) dùng nuôi vịt con từ 0 – 8 tuần tuổi.
  • Thức ăn vịt hậu bị (Developer) dùng nuôi vịt từ 8 – 24 tuần tuổi.
  • Thức ăn cho vịt giống thời kỳ đẻ (Breeder) dùng nuôi vịt từ 24 tuần tuổi (trước khi vào đẻ) đến 66 tuần tuổi (kết thúc chu kỳ đẻ trứng).
Chất dinh dưỡngĐơn vị tínhVịt conVịt hậu bịVịt giống (đẻ)
Năng lượng trao đổiKcal289028902700
Protein thô%2215,519,5
Lysine%1,10,71,0
Methionine%0,50,30,4
Methionine + Cystine%0,80,550,68
Calcium%0,90,92,9
Phosphorus%0,550,40,45
Sodium%0,170,160,16
Bảng thành phần dinh dưỡng tối thiểu trong các loại thức ăn cho các loại vịt C.V. Super M

2.4. Cách cho vịt C.V. Super M ăn

2.4.1. Đối với vịt từ 1-28 ngày tuổi

7 ngày đầu nhốt vịt C.V. Super M trong quây, máng ăn đặt trong quây. Mỗi khay có kích thước: đường kính 0,4m, cao 0,05m là đủ cho 100 con vịt ăn (bảo đảm chiều dài máng cho mỗi vịt là 12,5mm). Lượng thức ăn hàng ngày phải ổn định theo định lượng ghi trong bảng dưới đây.

Ngày tuổiThức ăn g/conNgày tuổiThức ăn g/conNgày tuổiThức ăn g/conNgày tuổiThức ăn g/con
15,1840,41575,822111,2
210,1945,51680,823116,2
315,21050,51785,924121,3
420,21155,61890,925126,3
525,31260,61996,026131,4
630,31365,720101,027136,4
735,41470,721106,128141,5
Bảng khẩu phần cho vịt từ 1-28 ngày tuổi (Thức ăn vịt C.V. Super M con)

Số lượng thức ăn cho mỗi đàn được tính bằng cách nhân khẩu phần trên với số đầu vịt nuôi trong ô. Thức ăn dành cho đàn nào phải cân đong riêng cho đàn ấy.

  • 16 ngày đầu tiên cho vịt ăn hoàn toàn trong mảng. 
  • Từ ngày thứ 17 – ngày thứ 21: cho vịt ăn một phần trong mảng còn một phần vãi trên 1 tấm nilon trải rộng cho vịt ăn.
  • Từ ngày thứ 22 trở đi cho vịt ăn trên nền chuồng, không cần máng nữa. Để bảo đảm sạch sẽ có thể vãi thức ăn trên một tấm nilon trải rộng trên nền chuồng, bảo đảm cho mọi con vịt trong đàn đều được ăn như nhau và độ lớn sẽ đồng đều.

2.4.2. Đối với vịt C.V. Super M từ sau 4 tuần 24 tuần tuổi 

Bắt đầu từ ngày tuổi 29 đến kết thúc 24 tuần tuổi. Chế độ nuôi dưỡng phải bảo đảm cho vịt có đủ độ dài sinh trưởng, tránh cho vịt lớn quá nhanh và cũng không để cho vịt còi cọc. Tốc độ sinh trưởng của vịt C.V. Super M phải bảo đảm theo đúng biểu đồ chuẩn của giống.

Tuổi vịtKhối lượng cơ thểTuổi vịtKhối lượng cơ thể
61,757182,807
71,947192,851
82,133202,885
92,210212,918
102,287222,962
112,365232,996
122,442243,040
132,520253,072
142,597263,105
152,675
Bảng khối lượng cơ thể tiêu chuẩn của giống

Muốn đạt được khối lượng cơ thể tiêu chuẩn cần điều chỉnh chính xác lượng thức ăn cho vịt ăn hàng ngày. Cần điều khiển trọng lượng vịt tiến sát đường sinh trưởng tiêu chuẩn trong giai đoạn nuôi dưỡng. Sinh trưởng cao hơn hay thấp hơn tiêu chuẩn đều ảnh hưởng xấu tới tuổi đẻ, năng suất trứng của vịt và tỷ lệ nở của trứng. Để điều chỉnh chính xác lượng thức ăn phải kiểm tra trọng lượng vịt.

2.4.3. Kiểm tra trọng lượng vịt C.V. Super M

– Buổi sáng ngày thứ 28 trước lúc cho vịt C.V. Super M ăn hãy cân 10% số vịt trong đàn (ví dụ 1 đàn có 2 đơn vị giống: 220 mái và 60 đực thì 10% của đàn là 22 con mái + 6 con được 28 con).

Sau khi cân, đo vịt xong cho vịt ăn theo khẩu phần cũ ghi trong bảng 3, đây là lần cuối cùng vịt được ăn theo tiêu chuẩn này.  Dựa vào số liệu cân đo được, tính thể trọng trung bình của con đực; con mái và các thông số này cũng được coi là đại diện của toàn đàn. So sánh thể trọng vịt với biểu đồ chuẩn để quyết định khẩu phần cho ăn tiếp theo.

Ví dụ: Nếu thể trọng trung bình của vịt mái thấp hơn thể trọng chuẩn thì cho vịt ăn khẩu phần 150g/con/ngày. Nếu thể trọng trung bình của vịt C.V. Super M mái ngang với thể trọng chuẩn thì cho vịt ăn khẩu phần 145g/con/ngày.

Nếu thể trọng trung bình của vịt mái cao hơn thể trọng chuẩn thì hãy cho ăn khẩu phần 140g/con/ngày. Dựa vào mức ăn đã xác định hãy cần thức ăn cho từng ô chuồng tùy theo số lượng vịt nuôi trong ô. Rải đều thức ăn trên sàn để bảo đảm cho tất cả vịt được ăn cùng một lúc.

– Buổi sáng ngày thứ 35 trước khi cho vịt C.V. Super M ăn, lại cân số vịt trong ô chuồng (như đã làm sáng ngày thứ 28) và lại tiếp tục làm như vậy hàng tuần cho đến lúc vịt được 24 tuần tuổi.

Qua mỗi lần kiểm tra nếu thể trọng bình quân của vịt mái đạt ngang thể trọng chuẩn thì hãy giữ nguyên khẩu phần hàng ngày. Nếu thể trọng vịt mái thấp hơn thể trọng tiêu chuẩn hãy nâng thêm khẩu phần ăn hàng ngày.

Nếu thể trọng vịt mái tăng cao hơn tiêu chuẩn thì hãy làm như sau:

  • Trước tiên, kiểm tra lại thể trọng vịt và trọng lượng thức ăn đã cho ăn tuần trước.
  • Sau đó giữ nguyên khẩu phần cũ thêm một tuần nữa xem mức độ tăng trọng có chậm bớt đi không.
  • Hết sức tránh việc giảm khẩu phần của vịt trừ khi thật sự cần thiết.

Chú ý: Trong quá trình kiểm tra trọng lượng vịt phải ghi chép cả thể trọng của con đực để điều chỉnh mức ăn. Nếu thể trọng con đực thấp hơn mà thể trọng con cái lại cao hơn thể trọng chuẩn thì ta hãy nâng khẩu phần ăn của toàn đàn lên một chút để đảm bảo thể lực cho vịt C.V. Super M đực.

2.4.4. Đối với vịt C.V. Super M 24 tuần tuổi

Từ giai đoạn này cho vịt ăn thức ăn vịt giống sinh sản (Breeder) và khẩu phần hàng ngày tăng thêm 10g cho mỗi con.

Xg/con/ngày → X + 10g/con/ngày

2.4.5. Khi vịt C.V. Super M đẻ quả trứng đầu tiên

X + 10 g/con/ngày.

Hãy tăng thêm khẩu phần hàng ngày 15g cho mỗi con

X+10+15g/con/ngày.

2.4.6. Trong thời gian đẻ trứng (từ 26 – 66 tuần tuổi)

Trong suốt thời gian đẻ trứng cho vịt ăn thức ăn vịt giống. Mỗi máng nên dùng cho 250 con.

2.4.7. Khi vịt C.V. Super M đẻ được 5% số trứng (26 tuần tuổi)

Khi vịt C.V. Super M đã đẻ được 5% số trứng (trung bình 0,05 trứng cho một mái một ngày) thì hãy tăng thêm khẩu phần ăn hàng ngày 5g cho mỗi con và để 7 ngày sau đó vịt có thể ăn tùy thích. Khi tăng thêm khẩu phần ăn hàng ngày thì cũng bắt đầu cho một phần thức ăn vào mảng to, ban đầu thì ít sau đó tăng dần lên để 7 ngày sau đó thì ta chuyển hẳn sang dùng máng thay cho việc cho ăn trên nền chuồng.

Khi vịt C.V. Super M đã đẻ được 5% số trứng thì:

X +10 + 15 g/con/ngày

+ 1 ngày = X + 10 + 15 + 5g

+ 2 ngày = X + 10 + 15 + 10g

+ 3 ngày = X + 10 + 15 + 15g

+ 4 ngày = X + 10 + 15+ 20g

+ 5 ngày = X + 10 +15 + 25g

+ 6 ngày = X + 10 + 15 + 30g

+ 7 ngày = X + 10 + 15 + 35g

+ 8 ngày trở đi = Cho ăn tự do.

2.5. Liều lượng các chất dinh dưỡng vi lượng cho vịt C.V. Super M

Nhu cầu vitamin và khoáng vi lượng được sử dụng trong hỗn hợp thức ăn của các loại vịt như sau:

Chất dinh dưỡngĐơn vị tínhVịt conVịt hậu bịVịt giống sinh sản
Vitamin
ATriệu đơn vị/tấn12912
D32,52,52,5
EĐơn vị/tấn20.000
B1g/tấn111
B2g/tấn8510
B6g/tấn212
B12Miligam/tấn10510
Khoáng vi lượng
Mangang/tấn10080100
kẽmg/tấn10080100
Sắtg/tấn202020
Đồngg/tấn555
I-ốtg/tấn21,52
Bảng thức ăn bổ sung cho các loại vịt, lượng dùng cho các loại vịt

2.6. Không gian ánh sáng chuồng vịt C.V. Super M

Tỷ lệ thời gian tối, sáng trong một ngày đêm ảnh hưởng rất lớn tới tuổi thành thục của vịt. Không điều khiển chiếu sáng chính xác, số lượng vịt con một ngày tuổi thu được có thể giảm đi trung bình 29 – 30%.

2.6.1. Cường độ chiếu sáng

Ánh sáng trong chuồng vịt C.V. Super M phải đạt 19 Lux. Cường độ ánh sáng này có thể đạt được bằng cách sử dụng bóng đèn sáng nóng bình thường, với công suất trung bình và 5W cho 1m2 nền chuồng. Nếu dùng bóng 60W có thể chiếu sáng cho 12m2 sàn chuồng.

2.6.2. Chương trình chiếu sáng

– Vịt từ 0 8 tuần tuổi: Chiếu sáng 23 giờ một ngày Mỗi ngày phải cho vịt làm quen với bóng tối 1 giờ để cho vịt không hoảng sợ trong trường hợp hệ thống chiếu sáng không hoạt động.

– Vịt từ 8 20 tuần tuổi. Chỉ dùng ánh sáng tự nhiên ban ngày. Đối với các chuồng kín, không có cửa sổ, phải chiếu sáng 10 giờ mỗi ngày.

– Vịt từ 20 – 26 tuần tuổi: Chuyển dần từ ánh sáng tự nhiên sang chiếu sáng cả ban đêm

Từ 20 tuần tuổi trở đi, mỗi tuần phải tăng thời gian chiếu sáng lên một mức nhất định nào đó, sao cho đến 26 tuần tuổi, thời gian chiếu sáng đạt 17 giờ một ngày đêm. Hoạt động chiếu sáng bắt đầu từ 4 giờ sáng đến 9 giờ đêm.

– Vit từ 26 – 66 tuần tuổi (thời gian đẻ). Giữ mức chiếu sáng đều đặn: 17 giờ một ngày. Nếu có bóng đèn nào trong hệ thống chiếu sáng bị hỏng, phải thay ngay. Đồng thời kiểm tra đồng hồ ghi thời gian mỗi tuần một lần. Vịt đang thời gian đẻ nếu không ổn định chế độ chiếu sáng sẽ ảnh hưởng rất xấu đến năng suất trứng

2.7. Chọn lọc vịt C.V. Super M khỏe mạnh

Trong quá trình nuôi cần loại ngay những vịt còi cọc, yếu đuối, dị hình ra khỏi đàn. Tỷ lệ vịt C.V. Super M chết và loại thải không vượt quá 5 – 87. Nếu cao hơn cần kiểm tra lại chế độ chăn nuôi, chăm sóc chuồng. Những con ốm nhẹ có thể chữa chạy, khi chữa nhốt riêng vịt vào quây khác. Cuối mỗi thời kỳ kiểm lại số lượng vịt, ghi số liệu vịt còn lại vào sổ sách.

Trước khi vịt bắt đầu đẻ, phải phân loại, kiểm tra số lượng vịt C.V. Super M, điều chỉnh lại tỷ lệ đực cái trong đàn. Khi kiểm tra; nhẹ nhàng dồn toàn bộ vịt vào một góc chuồng quây lại để hở một cửa nhỏ lùa vịt nhẹ nhàng rồi đếm từng con khi vịt ra khỏi quây. Kiểm tra vịt mái trước, vịt đực sau. Chọn đực tốt ghép vào các đàn mái theo tỷ lệ 1 đực 5 mái. Cố gắng tránh tách đực mái quá lâu.

2.8. Chuẩn bị chất độn lót, ổ đẻ và nhặt trứng vịt C.V. Super M

2.8.1. Chất độn và ổ đẻ cho chuồng vịt C.V. Super M

Trong kỹ thuật nuôi vịt không thể thiếu sử dụng chất độn khô, sạch, để giữ cho trứng sạch, nền chuồng không bị ẩm mốc.

  • Ổ đẻ có thể độn bằng rơm, trấu hay phoi bào tương đối dày để giữ cho trứng sạch và không rạn vỡ.
  • Ổ đẻ được bố trí sát tường của chuồng nuôi. Giữa các ổ đẻ phải có vách ngăn tránh để cho vịt chen lấn nhau, tranh nhau vào cùng 1 ổ gây vỡ trứng.
  • Ổ đẻ được đặt vào chuồng khi vịt được 22 tuần tuổi. Cứ 3 vịt nái đặt một ổ đẻ là vừa, Ổ đẻ có kích thước: rộng 40cm, cao: 40cm, dài 38cm (có thể làm 5 ổ liền nhau thì chiều dài của 5 ổ là 190cm).

Chất độn trong ở nên trải dày khoảng 10cm cho êm. Hàng ngày thêm một ít chất độn vào ổ, nếu chất độn trong ổ bị ướt và bẩn thì nên thay.

2.8.2. Nhặt trứng vịt C.V. Super M

Nhật trứng vịt C.V. Super M là công việc đầu tiên trong ngày. Trứng chọn đặt vào khay nhựa, trứng dập vỡ cần loại ngay. Trứng được nhặt lần lượt để khỏi bỏ sót, nhặt trứng trong ổ đẻ trước, trứng ngoài ổ đẻ nhặt sau. Số trứng nhặt được ghi chép cập nhật hàng ngày. Nếu trứng nhặt ít hơn hôm trước 10% thì phải kiểm tra xem có nhặt sót hay không. Nếu không cần kiểm tra lại các khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, nếu có sai sót chấn chỉnh ngay.

Trứng nhặt xong được chuyển ngay về phòng rửa trứng hoặc kho trứng, khi vận chuyển tránh cho trứng không bị mưa ướt hoặc bị nắng chiếu trực tiếp vào trứng làm hỏng trứng.

2.8.3. Vệ sinh, sát trùng và bảo quản trứng vịt C.V. Super M

Trứng vịt dễ bị nhiễm khuẩn ngay cả khi ổ đẻ được giữ vệ sinh tốt, do đó trong kỹ thuật nuôi vịt cần phải rửa trứng để đạt được tỷ lệ nở cao hơn. Ở các nước tiên tiến, người ta dùng máy để rửa trứng; ở nước ta phần lớn trứng được sát trùng bằng cách xông phoocmon thuốc tím. 

Những gia đình không có điều kiện thì giữ trứng ở nơi khô ráo sạch sẽ, nhiệt độ nơi bảo quản tốt nhất là phòng sạch có nhiệt độ 13 – 15°C. Mùa nóng có thể giữ trứng ở nhiệt độ 18°C để giảm bớt sự ngưng tụ một lớp nước trên bề mặt trứng khi chuyển sang máy ấp. Ẩm độ trong kho chỉ được phép dao động từ 75-80%. Trứng bảo quản dưới 7 ngày tỷ lệ nở mới cao được. Kho trứng phải được giữ sạch, khử trùng thường xuyên để đảm bảo cho môi trường xung quanh quả trứng sạch sẽ.

2.9. Ghi chép và theo dõi kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M

Ghi chép theo dõi hoạt động sản xuất là công việc hết sức cần thiết, việc ghi chép theo dõi là cơ sở giúp người chăn nuôi đúc rút ra những kinh nghiệm riêng cho mình. Ghi chép chính xác giúp ta hiểu được đàn giống vịt C.V. Super M cung cấp cho các thông tin để giải quyết các vấn đề trước mắt có liên quan đến đàn giống hiện tại và thấy trước các vấn đề phải giải quyết cho các đàn giống trong tương lai. Đối với công việc chăn nuôi đàn vịt bố mẹ, có 3 loại sổ theo dõi cần được ghi chép đầy đủ.

  • Sổ theo dõi nuôi dưỡng vịt C.V. Super M con: Mỗi đàn có 1 sổ ghi chép riêng.
  • Sổ theo dõi đàn vịt C.V. Super M đẻ: Mỗi đàn có 1 sổ riêng.
  • Sổ theo dõi nuôi dưỡng đàn vịt C.V. Super M đẻ: Mỗi đàn theo dõi vào 1 tờ.

2.10. Các vấn đề ấp nở trứng vịt C.V. Super M

Nói chung kỹ thuật nuôi vịt C.V. Super M giai đoạn ấp nở trứng đã là vấn đề tồn tại trong suốt thập kỷ qua. Những năm gần đây vấn đề ấp nở trứng vịt C.V. Super M cũng đã là nỗi trăn trở cho các chủ lò ấp lớn của ta. Tuy nhiên bằng những nghiên cứu công phu kết hợp với những thông tin quý giá từ công ty Cherry Valley vấn đề ấp trứng vịt C.V. Super M đã được các nhà khoa học ở Viện Chăn nuôi giải quyết rất tốt.

Tuy nhiên phải nói rằng kết quả ấp nở của vịt chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố trong đó bao gồm cả quá trình nuôi dưỡng chăm sóc đàn giống đến quy trình ấp, nở. Xin giới thiệu dưới đây một số trục trặc thường xảy ra trong ấp nở trứng vịt C.V. Super M và những nguyên nhân có thể dẫn đến trục trặc đó để góp phần giúp các nhà chăn nuôi vịt đạt kết quả cao trong hoạt động lý thủ này:

2.10.1. Trục trặc đầu tiên đó là tỷ lệ trứng không phôi và phôi yếu quá cao

Những nguyên nhân có thể gồm:

  • Vịt đực trong đàn giống vô sinh.
  • Thiếu đực giống do tỷ lệ đực/mái quá thấp (ít đực nhiều mái).
  • Đàn vịt giống mắc bệnh.
  • Chất độn chuồng ướt.
  • Trứng bảo quản quá lâu.
  • Nhiệt độ bảo quản trứng quá thấp.
  • Vịt giống quá béo, nặng nề chậm chạp.
  • Nhiệt độ máy ấp quá cao.

2.10.2. Phôi chết sớm (thể hiện qua vòng máu trong trứng)

Những nguyên nhân có thể gồm:

  • Trứng bẩn hoặc trứng nứt rạn quá nhiều.
  • Rửa trứng không đúng quy trình. 
  • Bảo quản trứng quá lâu hoặc bảo quản trứng sai quy trình. 
  • Nhiệt độ ấp không thích hợp.
  • Sai sót về đảo trứng trong máy ấp.
  • Các nguyên nhân do dinh dưỡng của đàn giống.

2.10.3. Trứng bị nhiễm độc nhiều 

Những nguyên nhân có thể gồm:

  • Chất độn chuồng bẩn, ẩm ướt.
  • Ổ đẻ không sạch sẽ.
  • Rửa trứng sai quy trình.

2.10.4. Nhiều phôi chết dính vào vỏ trứng

Các nguyên nhân có thể gồm:

  • Trứng bảo quản quá lâu.
  • Nhiệt độ trong máy ấp không thích hợp.
  • Sai sót về đảo trứng trong máy ấp.
  • Vịt trứng bị thiếu dinh dưỡng.
  • Hệ thống thông thoáng trong máy ấp bị trục trặc.
  • Biểu hiện của các bệnh truyền qua trứng.

2.10.5. Trứng tắc không nở được

Các nguyên nhân có thể gồm:

  • Thiếu độ ẩm trong máy nở.
  • Biểu hiện của bệnh truyền qua trứng.
  • Độ ẩm trong máy ấp quá cao.

2.10.6. Nở quá sớm hoặc quá muộn

Các nguyên nhân có thể gồm:

  • Nhiệt độ ấp không thích hợp.
  • Trứng bảo quản quá lâu.
  • Thời gian ấp không thích hợp.

2.10.7. Vịt con nhớp bẩn

Các nguyên nhân có thể:

  • Nhiệt độ máy ấp quá cao.
  • Nhiệt độ máy ấp quá thấp.
  • Thiếu lưu thông khí trong máy nở.
  • Trứng để đã quá lâu
  • Trứng bị nhiễm độc, hỏng không được nhặt đi kịp thời.

2.10.8. Vịt con bị khô

Các nguyên nhân có thể:

  • Độ ẩm máy nở thấp.
  • Nhiệt độ máy nở cao.
  • Độ ẩm máy ấp thấp.
  • Tổng thời gian ấp quá dài.

2.10.9. Vịt con bị ướt, hở rốn

Các nguyên nhân có thể:

  • Nở muộn.
  • Thiếu thời gian trong máy nở
  • Thiếu thời gian trong máy ấp.

2.10.10. Vịt con quá nhỏ

Các nguyên nhân có thể:

  • Trứng đưa vào ấp nhỏ.
  • Nhiệt độ ấp thấp.
  • Nhiệt độ máy nở cao.
  • Chất lượng vỏ trứng kém.

2.10.11. Vịt con to, xốp, chết trên khay, mùi hôi

Những nguyên nhân có thể:

  • Nhiệt độ ấp bình quân thấp.
  • Hệ thống thông thoáng của máy ấp kém.
  • Độ ẩm máy ấp cao.
  • Trứng to, ấp sai thời gian.

2.10.12. Vịt con yếu

Những nguyên nhân có thể:

  • Nhiệt độ máy nở cao.
  • Thông thoáng trong máy nở kém.
  • Trục trặc về dinh dưỡng của đàn vịt giống.

2.10.13. Vịt dị hình, què quặt

Các biểu hiện:

  • Mở vặn vẹo: Do độ ẩm hoặc bệnh viêm gan do nhiễm virus.
  • Mất mắt: Do nhiệt độ cao, không soi trứng.
  • Vẹo cổ: Do nguyên nhân dinh dưỡng của đàn vịt.
  • Khoèo chân: Do nhiệt độ và dinh dưỡng.
  • Choãi chân: Do khay nở quá mềm.

2.10.14. Những tác động dẫn đến tỷ lệ nở thấp

  • Đặt trứng và đảo trứng không thích hợp.
  • Không đủ thông thoáng.
  • Nhiệt độ ấp không thích hợp.
  • Các bệnh di truyền và do nhân giống.
  • Dinh dưỡng của đàn vịt giống
  • Tuổi trứng đưa vào ấp.
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :