Home / Trang Trại / Kỹ thuật lai tạo giống hoa lan quý hiếm chưa ai tiết lộ

Kỹ thuật lai tạo giống hoa lan quý hiếm chưa ai tiết lộ

/

Ứng dụng những thành tựu đã đạt được của ngành di truyền học vào việc lai giống lan nhằm mục đích tạo ra nhiều giống mới, có màu sắc độc đáo, có kích thước, hình dáng, số lượng hoa

1. Mục đích lai tạo các giống hoa lan

Ứng dụng những thành tựu đã đạt được của ngành di truyền học vào việc lai tạo nhằm mục đích tạo ra nhiều giống lan có màu sắc, kích thước, hình dáng,… theo yêu cầu mong muốn. Sự lai sẽ tạo được một cây lan tương đối hoàn chỉnh bao gồm nhiều ưu điểm của nhiều cây khác mà trong thiên nhiên không có. Ví dụ loài lan có tên địa phương là “waling-waling” là loài lan rất đẹp của Philippin, có tên khoa học là Euanthe Sanderiana hay được gọi là Vanda Sanderiana, rất khó trồng ở vài nơi, nhưng hầu hết các cây lai của giống này như Vanda Rothschildiana, Vanda Manila, Vanda Jerry… lại trồng rất dễ dàng và phát triển rất mạnh.

2. Lịch sử ngành lai tạo nhân giống hoa lan

1852, ông J. Domyni, theo lời khuyên của ông John Harris, tu sĩ Exerter, đã quyết định sự lai chéo các giống lan Cypripedium đầu tiên, để kỷ niệm sự cộng tác đó, cây lan được lấy tên là Cypripedium Harrisianum (C.villosum x C.barbatum). Nhưng thực tế tháng 10 năm 1856, mới có cây lan lai đầu tiên trổ hoa, nó cũng được lai từ năm 1852. Đây là cây lai tạo giữa 2 loài lan Ấn Độ Calanthe masuka và Calanthe furcata, được thực hiện tại trung tâm lai tạo Messrs. Weith và Sons, Chelsa, mà ông J. Dominy là người nuôi dưỡng và chăm sóc, vì thế cây lai này được đặt tên là Calanthe Dominyi.

1863, J. Domyni, đã tạo được nhiều loài lan khác và đã làm trổ hoa cây lan đầu tiên từ 2 giống phân biệt đó là cây Laeliocattleya Exoniensis. Đây là sự lai chéo giữa 2 loài Cattleya labiata var Mossiae x Laelia crispa.

1880, ông J. Domyni về hưu, ông Seder kế nghiệp cũng đạt được nhiều kết quả rực rỡ. Xem thêm thực trạng ngành hoa lan Việt Nam & tiềm năng kinh tế.

3. Kỹ thuật lai tạo nhân giống hoa lan

3.1. Nguyên tắc giao phối

Hiện nay các giống lan đã được lai từ 2, 3, 4 giống khác nhau. Những cây lan ban đầu sẽ mang tính chất trung gian về hình dáng và màu sắc của cha và mẹ. Do đó cây con thường biểu lộ ít thay đổi theo một tỷ lệ nhất định. Ví dụ các loại giao phối nổi tiếng Epidendrum OBrienianum (E.evectum x E.ibaguense) và loài Cymbidium Langley Sense (C.devonianum x C. lowianum). Xem thêm cách kích thích hoa lan nở đúng mùa, đúng vụ.

Tuy nhiên, nếu cây lai được giao phối với cây lại thứ tính phức tạp di truyền biểu hiện rất rõ ở cây con, với kết quả là những biến đổi cực đoan về màu sắc và ở một mức độ nào đó về hình dáng có thể đoán trước được. Một đặc tính nữa của các cây lai như thế là đặc trưng ưu thế lai của một hay nhiều cây cha mẹ liên hệ.

Có thể sẽ rõ ràng ở cây con và thường là kết quả không tiên đoán được. Trong số cây lai, một loài trong khung cảnh gia phả ưu thế đến mức tất cả hay ít nhất một phần cây con sẽ sao lại giống hệt cha mẹ.

Ví dụ loài Zygopetalum intermedium khi thụ phấn với các loài của giống Cattleya và Dendrobium sẽ sản sinh ra hạt có sức sống và cây con khi nảy mầm sẽ phát triển thành những cây giống y hệt loài Zygopetalum intermedium không có một sự thay đổi chọn lọc về màu sắc và hình dạng dù là bộ phận dinh dưỡng hay sinh sản. Xem thêm 59 loại phong lan quý hiếm, giá trị kinh tế cao trên thế giới.

Tuy nhiên nếu cây này được giao phối với một giống cùng họ phụ hoặc các họ phụ gần nhau như Colat hay Lycaste thì sẽ được một cây lai có tên là “Zygo Colax” hay “Zygocactus” có đặc tính của cả cha lẫn mẹ. 

Các loài Zygopetalum lai này là kết quả của sự sinh sản ở điều kiện phức tạp trong đó bầu noãn được kích thích để sản sinh ra các hạt sống được, nhưng thực sự là không thụ tinh bởi các tế bào đực trong ống phấn của cây cha mẹ thứ hai.

Cây lai 2 giống đã phức tạp, do đó cây lai từ 3, 4 giống sẽ có sự biến động rất lớn cả về hình dạng, dinh dưỡng, lẫn màu sắc hơn.

Nếu vườn lan của bạn có các cây dạng sinh trưởng và phát triển tốt, nếu bạn thử nghiệm lai giống biết đâu bạn sẽ được một vài giống hoa độc đáo cho riêng mình. Xem thêm 55 loại phong lan cho người mới chơi rất dễ trồng.

Lịch sử đã chứng minh rằng, các loài lan lai hiện có, cũng do sự góp phần của nhiều nhà trồng lan tài tử trên thế giới. Tuy nhiên, để bạn không nản chí, một điều quan trọng bạn cần phải nhớ là “Các cây muốn lai giống và đạt kết quả tốt, phải có sự tương hợp về mặt di truyền giữa 2 giống được lai”. Dưới đây là bảng tóm tắt giống lan đã lai được với nhau:

  • Adaglossium (Ada X Odontoglossum)
  • Adida (Ada X Cochlioda)
  • Arachnis (Aerides X Arachnis)
  • Arabidopsis (Aerides X Phalaenopsis) 
  • Aerostyle (Aerides X Rhynchostylis) 
  • Aeridovanda (Aerides X Vanda) 
  • Angelocaster (Anguloa X Lycaste)
  • Anoectomaria (Anoectochilus X Haemaria)
  • Echinopsis (Arachnis X Phalaenopsis)
  • Aranda (Arachnis X Vanda)
  • Aranthera (Arachnis X Rehantherg)
  • Arachnis (Armodorum X Arachnis)
  • Ascocenda (Ascocentrum X Vanda)
  • Aspasia (Aspasia X Oncidium)
  • Brapasia (Brassia X Aspasia)
  • Brassidium (Brassia X Oncidium)
  • Brassocattleya (Brassavola X Cattleya)
  • Brasso Diacrium (Brassavola X Diacrium)
  • Brassoepidendrum (Brassavola X Epidendrum)
  • Brassolaelia (Brassavola X Laelia)
  • Brassolaeliocattleya (Brassavola X Laelia X Cattleya)
  • Brassophronilis (Brassavola X Sophronitis)
  • Brassotonia (Brassavola X Broughtonia) 
  • Burrageara (Cochlioda X Miltonia X Odontoglossum X Oncidium) 
  • Cattleytonia (Broughtonia X Cattleya)
  • Charleswortheara (Cochlioda X Miltonia X Oncidium) 
  • Chondrobolllea (Chondrorhyncha X Bollea)
  • Chondropetalum (Chondrorhyncha X Zygopetalum) 
  • Colmanara (Miltonia X Odontoglossum X Oncidium) 
  • Cycnodes (Cycnoches X Mornodes) 
  • Dekensara (Schomburgkia X Brassavola X Cattleya) 
  • Diabroughtonia (Diacrium X Broughtonia) 
  • Diacattleya (Diacrium X Cattleya) 
  • Dialaelia (Diacrium X Laelia) 
  • Dia Laeliocattleya (Diacrium X Laelia X Cattleya) 
  • Dossinimaria (Dossinia X Haemaria) 
  • Epicattleya (Epidendrum X Cattleya)
  • Epi Diacrium (Epidendrum X Diacrium) 
  • Epigo (Epidendrum X Domingoa) 
  • Epilaelia (Epidendrum X Laelia) 
  • Epi Laeliocattleya (Epidendrum X Laelia X Cattleya) 
  • Epilaeliopsis (Epidendrum X Laeliopsis) 
  • Epiphone Itella (Epidendrum X Sophronitella)
  • Epiphronitis (Epidendrum X Sophronitis) 
  • Gastocalanthe (Gastorchis X Calanthe) 
  • Gasthaus (Gastrorchis X Phaius)
  • Grammatocymbidium (Grammatophyllum X Cymbidium) 
  • Hawaiiara (Vanda X Renanthera X Vandopsis)
  • Holttum Ara (Arachnis X Vanda X Renanthera) 
  • Iwanagara (Diacrium X Brassavola X Laelia X Cattleya)
  • Laeliocattleya (Laelia X Cattleya)
  • Lepto Laelia (Leptoles X Laelia)
  • Livonia (Brassavola X Laeliopsis)
  • Lowara (Brassavola X Laelia X Sophronitis)
  • Luisanda (Luisia X Vanda) 
  • Lycasteria (Bifrenaria X Lycaste)
  • Macomaria (Macodes X Haemaria)
  • Miltonidium (Miltonia X Oncidium)
  • Miltonia (Miltonia X Cochlioda) 
  • Odontioda (Odontoglossum X Cochlioda)
  • Odonto Brassia (Odontoglossum X Brassia)
  • Odontocidium (Odontoglossum X Oncidium) 
  • Odontonia (Odontoglossum X Miltonia)
  • Oncidium (Oncidium X Cochlioda) 
  • Opsi Laelia (Laelia X Laeliopsis)
  • Opsissanda (Vanda X Vandopsis) 
  • Pectinaria (Pecteilis X Habenaria)
  • Phaiocalanthe (Phaius X Calanthe)
  • Phai Cymbidium (Phaius X Cymbidium) 
  • Phalaenopsis (Vandopsis X Phalaenopsis)
  • Phragm Paphiopedilum (Phragmipedium X Paphiopedilum)
  • Potinara (Brassavola X Cattleya X Laelia X Sophronitis)
  • Renades (Aerides X Renanthera)
  • Renanopsis (Renanthera X Vandopsis)
  • Renanstylis (Renanthera X Rhynchostylis)
  • Renantanda (Renanthera X Vanda) 
  • Renanthopsis (Renanthera X Phalaenopsis) 
  • Ridley (Arachnis X Trichoglottis X Vanda)
  • Rodentia (Rodriguezia X Comparettia)
  • Rodricidium (Rodriguezia X Oncidium)
  • Rolfe Ara (Brassavola X Cattleya X Sophronitis) 
  • Sandara (Brassia X Odontoglossum X Cochlioda) 
  • Sarcothera (Sarcochilus X Renanthera)
  • Schombocattleya (Schomburgkia X Cattleya) 
  • Schombodiacrium (Schomburgkia X Diacrium) 
  • Chom Epidendrum (Schomburgkii X Epidendrum) 
  • Schombolaelia (Schomburgkia X Laelia) 
  • Sophrocattleya (Sophronitis X Cattleya)
  • Sophrolaelia (Sophronitis X Laelia) 
  • Sophrolaeliocattleya (Sophronitis X Laelia X Cattleya)
  • Spat Phaius (Spathoglottis X Phaius)
  • Tanakara (Aerides X Phalaenopsis X Vanda) 
  • Trichachnis (Trichoglottis X Arachnis) 
  • Trich Oidium (Trichocentrum X Oncidium) 
  • Trich Vanda (Trichoglottis X Vanda) 
  • Vancampe (Vanda X Acampe) 
  • Vandanis (Arachnis X Vandopsis) 
  • Vandachostylis (Vanda X Rhynchostylis) 
  • Vandaenopsis (Phalaenopsis X Vanda) 
  • Van Define Tia (Vanda X Neofinetia) 
  • Vandopsis (Aerides X Vandopsis) 
  • Vuylstekeara (Cochlioda X Miltonia X Odontoglossum) 
  • Wilsonara (Cochlioda X Odontoglossum X Oncidium) 
  • Zygo Bateman (Zygopetalum X Bateman) 
  • Zygocactus (Zygopetalum X Lycaste) 
  • Zygocolax (Zygopetalum X Colax) 
  • Zygonisia (Zygopetalum X Amnesia) 

Chú thích:

– Các nhóm hỗn hợp nhiều giống này được xem là có giá trị, mặc dù đa số chúng gồm những giống lai trong đó có các cây lan chiếm vị trí quan trọng là Rhyncholaelia Digbyana và R. Glauca (các nhà vườn thường gọi là Brassavola), một ít Brassavola thực sự cũng được sử dụng một phần trong các nhóm này.

– Diacrium hiện có liên quan tới giống Caularthron về phương diện thực vật học, nhưng không có ích lợi rõ ràng bằng việc thay đổi tính ngữ của các tập đoàn giống lai đã hoàn toàn ổn định này.

– Ở đây các nhóm nhiều giống này được công nhận là có giá trị, mặc dù có sự đồng thời giáng xuống vị trí bên dưới Laelia của Schomburgkia.

– Việc lai giống hiện nay, chỉ thực hiện được giữa các loài trong nhóm đa thân với nhau và giữa các loài trong nhóm đơn thân với nhau. Chưa có một cây lan nào được lai tạo bằng sự thụ tinh giữa 2 loài của 2 nhóm khác biệt nói trên. Tất nhiên việc lai tạo giữa 2 loài cùng giống thì kết quả sẽ khả quan hơn 2 loài khác giống. Xem thêm các điều kiện môi trường sống thuận lợi cho cây lan.

Lai lan cùng giống:

– Vanda Rothschildiana: Vanda coerulea x Vanda sanderiana.

– Dendrobium Louis Bleriot: D. Phalaenopsis X D. Superbiens.

– Aranda Arthur Dean: Arachnis flos-aeris X Vanda tricolor.

– Aranthera Rainbow: Arachnis moschiferus X Renanthera storiei.

– Aeridovanda Blue Spur: Aerides laurencac X Vanda coerulea

– Renantanda Aloha Tower: Renanthera coccinea X Vanda concolor. fr

– Renanthopsis Firefly: Renanthera storiei X Phalaenopsis denevei. 

– Vandaenopsis Blue Queen: Vanda coerulea X.P Sanderiana.

– Opsisanda Alfonce Heller: Vandopsis Lissochiloides X Vanda Manila.

– Louisiana Uniwar: Luisia teretifolia X Vanda Miss Joaquim.

– Renanopsis Lena Rowold: Vandopsis lissochiloides X Renanthera storiei.

– Trichovunda Ulaula: Trichoglottis brachiata X Vanda Sanderiana.

– Vandanis Premier: Arachnis flos aeris X Vandopsis lissochiloides.

Lai khác giống đối với nhóm đa thân:

– Brassocattleya Frank Lee: Brassavola glauca X Cattleya Pavlova.

– Epicattleya Valencia: Epidendrum brachiophyllum X C. Labiata.

– Laeliocattleya Biceps: Laelia anceps X Cattleya bicolor.

– Schombocattleya Diamond Head: Schomburgkia undulata X C. Skinneri.

3.2. Cách chọn giống cây mẹ

Trước khi bắt tay vào công việc lai giống, ta phải đánh giá các đặc tính ưu việt của cây cha mẹ. Bạn muốn kết quả thật khả quan với những quả chứa nhiều hạt tốt, tỷ lệ nảy mầm cao, cây con sống khỏe mạnh, thì sự lai giống đòi hỏi cây cha mẹ thật tốt về phương diện dinh dưỡng. Xem thêm các tiêu chí xác định giá trị kinh tế của phong lan.

Bạn có thể chọn trong vườn, để lựa các cây cùng loài. Cây nào ra hoa nhiều và đều đặn trong năm, hoa to không khuyết tật, giả hành thật to và bộ rễ phát triển… Đó là những cây cha mẹ lý tưởng mà bạn cần đến.

Ngoài ra, nếu cây được lai giống từ một cây mới được nhập nội, vừa ra hoa lần đầu trong nước, thì cây chỉ được chọn làm cây cha, vì một cây mới du nhập chưa thích nghi lắm với thời tiết Việt Nam lại là một cây mang quả, thì sức khỏe chắc chắn sút kém và cây sẽ kiệt lực. 

Một cây đã thụ phấn và mang quả trong năm vừa rồi, chắc chắn cây sẽ yếu đi, vì thế không nên cho cây thụ tinh trong năm kế tiếp mà phải để cho cây có thời gian nghỉ nhằm mục đích phục hồi sức khỏe. Nếu cây nói trên có nhiều đặc tính tốt không thể thay thế thì chỉ có thể tạm dùng nó như một cây cha.

Trong thời gian thụ tinh, nếu ta thấy cây yếu đi rõ rệt với các giả hành và lá trở nên nhăn nheo, tốt nhất là cắt bỏ trái. Có thể bạn tiếc rẻ vì sắp đạt đến kết quả, nhưng hậu quả có thể làm cho cây chết và lúc ấy bạn chẳng còn gì, lại mất thêm một cây giống quý trong vườn lan đã chọn. Xem thêm cách trồng lan trong chậu treo, trên thân cây.

3.3. Cách trữ phấn khối

Đối với các loài lan khác giống, thường nở vào các mùa khác nhau, có thể sớm hoặc muộn, vì thế nếu không có phương pháp trữ phấn khối, bạn không thể nào tạo được các cây lai xa do mùa hoa nở trái nghịch. Dự trữ phấn khối sẽ đảm bảo sự nảy mầm trong nhiều tháng, nhằm mục đích sử dụng để lai giống trong tương lai mà không giảm tiềm năng của nó.

Công việc tương đối đơn giản, phấn khối bé xíu được lấy ra từ bao phấn bằng một cái que, sau đó được đặt vào một mảnh giấy và đặt trong ống nghiệm hay một lọ thủy tinh nhỏ, các ống nghiệm này được đặt vào một chậu bao kín. 

Dưới đáy chậu đặt một số tinh thể hút ẩm CaCl, để ngăn ngừa sự hình thành các loại nấm mốc trong điều kiện ẩm. Cuối cùng ta trét parafin vào miệng chậu và đặt chậu vào tủ lạnh suốt thời gian tồn trữ. Cá biệt có nhiều loài, phấn khối giữ được sức sống đến 6 năm.

Chú ý: Tất cả dụng cụ dùng để tồn trữ phấn khối phải được khử trùng và thật vệ sinh. Tuyệt đối không để tay chạm vào phấn khối. Trên lọ, phải ghi rõ tên họ cây lan, ngày lấy phấn khối, tránh sự lầm lẫn và để kiểm tra sức sống của hạt phấn. Xem thêm cách chăm sóc hoc lan đúng kỹ thuật, khoa học.

3.4. Thủ thuật lại các loài lan thông thường

Dụng cụ gồm: Một que nhọn cỡ đầu tăm xỉa răng, giấy, tất cả thật sạch.

Phương pháp lai tạo giống lan:

Bước 1: Đưa que tăm ấn vào dưới bìa của nắp phấn, bằng cách ấn nhẹ gót phấn sẽ dính vào que tăm và khi rút ra que tăm sẽ dính theo phấn khối, vì phấn khối có thể bị rớt do những cơn gió bất chợt hay sự rung động của bàn tay ta để một mảnh giấy sạch dưới cuống hoa để tránh phấn khối rơi xuống đất. Không đụng ngón tay hay bất kỳ một dụng cụ dơ bẩn nào đến phấn khối.

Bước 2: Sau đó, đặt phấn khối nhỏ xíu lên trên bề mặt nuốm nhị cái của cây cha hoặc mẹ thứ hai, công việc này thực hiện dễ dàng nhờ bề mặt nuốm luôn luôn có chất nhầy rất dính. Phấn khối được đặt rất sát với bề mặt nuốm. Sự tiếp xúc ít hay tiếp xúc một phần sẽ không tốt cho thụ tinh. Nếu bề mặt nuốm quả nhỏ, ta giảm số phấn khối trên theo tỷ lệ. Nếu bề mặt nuốm rộng, ta đặt toàn bộ phấn khối có được của cây cha trên mặt nuốm. Ví dụ 4 phấn khối cho Cattleya và 8 cho Laelia.

Bước 3: Phấn khối của loài bông lớn được đặt lên nuốm của loài có bông nhỏ, các bông lớn thường cho phấn khối lớn, vì thế khi hạt phấn nảy mầm, ống phấn mới mọc dài đến bầu noãn và gây ra sự thụ tinh. Đặt ngược lại thường không có kết quả.

Bước 4: Một nguyên tắc được đặt ra là, phấn khối được lấy sau 3 ngày khi hoa nở đối với các loài hoa hoặc một tuần lễ đối với các loài hoa lâu tàn. Có như vậy, cơ quan đực và cái mới thực sự chín muồi để sự thụ tinh được kết quả.

Bước 5: Không khí quá ẩm là điều kiện bất lợi cho sự thụ phấn. Các phấn khối do độ ẩm cao sẽ tạo ra các vỏ bọc hình thành những chỗ lồi, điểm sơ khởi của ống phấn, nhưng phấn ấy không lớn lên được vì không ở môi trường thuận lợi và bị dừng lại đó. Vì thế nếu không được dùng phấn khối sẽ bị hư. Không được để phấn hoa ra ngoài khí ẩm trước khi dùng. Tốt nhất là, lấy phấn hoa tại chỗ và dùng liền. Có thể được, ta mang cả hai đối tượng vào phòng kín, khô ráo để tiến hành lai tạo, hoặc chọn những ngày đẹp trời vào giữa trưa.

Bước 6: Để tránh kết quả, cho ra một cây lai hỗn hợp khó xếp loại, ta không nên đặt phấn khối của nhiều loài lên cùng nuốm của cây mẹ, tốt hơn hết chỉ nên lấy duy nhất của một cây cha muốn lai vì sự hỗn hợp phấn khối nhiều loài sẽ gây ra mức độ dị hợp tử cao. Xem thêm các loại sâu bệnh hại lan thối rễ, rụng lá và thuốc trị.

3.5. Thủ thuật lai giống lan hài

Tất cả các loài lan, đều được lai theo cách thức trên, trừ loài lan Hài thuộc họ phụ Cypripedilinae. Đây là những loài cổ nhất, với cấu trúc trụ (column) rất khác biệt với các loài khác trong họ. Đây là loài có 3 nhị đực: 2 nhị hữu thụ và 1 nhị bất thụ với cấu trúc khác biệt ở thể hình thuẫn gọi là Staminode hay Stamodium (nhị lép) nhị này ở phía trước Column, 2 nhị kia với phấn dạng hạt hay bột nằm phía trên của trụ, dưới và sau nhị lép. 

Nuốm có chất nhầy dính tương tự các loài hoa khác. Dùng phấn khối của 2 nhị hữu thụ đặt lên nuốm nhị cái và tiến trình giống như đã nói trên. Tuy nhiên đối với lan Hài, hạt phấn nên được dùng ngay lập tức, sau khi lấy khỏi hoa (vì nó không chịu đựng một sự tồn trữ trong bất kỳ thời gian nào).

Ngoài ra, không những cần có một tỷ lệ hạt giống nhỏ sản sinh bởi những loài lan này, mà sự nảy mầm của hạt là việc khó thực hiện so với các loài khác. Xem thêm thuốc trị bệnh nấm, thán thư, vàng lá cho cây lan.

3.6 Thủ thuật lai giống lan Catasetum

Đối với đa số các loài thuộc giống Catasetum có cấu tạo hoa đực và cái khác nhau nên muốn thụ tinh bạn phải có hoa của 2 phái.

4. Kết quả khi lai giống lan

Nếu sự lai tương hợp về mặt di truyền, thì trước tiên cuống hơi rũ xuống rồi đến các phiến hoa, bầu noãn bắt đầu lớn lên trong vài ngày, cánh và đài hoa héo rồi rụng đi. 

Cũng có loài hoa sau khi thụ phấn, hoa lâu tàn so với các loài lan khác như Cypripedium, Zygopetalum Colax… hoa lại dày lên và co lại. Rồi khô đi với màu nhạt. Một loài khác như Phalaenopsis lueddemanniana, có một bao hoa kiên cố và còn tăng kích thước sau khi thụ phấn, tuy rằng màu sắc có nhạt đi. 

Nhiều nhà trồng lan cẩn thận kẹp hay ghim lại cánh hoa, lá đài, môi bao xung quanh trụ, chỉ để lại 1,2cm mỗi hoa ngay sau khi hoa vừa thụ phấn. Cách làm này nhằm ngăn chặn nấm mốc xuất phát từ những bộ phận hoa đang thối đi.

Vỏ quả dần dần tạo nên từ bầu noãn trương phồng. Cuối cùng sẽ thành thục trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm sau khi thụ phấn. Tuổi thành thục của quả địa lan ngắn hơn phong lan. Ngay sau khi quả ứng vàng hay ửng nâu, ta dùng túi bằng giấy hay bằng nilon cột chặt quanh để ngừa mất hạt. Bạn nhớ nhẹ tay, cuống lan rất dễ gãy.

Để đảm bảo tránh nhiễm nấm, hạt nên lấy khỏi trái bằng một dụng cụ khử trùng. Nếu lấy mẫu của hạt khảo sát dưới kính hiển vi để kiểm tra sinh lực của nó. Những hạt chứa một tiền phôi tròn trĩnh ửng xanh lá cây hay ửng nâu, bên trong có một vỏ giống như màng nhện phức tạp có thể xem là hạt tốt. 

Trong khi đó những hạt không có tiền phôi hay có tiền phôi nhăn nhúm là vô giá trị. Tỷ lệ phần trăm hạt có tiền phôi càng cao thì tỷ lệ nảy mầm của hạt cũng càng cao khi gieo cấy. Xem thêm cách diệt các loại côn trùng kiến gián rệp hại lan.

5. Cách lai cấy giống lan lai

Ở Việt Nam, loài lan lai được biết đến đầu tiên là giống Cymbidium (được trồng ở Đà Lạt năm 1957), nhưng sự nhập nội này chỉ thực sự phát triển mạnh kể từ năm 1965 tại thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm hầu hết các giống lan lai hiện có trong khắp các tỉnh phía Nam).

Tuy nhiên, trong khoảng thời gian ấy, nhà vườn thường mua những cây lan mẹ đã lai sẵn ở nước ngoài. Ta chưa có một cơ sở lai tạo và nhân giống lan trên cơ sở khoa học, vì thế việc ghi lại phả hệ các loài lan nhập nội chưa được chính xác. 

Sự thiếu quan tâm này, đã làm cho những người trồng lan, thường nhầm lẫn trong việc gọi tên một số loài lan lại hiện có và nhiều khi lại lẫn lộn giữa lan lai và lan rừng.

5.1 Cách đặt tên lan lai

Đầu tiên mỗi loài lan lại thường được đặt những cái tên riêng biệt. Cái tên này thường để tỏ lòng tôn kính người khởi phát ra nó. Ví dụ:

  • Cypripedium Harrisianum.
  • Calanthe Dominyi.

Khi sự lai giống lan phát triển với số lượng cây lan mới quá nhiều thì cách đặt tên được sử dụng dưới nhiều hình thức. Ví dụ tên được đặt chỉ những người có liên hệ tới lan dưới bất kỳ hình thức nào hay là những bậc vĩ nhân của thế giới Cattleya Stalin No. 4, Dendrobium Caesar Alba… Cũng có thể cây lan lại được đặt tên theo địa lý hoặc tên có ý nghĩa nào đó đầy sáng tạo: Vanda Manila, Dendrobium Dendrobium Bangkok Night, Dendrobium American Beauty, Vandaenopsis Blue Queen, Firefly BLC Césil Simon Flamboyant, Renanthopsis. 

Ngoài ra, nếu cây lai từ 2 cây cha mẹ cùng giống, thì tên giống cây lai sẽ đơn giản chính là tên giống của cây cha mẹ, nếu 2 cây cha mẹ khác giống nhau, thì tên giống của cây lai là sự ghép tên của 2 giống cha và mẹ. Ví dụ

  • Laeliocattleya: Laelia x Cattleya.
  • Phaiocalanthe : Phaius x Calanthe.

Sự ghép tên cũng tương tự đối với 3 giống: Brassolaeliocattleya: Brassavola x Laelia x Cattleya. 

Còn từ 4 giống trở lên, vì chữ ghép quá dài nên được thay thế bằng một tên khác như: hoansgara, Polinara, Burageara.

5.2 Cách viết tên khoa học và tên thương mại các loài lan lai

Lý do dùng tên khoa học:

Việc sử dụng tên khoa học ngày càng trở nên thông dụng, có thể nói đây là thứ ngôn ngữ dễ dàng liên hệ và cảm thông cho các nhà chơi lan trên toàn thế giới. 

Hoa lan ngày nay không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia hay khu vực mà mà một loài hoa của quốc tế. Nếu không có tên khoa học để xác định lên một loài lan thì sự khác biệt về ngôn ngữ sẽ gây khó khăn cho việc trao đổi thông tin. 

Theo chúng tôi, phải tạo thành tập quán sử dụng tên khoa học trong phạm vi quốc gia về lan lai cũng như lan rừng. Việc sử dụng nhầm lẫn tên địa phương sẽ gây ra nhiều phức tạp. 

Bạn muốn có một cây lan thủy tiên chơi Tết phải không? Chỉ có 1 loại thủy tiên Dendrobium farmeri trong năm loài khác nhau nở hoa đúng Tết còn có các loài khác D. densiflorum, D. amabile thì nở hoa vào tháng 4, 5, D. thyrsiflorum, D. harveyanum nở hoa vào tháng 8. Xem thêm cách trồng lan mới mua nở hoa tốt, phát triển nhanh.

Nếu có người mách bạn, Thạch hộc là loài lan có vị thuốc trị yết hầu và đau cổ, với bốn cây lan có tên Thạch hộc sau đây bạn sẽ chọn cây nào

– Dendrobium nobile.

– Dendrobium podagraria.

– Dendrobium cretaceum.

– Dendrobium crumenatum.

Có người ngoại quốc hỏi bạn Việt Nam có lan Đuôi cáo hay không? Nếu bạn không hỏi tên khoa học và trả lời vội vàng coi chừng lầm lẫn đấy. Vì lan Đuôi cáo (Foxtail orchids) gồm các loài có dạng hoa giống Đuôi cáo như sau :

– Rhynchostylis gigantea.

– Rhynchostylis coelestis.

– Rhynchostylis retusa.

– Aerides multiflora.

Ngoài ra nếu không có tên khoa học, bạn có thể nhầm lẫn với các cây hoàn toàn xa lạ với cây lan. Sự nhầm lẫn này không thể nào chấp nhận được:

– Lan Hoa hậu (cây móng bò): Bauhinia purpurea, họ Caesalpiniaceae.

Các tên giống, loài thứ luôn luôn viết nghiêng hoặc viết đứng gạch dưới, hay viết đứng tô đậm, để nhìn vào, tên khoa học luôn luôn khác biệt với các chữ khác.

Tên giống luôn luôn viết hoa, tên loài và thứ luôn luôn viết thường.

Tên tác giả viết đứng, tất nhiên là phải viết hoa, nếu viết tắt phải có dấu chấm.

Chữ var, viết đứng, viết thường.

Thường để ngắn gọn đôi khi người ta chỉ viết tên giống loài và thứ. Còn tên tác giả và năm tìm kiếm không được viết.

Lan lai:

– Cymbidium Jungfrau var Snow Queen.

– Aranthera RainBow.

– Schombocattleya Diamond Head.

– Brassocattleya Frank Lee.

Chỉ trừ chữ var, tất cả các tên giống, loài thứ đều viết hoa để phân biệt với các loài lan rừng đây là nguyên tắc bắt buộc.

5.3 Sự lầm lẫn trong việc dùng tên khoa học và thương mại của các loài lan lai

Hiện nay tên lan lại được sử dụng dưới 2 danh pháp : một danh pháp thực vật đúng và một danh pháp được chấp nhận bởi các nhà vườn và những nhà lai giống lan. Ví dụ : Schomburgkia, tạm thời được xem là bộ phận của Laelia, những cây lai của Schomburgkia với Laelia là Schombolaelia mà danh từ kỹ thuật đúng chỉ là Laelia, tương tự giữa Schomburgkia với Cattleya là

– Var. Wurocewiezii.

– Var. Gaskelliana.

– Var. Lueddemanniana.

– Var. Mossiae. 

Các nhà trồng lan Việt Nam thường dùng lẫn lộn giữa cây Schombocattleya và Sophrocattleya cùng viết tắt là SC. Chẳng hạn như SC Hom Laeliocattleya và Sophrolaeliocattleya cũng viết tắt là SLC. Sự viết tắt này đưa đến một hậu quả rất tai hại vì loài lan SLC có họ hàng với giống Sophronitis cần nhiệt độ mát, trái lại loài lan SLC có họ hàng với giống Schomburgkia cần nhiệt độ cao hơn. Vì thế phải sửa lại chữ viết tắt là LC cho cả Schombocattleya và Schombocattleya Schomburgkia đã nhập vào Laelia.

Cần phải nói ở đây, loài Dendrobium phalaenopsis hoặc loài Dendrobium bigibbum. Có người cho rằng đây là loài được lai từ 2 giống Dendrobium và Phalaenopsis. 

Một sự lầm lẫn như thế không chấp nhận được vì không có một cây lan nào được lai từ 2 giống kể trên và ngay cả giống Dendrobium là giống mà hiện nay chưa có người nào lai tạo thành công với một giống khác. 

Thực ra Dendrobium phalaenopsis là một loài lan rừng có nhiều ở châu Úc và Niu Ghinê. Đây là giống Dendrobium có dạng hoa giống Phalaenopsis nên mới được đặt tên như thế, vì các giống lan lại như Dendrobium Pompadour, D. Lady Hamilton, D. American Beauty, D. Hickam Deb. Đây là những loài hoa có dạng tròn, nên chắc chắn rằng ít nhiều có họ hàng với các loài Dendrobium phalaenopsis rừng của châu Úc nói trên.

5.4. Giải thích tên giống của một số lan thông dụng

Etym. (Từ nguyên học), grec, (Hy Lạp):

  • Aerangis Reichenbach fils, 1865. Etym: grec, aer, không khí, và angos, tàu thủy, có lẽ liên tưởng đến cái cựa (mũi) dài của các loại khác nhau.
  • Aeranthes Lindley, 1824. Etym: grec, aer, không khí, anthos, hoa hay các hoa trên không được treo ở cán hoa rất mảnh chỉ vừa đủ thấy.
  • Aerides Loureiro, 1790. Etym: grec, aer, không khí, liên tưởng đến đặc tính phụ sinh của những cây này.
  • Angraecum Bory, 1804. Etym: tù chữ angurch, tù Mã Lai được La tinh hóa của nhiều loài trong giống gợi lại dáng dấp của Vanda hay Aerides.
  • Arachnis Blume, 1825. Etym: grec, arachne, con nhện, do sự giống nhau giữa hoa và con nhện thông qua hình dạng của hoa và các vết tô điểm trên hoa.
  • Arundina Blume, 1825. Etym: Latin, arundo, cây sậy, cây có dáng dấp của cây sậy.
  • Ascocentrum Schlechter, 1913. Etym: grec, acos, túi, kentron, (cựa) vì cái cựa có kích thước tương đối lớn treo từ cái cánh môi, có dạng cái túi.
  • Bletia Ruiz và Pavou, 1794. Etym: giống do Pou Louis Blet, cùng thời với các cuộc thám hiểm của Ruiz và Pavo tại Peru và Chile, 1777. 1788.
  • Brassavola R. Brown, 1813. Etym: giống do Brassavola, nhà thực vật học Ý.
  • Brassia R. Brown, 1813. Etym: giống do William Brass, nhà thực vật học đi chu du.
  • Brassocattleya Hort. Etym: từ Brassavola và Cattleya.
  • Brassolaeliocattleya Hort. Etym: tên gộp từ 3 giống Brassavola, Laelia và Cattleya, là các bố mẹ của cây lai này.
  • Bulbophyllum Petit Thouars 1822. Etym: grec, bulbos, hành và phyllum, lá, có lá trên ngọn các hành.
  • Calanthe R. Brown, 1821. Etym: grec, kalos, đẹp và anthos, hoa, hoa đẹp. 
  • Catasetum L. C Richard, 1822. Etym: grec, kata, trên và Latinh, sela, lụa. Ở các loài được mô tả đầu tiên thì trụ nhị nhụy mang hai sợi lụa dài.
  • Cattleya Lindley, 1824. Etym: giống do William Cattleya, người chơi lan Anh nổi tiếng và là người trồng những cây hiếm có tại Herts (Anh).
  • Coelogyne Lindley, 1825. Etym: grec, koilos, trũng (rỗng) và gune, cái (+). Nhụy thì rỗng.
  • Cycnoches Lindley, 1833. Etym: grec, kynos, thiên nga, và auchan, cổ. Trụ nhị nhụy của hoa đực dài uốn cong như cổ thiên nga.
  • Cymbidium Swartzm 1799. Etym: grec, kumbols, hốc. Cánh môi hình lõm như là rỗng lãm.
  • Cypripedium Linnaeus, 1753. Etym: grec, kypris, vệ nữ, pedi (1) on, dép mềm đi ở nhà. Hài của vệ nữ.
  • Dendrobium Swartz, 1799. Etym: grec, dendron, cây gỗ và bio, sống. Giống phụ sinh trên cây gỗ.
  • Doritis Lindley 1833. Etym: grec, dory, lao, vì cánh môi nhọn. Theo ý kiến khác thì cây này có thể do Doritis, một trong những tên của Nữ thần Aphrodite.
  • Epidendrum Linné, 1763. Etym: grec, epi, trên và dendron, cây gỗ. Cây phụ sinh sống trên cây mộc.
  • Eria Lindley, 1825. Etym: grec, erion, len (nỉ). Là của một vài loài làm như có lông tơ.
  • Euanthe Selector, 1914. Etym: grec, euanthes, sự ra hoa, do vẻ đẹp của các hoa của chúng.
  • Habenaria Wildenou K.L., 1805. Etym: Latinh, habana, dây cương, dây cánh hoa thường có dạng một cái cựa.
  • Haemaria Lindley, 1826. Etym: grec, haima, màu. Lá của một vài loài màu tím ở mặt dưới.
  • Laelia Lindley, 1831. Etym: giống do Caius Laelius, nhà triết học và diễn giả La Mã.
  • Laeliocattleya. Etym: từ Laelia và Cattleya.
  • Lycaste Lindley, 1843. Etym: giống do Lycaste, người đàn bà của thời cổ nổi tiếng nhờ vẻ đẹp.
  • Masdevallia Ruiz và Pavou, 1794. Etym: giống do Joseph Masdival, nhà thực vật học Tây Ban Nha.
  • Maxillaria Ruiz và Pavou, 1794. Etym: Latinh, maxilla, hàm. Hoa của vài loài giống cái hàm.
  • Miltonia Lindley, 1837. Etym: giống do bá tước F. W. Milton, nhà chơi lan Anh.
  • Oncidium Swartz, 1800. Etym: grec, ongkos, khối u. Các củ ở gốc của cánh môi giống như khối u.
  • Paphiopedilum Pfitz, 1886. Etym: grec, paphia, từ paphos, tính ngữ của Vénus (Vệ nữ), presdilon, hài, vì cánh môi có dạng một cái guốc.
  • Phaius Loureiro, 1790. Etym: grec, phaios, nâu. Màu nâu là màu ưu thế của giống.
  • Phalaenopsis Blume, 1825. Etym: grec, phalaina, bướm và opsis, sự giống nhau. Trong một số loài, các hoa giống con bướm.
  • Phragmipedium Rolfe, 1896. Etym: grec, phragma, sự ngăn, sự phân chia và Pedi (1) on, guốc, liên tưởng đến các sự phân chia của bầu noãn “ba mắt” và cành hoa dạng guốc.
  • Renanthera Loureiro, 1790. Etym: grec, rên, thận, và anthera, bao phấn. Bao phấn có dạng một cái thân, một hạt đậu.
  • Rhyncholaelia Schlechter, 1918. Etym : grec, rynchops, mõm và Laelia, giống lan. Liên tưởng đến trái kéo dài so với trái của Laelia.
  • Saccolabium Blume, 1825. Etym: Latinh, saccum, túi và labium, môi. Cánh mỗi có dạng cái túi.
  • Schomburgkia Lindley, 1838. Etym: giống do Dr. Richard Schomburgk, nhà thực vật học đi chu du.
  • Sophronitis Lindley, 1828. Etym: grec, sophron, khiêm nhường. Cây có kích thước nhỏ.
  • Thunia Reichenbach fils, 1852. Etym: giống cho bá tước von Thun Hohenstein de Tesschin.
  • Vanda R. Brown, 1795. Etym: Vanda, từ của tiếng Phạn của nhiều loài thuộc giống này.
  • Vanilla Swartz, 1799. Etym: từ tiếng Tây Ban Nha vanilla, quả đậu nhỏ. 
  • Zygopetalum Hooker, 1827. Etym: grec, zygon, sự nối liền, sự liên hệ và petalon, cánh hoa. Các bộ phận của bao hoa, (lá đài và cánh hoa) được gắn vào gốc (đế) của trụ cột.
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :