Home / Trang Trại / 10 chất điều hòa sinh trưởng thực vật, cây trồng phổ biến

10 chất điều hòa sinh trưởng thực vật, cây trồng phổ biến

/

Chất điều hòa sinh trưởng cây trồng, thực vật là gì? Tác dụng và những loại thuốc phổ biến trên thị trường hiện nay.

chất điều hòa sinh trưởng thực vật

1. Vai trò chất điều hòa sinh trưởng thực vật là gì?

1.1. Chất điều hòa sinh trưởng là gì?

Chất điều hòa sinh trưởng là các hợp chất hữu cơ hay nhân tạo mà tác động sự phát triển và nhân giống. Chúng sản sinh trong cây (như phát triển nụ) để kiểm soát sự phát triển.

1.2. Vai trò chất điều hòa sinh trưởng

Chất điều hòa sinh trưởng là những chất hoặc được ly trích từ thực vật hoặc được tổng hợp nhân tạo để bắt chước các hóa chất có trong tự nhiên hoặc những hóa chất có khả năng kích thích sự tăng trưởng của cây trồng. Trong tự nhiên, các hormones đóng vai trò điều hòa sự nở hoa, kết trái, tích lũy chất dinh dưỡng và ngủ nghỉ. Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật và các hormone được dùng để điều chỉnh sự tăng trưởng của cây, thúc đẩy sự sản xuất trái, tỉa bớt lá để dễ thu hoạch hoặc loại trừ những cây mọc không mong muốn. Đọc thêm 50 loại cây trồng trong nhà tốt cho sức khỏe và cách chăm sóc đúng kỹ thuật.

2. Các nhóm chất điều hòa sinh trưởng thực vật phổ biến hiện nay

2.1. Alpha Naphthalene Acetic Acid (NAA)

Tính chất: Thuốc nguyên chất ở dạng rắn màu trắng, tan ít trong nước, thuộc nhóm độc III, LD50 qua miệng 1000 – 1275 mg/kg. Thuốc có tác dụng kích thích sự nảy mầm của hạt giống, kích thích ra hoa, tăng tỉ lệ đậu quả, kích thích sinh trưởng, tăng kích thước và trọng lượng quả. 

Sử dụng: HQ-301 Fructonic 1% DD và Flower 95 – 0,3 DD dùng kích thích nảy mầm hạt lúa pha nước với nồng độ 10 ml trong 200l nước, ngâm hạt 24 giờ trước khi ủ hay gieo. Kích thích ra hoa, tăng đậu quả cho cây ăn trái (xoài, nhãn, vải, cam, quýt, sầu riêng, mận, táo, nho,…) pha nồng độ 10ml trong 10 – 15 l nước. Kích thích tăng trưởng cho lúa, cà chua, đậu, bông,… pha nồng độ 10ml trong 8 – 10 lít nước. Đọc thêm 31 cách trồng và chăm sóc cây trong nhà giúp sinh trưởng tốt, ra hoa đúng thời điểm.

2.2. Acid Gibberellic (GA3) 

Tính chất: Acid gibberellic là chất rắn, điểm nóng chảy 210 – 2350 C, tan ít trong nước (5g/l). Nhóm độc III, LD50 qua miệng 1.000 – 2.500 mg/kg. 

Sử dụng: kích thích hạt và củ nảy mầm nhanh và đều. Kích thích phát triển thân và lá, ra hoa đồng loạt, hạn chế rụng hoa và quả, kích thích phát triển quả, quả lớn và chín đồng loạt. Progibb 10SP pha 1 g trong 20 – 30 l nước. 

Với lúa, ngâm hạt giống trong 36 giờ trước khi ủ, ngâm rễ mạ trong 10 – 20 giờ hoặc phun lên lá mạ trước khi nhổ cấy 2 – 5 ngày, phun cho lúa khi bắt đầu có đòng và trước khi trỗ. 

Với rau ăn lá, dưa, bầu, bí, đậu cô-ve, cà chua, cà tím, hành, tỏi,… phun sau khi trồng 7 – 10 ngày, sau đó cách 10 – 15 ngày phun 1 lần cho đến sau khi kết quả hoặc trước khi thu hoạch 20 – 30 ngày. Đọc thêm 23 cách chăm sóc cây cảnh trong nhà, ngoài vườn, ở ban công, trên gác mái đúng kỹ thuật.

2.3. Cytokinin (Zeatin)

Cytokynins, trước đây gọi là kinins, đóng vai trò chính trong môi trường nuôi cấy mô để phân cắt tế bào và sự tăng trưởng của chồi nhánh. Chúng giúp làm chậm sự lão hóa, và tác động chuyển hoá auxin. Nếu việc nuôi cây quá ốm yếu, tăng lượng Cytokinins sẽ giúp việc nuôi trồng ngắn hơn, thân mầm khoẻ chắc.

Tính chất: Zeatin và các chất nhóm Cytokinin khác (như Adenin, Kinetin) là những chất điều hòa sinh trưởng được tổng hợp trong cây, có khả năng kích thích sự phân chia và tăng trưởng của tế bào, kích thích sự phân hóa chồi, kìm hãm sự hóa già của cây. 

Sử dụng: Agrispon thường được sử dụng chung với thuốc Sincosin (trừ nấm và tuyến trùng). Xử lý hạt giống, pha 20ml Agrispon và 20ml Sincosin với 1l nước, ngâm hoặc phun lên hạt giống trước khi ủ hoặc gieo. Thời gian ngâm tùy theo loại hạt giống. 

Với các loại rau, màu (rau cải, cà chua, dưa leo, bầu, bí, khoai tây, hành, bắp, lúa…), pha 5ml Agrispon và 5ml Sincosin với 20l nước, phun sau khi trồng 10 ngày và khi ra hoa, đậu quả. 

Với các cây ăn quả, pha 5 – 10 ml Agrispon và 5 – 10 ml Sincosin 20l nước tưới vào rễ. 

Với hoa lan và các loại hoa kiểng, pha 10ml Agrispon và 10ml Sincosin với 8l nước, phun lên cây mỗi tháng 1 lần. 

2.4. Ethephon (Ethrel)

Tính chất: Tan nhiều trong nước (1 kg/l ở 23 độ C) và trong nhiều dung môi hữu cơ, vững bền ở pH ≤ 3. Nhóm độc III, LD50 qua miệng 3030 mg/kg, LD50 qua da 1560 mg/kg. Tác dụng của Ethephon là khí Ethylen do nó sinh ra (CH2=CH2) Ethylen xúc tiến sự chín của quả, kích thích ra hoa của 1 số cây (dừa, xoài), tăng tỉ lệ hoa cái (dưa, bầu bí), gây nên sự rụng của lá, hoa và quả, kích thích sự tiết nhựa của những cây có mủ. 

Sử dụng: Bôi vào miệng cạo cao su để tăng sản lượng mủ. Chế phẩm 2,5% Ethephon dùng 1 – 2 g/cây cao su cho 1 lần bôi, khoảng 3 – 4 tuần bôi 1 lần. Thuốc được bôi 1 lớp mỏng ngay trên mặt cạo tái sinh tiếp giáp với miệng cạo, bôi 48 giờ trước khi cạo. 

Kích thích ra hoa cho xoài, nhãn, vải, thanh long, dứa,… chế phẩm Ethrel 480l pha nước nồng độ 0,1% phun lên tán lá, sau 30 – 40 ngày sẽ trổ hoa. Pha nồng độ 0,03 – 0,05% phun cho cà chua, ớt, táo, cam, thanh long… trước khi thu hoạch 15 – 20 ngày làm quả chín sớm và đồng loạt. Pha nồng độ 0,02 % phun cho dưa, bầu, bí khi cây có 2 – 4 lá sẽ tăng tỉ lệ hoa cái. Pha nồng độ 0,03 – 0,05% phun lên lá thuốc lá trước khi ủ làm lá chín vàng và đều. 

2.5. Mepiquat Chloride

Tính chất: Nguyên chất dạng rắn, màu trắng xám, điểm nóng chảy 2230 C, tan ít trong ethanol, acetone (0,2 g/kg ở 200 C), tan trong nước. Nhóm độc II, LD50 qua miệng 464 – 520 mg/kg, LD50 qua da > 5000 mg/kg. Ít độc với cá (LC50 > 100 mg/l với cá hồi), không độc với ong. Mepiquat chloride có tác dụng ức chế Gibberellin, do đó hạn chế sự phát triển theo chiều dài của tế bào, làm đốt thân ngắn lại nên cây cứng và chống đổ ngã, hạn chế sự phát triển chồi non, kích thích phát triển hệ rễ và củ dưới đất, tăng sức đề kháng của cây, tăng hiệu suất sử dụng phân bón. Có thể sử dụng cho nhiều loại cây như bông, lạc, đậu tương, khoai tây, cà chua, nho,… 

Sử dụng: Animat 97WP dùng phun cho cây lạc 2 lần, lần 1 trước khi cây ra hoa (20 – 25 ngày sau gieo), lần 2 sau 15 ngày, liều lượng mỗi lần 40 g/ha. Phun cho cây bông 3 lần, lần 1 sau khi bông mọc 35 ngày, cách 20 ngày phun 1 lần, liều lượng mỗi lần phun tăng dần theo sinh trưởng cây, từ 20 – 40 g/ha. Lượng nước phun 400 – 600 l/ha. 

2.6. Nucleotide

Là thuốc điều hòa sinh trưởng nguồn gốc sinh học. các Nucleotide chỉ đạo việc hình thành các tế bào và các men trong quá trình sinh trưởng của cây. 

Tính chất: Các amino acid là thành phần cơ bản để tạo nên protein và có tác dụng kháng khuẩn. Acid Fulvic xúc tiến quá trình hấp thụ và tổng hợp chất dinh dưỡng để tạo thành protein và các men trong cây. 

Thuốc có tác dụng sinh lý nhiều mặt như kích thích ra rễ, làm cho hạt giống nảy mầm nhanh và đều, tăng diệp lục tố để nâng cao hiệu quả quang hợp của cây, tăng cường hoặc động của các men để nâng cao hoạt động trao đổi chất và tăng sức đề kháng với vi sinh vật gây bệnh và các điều kiện bất lợi, cuối cùng là tăng cường sự sinh trưởng và phát triển của cây, tăng năng suất và chất lượng nông sản. 

Sử dụng: Lục Phong 95 0,05l dùng kích thích sinh trưởng cho lúa, chè, các loại rau, màu, cây ăn quả và cây công nghiệp. Pha nước với nồng độ 0,2% (1/500), phun ướt đều lên toàn cây. Phun 2 – 3 lần cách nhau 15 ngày ở thời kỳ cây đang sinh trưởng đến trước khi ra hoa. Không pha chung với thuốc có tính kiềm. Xử lý hạt giống pha nước tỉ lệ 1/500, ngâm hạt giống 12 giờ trước khi gieo. 

2.7. Oligo-Sacarit 

Tính chất: Oligo-Sacarit được chiết xuất từ loài rong biển nâu (Sargassum) và được xử lý bằng tia Gamma Co 60. Trong thành phần phụ gia còn có thêm 1 số Amino acid và hormon kích thích sinh trưởng. Kích thích nảy mầm và ra rễ của hạt giống, kích thích phát triển của rễ, thân, lá và quả, tăng khả năng đề kháng của cây trồng với sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt, kéo dài thời gian bảo quản nông sản. 

Sử dụng: có thể sử dụng cho lúa, rau, màu, cây ăn quả, cây công nghiệp, hoa và cây cảnh. Pha 10 – 15 ml cho 1 bình 8l nước, phun ướt đều tán lá cây, trung bình 10 – 15 ngày 1 lần từ khi gieo trồng đến trước khi thu hoạch 5 – 20 ngày tùy loại cây. 

2.8. Paclobutrazol 

Tính chất: Thuốc nguyên chất dạng rắn, màu trắng, tan trong nước 5%, tan ít trong các dung môi hữu cơ, nhóm độc III, LD50 qua miệng 5346 mg/kg. Là chất đối kháng với Gibberellin, tác dụng ức chế sinh trưởng cây trồng, sử dụng tưới vào gốc để kích thích ra hoa cho một số cây trồng như xoài, sầu riêng. 

Sử dụng: Chế phẩm Paclobutrazol 10% dùng kích thích ra hoa cho xoài, sầu riêng pha 10g với 5 – 10 l nước tưới gốc cho 1m đường kính tán cây, khi lá đọt chuyển màu xanh đọt chuối. 

Thuốc ức chế sinh trưởng cây và lưu tồn tương đối lâu trong đất nên tưới thuốc 1 năm nghỉ 1 – 2 năm và bón phân đầy đủ để không hại cây. Sau khi tưới Paclobutrazol khoảng 2 tháng phun KNO3 để kích thích cây ra hoa. Ngoài ra còn dùng kích thích sinh trưởng cho cây lạc, lúa,…

2.9. Auxins

Auxins tác dụng tăng dài các tế bào, phát triển rễ và chồi tự hình thành. Chúng ngăn chặn sự phát triển chồi nhánh (điều này chồi bảo đảm tính di truyền ổn định). Auxins thông thường dùng trong môi trường nuôi cấy mô, hoặc là phối hợp với cytokinins lúc tăng dài của thân hoặc không có cytokinins cho bộ rễ.

2.10. Gibberellins

Gibberellins là một nhóm của chất liệu thiên nhiên xuất hiện với tác dụng phát triển tế bào và kích thích sự tăng dài của thân. Năm 1926 E. Kurasawa (người Nhật) ghi lại rằng việc nhiễm một loài nấm mốc (tên Gibberella fujikuroi), kết quả là hạt lúa phát triển nhanh hơn bình thường. Chất liệu đó là axit gibberellic, mà sau đó được người ta đã phân lập và kết tinh từ cả nấm mốc và thực vật.

Đọc thêm:

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :