Home / Trang Trại / 20 sâu bệnh hại phong lan: biểu hiện, thuốc trị, phòng trừ

20 sâu bệnh hại phong lan: biểu hiện, thuốc trị, phòng trừ

/

Để phong lan nở hoa đúng thời điểm, phát triển khỏe mạnh không thể thiếu cách phòng trừ sâu bệnh hại phong lan bằng thuốc đặc trị.

các loại sâu bệnh hại lan

1.1. Bệnh đen thân cây con

Đặc điểm triệu chứng:

– Vết bệnh xuất hiện ở gốc thân hoặc cổ rễ, màu nâu, sau đó lớn dần làm khô tóp đoạn thân gần gốc và cổ rễ, thân gốc có màu đen. Các lá phía trên chuyển sang màu vàng, cong queo dị hình.

– Cây con thường chết sau 2-3 tuần bị nhiễm bệnh. Trong căn hành thường có một dải màu tím hoặc màu hồng nhạt. Các giống lan đều bị bệnh, hại nặng ở giống Dendrobium.

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Fusarium oxysporum gây ra.

Biện pháp phòng trừ: Nên tách những cây bị bệnh riêng và phòng trừ cho những cây còn lại bằng cách phun hay nhúng cả cây vào thuốc trừ nấm. Nếu cây lớn hơn thì cắt bỏ phần thối rồi phun thuốc diệt nấm.

Các loại thuốc diệt nấm hại phong lan: Carboxin 1/2000 (1g thuốc hòa trong 2 lít nước); Zineb 3/2000; Benlat 1/2000. Xem thêm cách diệt các loại côn trùng kiến gián rệp hại lan.

1.2. Bệnh đốm lá trên lan

Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh thường có hình thoi hoặc hình tròn nhỏ (đường kính trung bình 1mm), màu xám nâu, xuất hiện ở mặt dưới lá. Bệnh nặng làm lá vàng, nhanh chóng rụng, cây cằn cỗi, sinh trưởng kém. Bệnh đốm đen trên lá phong lan gây hại phổ biến trên giống lan Oncidium và Dendrobium.

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Cercospora Sp gây ra.

Biện pháp phòng trừ: Bệnh thường phát sinh phát triển trong mùa mưa ở những vườn lan có độ ẩm cao và những vườn có hiện tượng thiếu lân, do đó có thể chăm sóc chu đáo kết hợp với phun thuốc trừ nấm để hạn chế bệnh

1.3. Bệnh thán thư

Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh thường tròn, nhỏ, màu nâu vàng, xuất hiện từ mép lá, chót lá hoặc giữa phiến lá, kích thước bình từ 3-6 mm. Giữa vết bệnh hơi lõm màu xám trắng, xung quanh có gờ nhỏ, màu nâu đỏ, trên mô bệnh có nhiều chấm nhỏ màu đen là đĩa cành của nấm gây bệnh. Bệnh thường hại nặng trên giống Oncidium.

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra.

Biện pháp phòng trừ: Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa nên phải phòng trừ trước. Thường cắt bỏ lá vàng rồi phun thuốc diệt nấm 1 hoặc 2 tuần phun 1 lần. Trong mùa mưa cần phun 5-7 ngày/lần. Xem thêm cách kích thích hoa lan nở đúng mùa, đúng vụ.

1.4. Bệnh thối nâu vi khuẩn

Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh màu nâu nhạt, hình tròn mọng nước, về sau chuyển sang màu nâu đen. Bệnh hại cả lá, thân, mầm, làm các bộ phận đó bị thối (kèm theo có mùi khó chịu). Bệnh hại nặng trên giống lan Oncidium và một số giống lan khác.

Nguyên nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra.

Biện pháp phòng trừ: Cắt bỏ phần thối rồi nhúng cây vào nước thuốc Natri Phenol hay Physan 20, tỷ lệ 1:2000, hoặc lấy vôi bôi vào vết cắt, ngưng tưới nước 1-2 ngày.

1.5. Bệnh thối mềm vi khuẩn

Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh dạng hình bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng xám.

Nguyên nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Pseudomonas Gladioli gây ra.

Biện pháp phòng trừ: Cắt bỏ phần bị thối, dùng các loại kháng sinh như Streptomycin dạng bột dùng cho nông nghiệp, bôi vào vết cắt hoặc dùng 1g Streptomycin và 2 viên Tetracyclin 500 hoà với 1,5 lít nước phun vào vườn lan. Xem thêm các điều kiện môi trường sống thuận lợi cho cây lan.

1.6. Bệnh thối hạch

Đặc điểm triệu chứng: Trên gốc thân vết bệnh màu vàng nhạt sau chuyển sang màu vàng nâu, thân cây teo tóp, lá vàng. Do gốc rễ bị tổn thương nên thân lá thường răn rúm, cây lan sinh trưởng kém, bệnh nặng làm cây chết. Bệnh thối hạch hại nhiều giống lan, hại nặng giống Oncidium và giống Cattleya (chú ý phân biệt với các bệnh nấm khác: Trên mô bệnh thường có nhiều hạch nấm non màu trắng, hạch già màu nâu). 

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Sclerotium rolfsii gây ra.

Biện pháp phòng trừ: Trong các vườn lan có độ ẩm quá cao, hoặc các chậu treo sát nhau bệnh này phát triển mạnh, lây lan nhanh. Do đó phải hạn chế độ ẩm kết hợp với phun thuốc trừ nấm.

1.7. Bệnh đốm vòng cánh hoa

Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh nhỏ màu đen lõm, hình tròn có vân đồng tâm. Bệnh hại nụ hoa, cuống hoa, đài hoa, cánh hoa làm mất vẻ đẹp của hoa và hoa bị rụng sớm. Trên mô bệnh thường có lớp nấm mối triển làm thối lá. Bệnh hại nặng trên màu đen, trời mưa vết bệnh thưởng phát Dendrobium. Xem thêm 9 cách nhân giống hoa lan đúng kỹ thuật, năng suất cao.

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Alternaria gây ra.

Biện pháp phòng trừ: tránh tình trạng phòng trừ muộn a diệt nấm phun khi bệnh mới chớm xuất hiện, hưởng đến chất lượng của hoa.

1.8. Bệnh đốm lá hoa lan

Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh ban đầu là một chấm nhỏ màu nâu hơi lồi lên, về sau lan rộng ra thành một đốm lớn màu nâu nhạt, có ranh giới rõ ràng giữa mô bệnh và mô khoẻ. Bệnh làm hoa mất vẻ đẹp, mất giá trị thẩm mỹ hàng hoá.

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Curvularia eragrostidis gây ra.

Biện pháp phòng trừ: Dùng các loại thuốc diệt nấm có chứa lưu huỳnh phòng trừ sớm mới có tác dụng. 

Thuốc trị bệnh đốm lá hoa lan: Xịt thuốc Topsin, Kitazin, Thiram. Nếu không có loại thuốc trên, dùng Zineb cũng được (15-20 g thuốc hòa tan trong 10 lít nước) mỗi tuần phun một lần (nếu nặng có thể mỗi tuần 2-3 lần).

1.9. Bệnh thối đen ngọn

Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh ban đầu là một điểm nhỏ dạng hình bất định, ủng nước, màu nâu đen. Bệnh hại chủ yếu trên lá non, ngọn và chồi cây lan, làm đỉnh bị thối nhũn lan dần xuống dưới làm lá và cuống lá bị thối, lá dễ rụng. Bệnh thối đen ngọn có thể hình thành dịch trong điều kiện có ẩm độ cao (giọt nước, giọt sương, mưa phùn) và nhiệt độ thấp (trên dưới 20 độ C). Vì vậy cần chú ý theo dõi phát hiện sớm để phòng trừ.

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Phytophthora palmivora gây ra.

Biện pháp phòng trừ: cắt bỏ ngọn bị thối rồi phun thuốc diệt nấm Carboxin, Benomyn hay Validacin.

1.10. Bệnh thối rễ và gốc

Hiện tượng: Cây phong lan bị vàng lá, rễ bị mềm nhũn và nâu lại. Bệnh thường bắt đầu lan từ đỉnh rễ rồi chuyền vào gốc thân. Do cây Phong lan trồng trong các chậu, bộ rễ bị che lấp nên khó thấy bệnh ngay, nhưng để ý thấy cây chậm phát triển, kèm theo có vài lá úa vàng, cần phải nhấc cây khỏi đám gạch, than để kiểm tra bộ rễ ngay.

Nhìn chung, các bệnh cây do nấm rất dễ gây hại cho phong lan, nên khi đã trồng nhiều phải có kế hoạch phun thuốc thường xuyên, mặc dù chưa phát hiện được bệnh.

Nguyên nhân: Do nấm Pellicularia rolfsii và Sclerotium rolfsii gây ra.

Thuốc điều trị: Nếu phát hiện sớm ở ít cây thì lấy toàn bộ cây ra hỏi chậu, xịt thuốc (Thiram) trực tiếp vào bộ rễ và ngưng việc tưới ẩm cho bộ rễ. Nếu cần có thể ngâm ngập để cổ thân cây Phong lan trong dung dịch Sunphat đồng 1%, dung dịch Thiram, sau đó đem trồng vào chậu mới sạch sẽ.

Đối với phong lan con, sau khi trồng cũng phải phun thuốc (1 muỗng cà phê Thiram pha trong 1 lít nước), cây phong lan chiết cành, chồi, các vết thương cần phải trét thuốc Santara. Các phong lan thu hái ở rừng về, trước khi trồng vào chậu cần nhúng cả vào trong chậu nước có pha Zineb loãng. Sau đó hàng tháng phải được xịt thuốc và cách ly ngay các cây có mầm bệnh. Chất liệu trồng cũng chọn than, gạch lớn để có thể tiếp tục xịt thuốc tới cả bộ rễ. Chế độ tưới nước phải được xem xét lại, tránh để ẩm quá lâu trong bộ rễ (nhất là vào mùa mưa), các vật liệu trồng không nên nhuyễn quá, cây phong lan luôn phải chịu độ ẩm cao, không thông thoáng. Bỏ bớt giàn che để có nhiều nắng hơn làm cho môi trường nuôi trồng khô ráo hơn.

1.11. Các loại bệnh hại phong lan khác

Ngoài các bệnh hại nêu trên, cây lan còn bị các bệnh khác gây hại như bệnh tàn cánh hoa do nấm Botrytis cinerea, bệnh thối trắng rễ do nấm Rhizoctonia solani, bệnh đốm vàng do nấm Cercospora dendrobii, bệnh Virus (TMV- O) và virus (CyMv), bệnh vàng lá sinh lý do nguyên nhân không truyền nhiễm (do nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao) gây ra.

Trên cây hoa lan còn có một số bệnh do nguyên nhân sinh lý (không truyền nhiễm) như hiện tượng thiếu đạm lá chuyển sang màu vàng, cây sinh trưởng kém, rễ mọc ngoài chậu lan, thiếu lân cây cằn cỗi, lá có màu tím hoa cà. Thiếu Bo ngọn thường bị thối, thân lá nứt nẻ, cây còi cọc. Thiếu nước cây lan nhăn nheo, thân teo, rễ nhỏ,…

2. Các loại sâu hại lan và biện pháp phòng trừ

2.1. Nhện đỏ

Nhện đỏ thường xuất hiện sớm ở mặt dưới của nên rất khó phát hiện, sau đó sinh sôi nảy nở rất nhanh, cắn hại lá, chích hút dịch bào trong mô lá lan tạo ra các đốm li ti dày đặc màu nâu, rồi thành từng đám lớn. Khi bị hại nặng ở đằng sau lưng lá xuất hiện các sợi tơ, làm cho lá bị vàng đi, khô và

Cách phòng trừ: Dùng thuốc hoá học Methylated Spirit, Kelthane 1 thìa cà phê/11 ít nước, Malathion 30g/20 lít nước liên tục 1-2 lần/tuần.

2.2. Bọ trĩ (Thrips palmi)

Bọ trĩ thường tập trung vào những nơi cánh hoa xếp chồng lên nhau, hút nhựa và đẻ trứng lên đó, con non nở ra lại tiếp tục cắn và hại cây. Cành hoa và nụ khi bị sâu thường bị héo vàng và rụng, các nụ hoa bị sâu sau khi hoa nở sẽ bị cong vẹo, cánh hoa bị sâu sẽ làm xuất hiện các vết đốm trắng, sau đó làm cho hoa bị biến màu, khô héo và mất đi vẻ đẹp vốn có của hoa lan. 

Cách phòng trừ: dùng Sumicidin 5-15g/bình 8 lít để phun.

2.3. Rệp vảy (Scale insects)

Rệp vảy chủ yếu ký sinh ở lá, cuống lá và thân. Dùng miệng có gai tiêm vào cây và hút chất dinh dưỡng, sâu non mới nở bò khắp cây, rồi tìm những vị trí nhất định và ở lại rồi gây hại, hút nhựa cây. Xảy ra nhiều ở những vườn trồng có nhiệt độ và ẩm độ cao, không thông gió và thoáng khí.

Cách phòng trừ như sau: Malathion hoặc Trebon với lượng 10ml/bình 8 lít.

2.4. Rầy bông (Mealy bugs)

Loại này chủ yếu phát triển vào mùa Xuân và mùa Hè, hút chất dinh dưỡng trên lá non, choi non, nụ hoa và chồi hoa, khiến cho cây chậm sinh trưởng, lá và hoa bị biến dạng, cong vẹo và phát triển kém. 

Cách phòng trừ như sau: sử dụng Trebon 10ND 810ml/bình 10 lít hoặc Malathion 50 WP 1 thìa cà phê/4 lít nước phun hoặc nhúng cây trong 10 phút, cần lặp lại sau một tuần để diệt rệp mới nở.

2.5. Rầy trắng

Cũng hút nhựa cây làm cây khô héo dần. Nó được bọc bởi 1 lớp vảy màu trắng mịn và cũng thuộc họ Coccidae. 

Thuốc trị: Nếu sớm phát hiện có rầy trắng phá hoại, thì phun lên lá và thân dầu hôi với wofatox. Mỗi tuần phun 1 lần và làm cả mặt dưới lẫn mặt trên lá. Nếu cây bị nặng, thì gỡ cây khỏi chậu và ngâm trong dung dịch thuốc trên, rửa sạch các vết bẩn rồi trồng lại vào chậu khác. Tiếp tục làm vệ sinh quanh vườn và trong giàn (dẫy cỏ, phun thuốc sát trùng và chặt bỏ các cây có thể gây nguồn sâu bọ).

2.6. Sâu, ấu trùng

Ấu trùng của các loài Bướm ngày và đêm cũng phá hoại lá Phong lan khá mạnh (Phá hoại lá có Chliaria, phá hoại rễ có loại Creatonotus, Diacrisia). 

Thuốc trị: Có thể phòng trừ bằng bắt sâu, hay thuốc pha loãng (Malathion, Gamma BHC).

2.7. Gián

Gián cắn phá rễ phong lan rất nhanh, chúng thường ở ngay trong chậu Phong lan và lẩn trốn trong các khe than gạch, hoặc di chuyển từ nơi cống rãnh, chân cột giàn lên. Chúng rất thích ăn phần đầu rễ non làm cây bị tổn thương nặng, yếu đuối, tăng trưởng chậm và dễ nhiễm bệnh. Gián rất khó diệt vì chúng lẩn trốn kín, ban đêm mới ra cắn phá.

Cách phòng trừ: Thường xuyên kiểm tra các chậu phong lan bằng cách ngâm ngập cả chậu vào chậu nước lớn, gián sẽ phải bò ra (kể cả gián con), tốt nhất là dùng mồi có tẩm thuốc để nhử gián, sẽ diệt được cả gián trong chậu lẫn ở xung quanh. 

Thuốc trị: Một mẩu nhỏ bánh mì có tẩm thuốc  Isopropyl phenyl  N-Methylcarbamate sẽ diệt được chúng về đêm. Sau đó phải làm vệ sinh toàn bộ nơi trồng Phong lan không để các chỗ cho chúng ẩn nấp.

2.8. Rầy vàng

Có nhiều loài, trong đó chủ yếu thuộc loài Lem pectorallis phá hoại Phong lan nhiều nhất. Chúng thường làm hại nụ và hoa Phong lan, bằng cách đẻ trứng trên búp hoa và cắn phá mạnh cả cụm hoa (ấu trùng lớn màu đỏ vàng và nước tiết ra màu đỏ cam). 

Cách phòng trừ: Mỗi khi cây bắt đầu cho nụ hoa phải kịp thời phát hiện và phun thuốc ngay. Rầy hay giao hoan vào buổi tối do đó nên phun thuốc ngay vào buổi chiều, nó sẽ không hoạt động được.

2.9. Rệp đỏ

Rất nhỏ bé, thường cắn mặt dưới lá làm lá có lấm tấm đen rồi rụng (như lá bị tàn nhang). Khi phát hiện có các đám nhỏ di động ở mặt dưới lá già phải có biện pháp xịt thuốc ngay. 

Thuốc trị: Dùng Malathion, Dicrotophos, hay Dimethoate phun cách 10 ngày 1 lần và cả 2 mặt lá.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :