Home / Trang Trại / Các chất khí ảnh hưởng đến đời sống sinh vật như thế nào

Các chất khí ảnh hưởng đến đời sống sinh vật như thế nào

/

Không khí có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của sinh vật. Nó cung cấp oxy cho sinh vật hô hấp và khí CO2 cho cây xanh quang hợp.

ảnh hưởng các chất khí

1. Ý nghĩa của không khí đối với đời sống của sinh vật

Không khí có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của sinh vật. Nó cung cấp oxy cho sinh vật hô hấp và khí CO2 cho cây xanh quang hợp.

Không khí chứa trong đất và trong mọi cơ thể sống. Nó thành phần quan trọng của các hệ sinh thái. Không khí là vật cản các dòng bức xạ trong khí quyển, làm cho nhiệt độ trên Trái đất được ổn định, nhiệt độ giữa ngày và đêm ít thay đổi, tạo điều kiện cho sinh vật tồn tại được trên Trái đất.

Không khí chuyển động tạo thành gió, có ảnh hưởng rõ rệt đến nhiệt độ, độ ẩm của môi trường. Không những thế, không khí còn ảnh hưởng tới quá trình thoát hơi nước ở sinh vật, từ đó ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của chúng. Đồng thời gió nhẹ còn có vai trò quan trọng trong việc phát tán phấn hoa, quả, hạt, vi sinh vật và chuyển vận của nhiều động vật.

Bên cạnh đó, khi không khí thay đổi do bị ô nhiễm hay gió quá mạnh cũng gây tác hại không nhỏ cho sinh vật và các hệ sinh thái trên Trái đất.

2. Thành phần của không khí trong khí quyển

Thành phần các khí của khí quyển từ lâu đã ổn định, nhưng hiện nay con người đang hủy hoại sự cân bằng đó bằng chính các hoạt động của mình.

Trong không khí khô chứa chủ yếu là nitơ 78,08%, oxy 20,94%, CO2 0,03% các khí có khối lượng ít hơn như hidro, NH3, hơi nước, heli (He), ozon (O3). Ngoài ra, còn có dầu thơm, các khí độc như: CH4, CO, SO2, NO, H2S và một số vật rắn lơ lửng như bụi, vi khuẩn phấn hoa.

Trong khí quyển, trữ lượng khí nằm trong một lớp mỏng gần mặt đất gọi là tầng đối lưu với bề dày 15km ở xích đạo và 9km ở các cực. Tầng này gồm có hai lớp: lớp trên là lớp khí quyển tự do, lớp dưới dày 3km, chứa chủ yếu là hơi nước, bụi. Sự chu chuyển của khí tầng đối lưu có tác động điều chỉnh thời tiết và những biến đổi của nó.

Phần trên tầng đối lưu là tầng bình lưu, sự phân bố của khí ở đây phụ thuộc vào mật độ của chúng. Độ cao của tầng này lên đến 80km, với nhiệt độ từ -10 đến  -40°C.

Đáy của tầng bình lưu là lớp ozon mỏng, có tác dụng như một màng lọc tia tử ngoại, nó hấp thụ và phản xạ lại vũ trụ 90% lượng bức xạ này, giúp cho sinh vật sống trên mặt đất một cách an toàn.

Ngoài giới hạn của tầng bình lưu là tầng ozon, chứa hỗn hợp các khí nhẹ (heli, hidro) và nhiệt độ lại tăng dần. Giới hạn của lớp này kéo dài đến 1000km.

Và cuối cùng của không gian là ngoại quyển, không có giới hạn.

3. Các chất khí và ảnh hưởng của nó đối với đời sống sinh vật

3.1. Khí oxy

Khí oxy là nguồn nguyên liệu chính được sử dụng trong hô hấp, sản sinh ra năng lượng trong quá trình trao đổi chất của sinh vật.

Trong khí quyển hàm lượng ôxy luôn cao (khoảng 21%), vì thế nên ôxy ít khi trở thành yếu tố giới hạn đối với sự sống trên cạn. Tuy nhiên, sự suy giảm oxy ở một số nơi (như ở khu công nghiệp, nơi có xác động vật, thực vật bị phân huỷ), sẽ gây hậu quả về hô hấp. Và nếu tình trạng này kéo dài thì sẽ làm cho sinh vật chết.

Động vật ở trên cạn có khả năng cảm ứng với nồng độ oxy trong không khí khác nhau. Mỗi một loài động vật có khả năng chịu được một độ cao nhất định (vì càng lên cao nồng độ oxy trong không khí càng giảm). Ví dụ: vịt nhà lên cao được 6000m, chim bồ câu chết ở độ cao 8500m. Những động vật sống trên núi cao có nhu cầu oxy thấp và chúng có thể chịu đựng được một thời gian dài khi máu chưa bão hoà oxy do khả năng hưng phấn của trung khu hô hấp yếu.

Đối với môi trường nước, trong nhiều trường hợp hàm lượng oxy lại rất thiếu vì thế nó đã đe doạ cuộc sống của nhiều loài, nhất là trong các vực nước nóng hoặc trong các vực nước phì dưỡng. Như V. I. Vernadski (1967) đã nói: “cuộc sống của sinh vật thuỷ sinh là cuộc đấu tranh sinh tồn vì oxy”. Quả vậy, hàm lượng của oxy trong nước luôn biến động do hô hấp của sinh vật, do sự phân huỷ các chất hữu cơ của sinh vật. Nhiệt độ của nước và hàm lượng muối tăng khi hàm lượng oxy giảm, nhất là khi mặt nước bị phủ váng dầu, trong nước chứa nhiều hợp chất hữu cơ đang bị phân huỷ.

Chính vì những đặc trưng trên mà sinh vật sống trong nước có những hình thức thích nghi với những biến đổi của hàm lượng oxy như có vỏ mỏng, dễ thấm oxy, có cơ quan hô hấp phụ bên cạnh cơ quan hô hấp chính, tăng bề mặt tiếp xúc với môi trường nước, tăng lượng hemoglobin trong huyết tương khi hàm lượng oxy giảm. Một số cây ngập mặn vùng ngập triều, yếu khí còn phát triển hệ thống rễ thở như các loài thuộc họ Mắm, họ Bầu. Những động vật vùng triều còn thích nghi với cách trừ khí, tức là trừ một lượng nước hòa tan oxy đủ dùng trong thời gian phơi bã. Còn động vật vùng ôn đới giảm hoạt động khi mặt nước bị phủ băng để sống qua ngày “đói” oxy.

3.2. Khí CO2

Khí CO2 chỉ chiếm một lượng nước nhỏ trong khí quyển, khoảng 0,03% về thể tích, nhưng nó là thành phần quan trọng của không khí, là nguồn cacbon, là nguyên liệu xây dựng tất cả các cơ thể động vật và thực vật. Dưới tác dụng của năng lượng ánh sáng mặt trời, cây xanh hấp thụ CO2 để thực hiện quá trình quang hợp, tổng hợp nên các hợp chất hữu cơ nuôi cơ thể. Hàm lượng CO2 trong khí quyển là giới hạn đối với nhiều loài thực vật bậc cao. Ở nhiều loài cường độ quang hợp tăng khi hàm lượng CO2 tăng lên.

Ở đại dương luôn có sự trao đổi CO2 với khí quyển vì nước biển chứa lượng CO2 rất lớn, vì thế có thể nói rằng đại dương đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nồng độ khí CO2 luôn biến động theo thời gian. Nếu hàm lượng CO, dư thừa hoặc quá cao trong nước sẽ gây bất lợi cho đời sống của động vật, nhất là trong điều kiện hàm lượng O2 trở nên thiếu hụt.

Thế nhưng CO2 hoà tan trong nước đã tạo nên một hệ đệm, duy trì sự ổn định của giá trị pH ở mức trung bình, tạo nên điều kiện thuận lợi cho đời sống của sinh vật.

Nguồn CO2 dự trữ trong nước hay trong khí quyển rất lớn, chúng tồn tại dưới dạng CaCO3 và các hợp chất hữu cơ chứa cacbon. Bình thường nồng độ CO, thay đổi theo quy luật ngày đêm. Cây xanh hấp thụ CO2 từ không khí của buổi sáng và giải phóng O2, do đó ban ngày hàm lượng O2 tăng và đều đạt đến đỉnh cực vào buổi chiều khi hàm lượng CO2 thấp.

Hiện nay, hàm lượng CO2 trong khí quyển ngày một gia tăng do hoạt động của con người, đã gây nên “hiệu tượng hiệu ứng nhà kính”. Hậu quả của hiện tượng này là rất xấu.

3.3. Khí nitơ

Nitơ là một khí trơ chiếm một tỉ lệ lớn trong khí quyển. Nitơ không tham gia vào phản ứng hoá học ở những điều kiện thông thường nhưng các cơ thể sống đòi hỏi nitơ để tạo ra protein và clorophin. Động vật thoả mãn nhu cầu nitơ thông qua thức ăn. Còn thực vật chỉ hấp thụ nitơ ở các dạng đạm nitrit, nitrat và amôn. Chỉ có một số sinh vật tiền nhân như một số vi khuẩn cộng sinh trong nốt sần của hệ rễ cây họ Đậu, một số vi khuẩn cộng sinh trong bèo hoa dâu là có khả năng cố định nitơ tự do thành các hợp chất đạm nitrit, nitrat thì cây mới sử dụng được.

Trong đất, các chất hữu cơ chứa nitơ được vi sinh vật phân hủy và chuyển thành những hợp chất đơn giản hơn như NO3, NO3 được cây sử dụng.

Hiện nay do phát triển công nghiệp con người đã phát thải vào khí quyển một lượng oxit nitơ khá lớn, khoảng 70 triệu tấn mỗi năm. Oxit nito có thể làm tăng quá trình tổng hợp protein, song nói chung chúng rất nguy hiểm, rất độc đối với đời sống của thực vật như làm hạn chế cường độ quang hợp.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :