Home / Trang Trại / Cá hồng đỏ: quy trình nhân giống & sản xuất đúng kỹ thuật

Cá hồng đỏ: quy trình nhân giống & sản xuất đúng kỹ thuật

/

Hướng dẫn cách nuôi cá hồng đỏ bao gồm chọn giống cá bố mẹ, thu ấp trứng, chọn bể và phòng trị bệnh hiệu quả.

cách nuôi cá hồng đỏ

1. Đặc điểm giống cá hồng đỏ

– Bộ cá vược: Perciformes

– Họ cá hồng: Lutjanidae

– Giống: Lutjanus

– Loài: Lutjanus erythropterus, Bloch, 1790

– Tên tiếng Anh: Crimson snapper, Redfin snapper.

– Tên tiếng Việt: Cá hồng đỏ

Đặc điểm của giống cá hồng đỏ
Đặc điểm của giống cá hồng đỏ

Cá hồng đỏ phân bố rộng ở các vùng biển Ấn Độ – Tây Thái Bình Dương gồm vịnh Oman đến vùng biển Đông Nam Á, từ phía bắc đến phía nam Nhật Bản và từ phía nam đến phía bắc Australia. Trên vùng biển Việt Nam, từ Bắc đến Nam đều có cá hồng đỏ phân bố. Cá hồng đỏ là thủy sản khai thác có giá trị kinh tế và đã được đưa vào nuôi trong các lồng bè.

Cá hồng đỏ có thân hình thoi, dẹt bên, chiều dài thân bằng 2,4-2,6 lần chiều cao; đầu to, miệng rộng, hàm trên mỗi bên có 2 răng nanh. Thân cá được phủ vảy lược cứng, có cả ở má và nắp mang. Thân cá màu đỏ tươi, phía bụng hồng nhạt, các vây màu đỏ, rìa sau vây đuôi màu đen xám. Chiều dài lớn nhất 81,6cm, thông thường là 40-50 cm. Cá hồng đỏ là loài cá ăn thịt, thức ăn chính là các loài cá tạp và một lượng nhỏ giáp xác, mực và các động vật không xương sống khác. Cá hồng đỏ thường tìm mồi vào ban đêm. Trong điều kiện môi trường thuận lợi, cá rất tích cực bắt mồi. Trong môi trường bất lợi, như khi nhiệt độ nước xuống thấp, nước quá đục hoặc có sóng gió mạnh, cá ngưng bắt mồi.

Trong tự nhiên, cá thường sống sát đáy ở những vùng có rạn đá, đá sỏi, rạn san hô, nền đáy cứng có độ sâu từ 5-100 m. Cá hồng đỏ là loài rộng nhiệt và rộng muối. Nhiệt độ sinh tồn của cá nằm trong phạm vi 13-34°C; nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng là 12-30°C, tuy vậy cá sinh trưởng nhanh trong mùa hè ở nhiệt độ nước từ 25-30°C. Cá hồng đỏ có thể tồn tại ở độ mặn 5-40%%, thích hợp ở độ mặn 10-25%%. Cá hồng đỏ được coi là loài cá ưa nước chảy, độ trong cao. Tuy nhiên, hiện nay với loại cá đã được thuần hóa qua vài thế hệ, cá có thể sống trong môi trường nước phú dưỡng trong ao và chất lượng nước nuôi cá không còn là vấn đề quan trọng. Cá hồng đỏ thành thục khi nuôi được 2 tuổi. Mùa vụ đẻ của cá có thể khác nhau tùy thuộc vào vùng phân bố địa lý. Thông thường cá đẻ vào mùa xuân và mùa hạ (từ tháng 3 đến tháng 6 hằng năm) khi nhiệt độ nước khoảng 18-24°C. Cá hồng đỏ thành thục và đẻ nhiều lần một đợt, mỗi đợt thường kéo dài khoảng 15 ngày. Cá bột mới nở thường nằm sát đáy bể, sau 3-4 ngày thì bắt đầu ăn thức ăn ngoài, sau 10 ngày có thể đạt kích thước 0,9cm.

2. Quy trình sản xuất giống cá hồng đỏ đúng kỹ thuật

2.1. Sơ đồ quy trình sản xuất giống cá hồng đỏ

Sơ đồ quy trình nuôi cá hồng đỏ
Sơ đồ quy trình nuôi cá hồng đỏ

2.2. Quy trình nuôi vỗ cá bố mẹ

Các chỉ tiêuCá hồng đỏ đựcCá hồng đỏ cái
Ngoại hìnhCá khỏe mạnh, màu sắc hồng tươi sáng, không dị hình, không có bệnh, ăn khỏeCá khỏe mạnh, màu sắc hồng tươi sáng, không dị hình, không có bệnh, ăn khỏe
Tuổi2+ đến 3+2+ đến 3+
Kích cỡKhối lượng > 1,5kg
Chiều dài > 25cm
Khối lượng > 2,0kg
Chiều dài > 30cm

Cá bố mẹ tuyển chọn để nuôi vỗ phải có nguồn gốc rõ ràng, thuần chủng và được nuôi vỗ theo đúng quy trình kỹ thuật.

2.3. Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ 

2.2.1. Điều kiện của bể nuôi vỗ (trong bể)

– Thể tích bể từ 30m3 trở lên có mái che mưa, nắng; độ sâu: 2m; sục khí: lắp đều xung quanh bể; hệ thống cấp và thoát nước lưu thông liên tục.

– Yêu cầu môi trường của bể trong quá trình nuôi vỗ: Nhiệt độ nước: 21-27°C; độ mặn 25-32%; độ pH: 7,5-8,5; DO ≥ 5 mg/l.

– Mật độ nuôi vỗ: 1-1,5 kg/m3.

2.2.2. Chăm sóc và quản lý bể nuôi cá hồng đỏ

– Cá bố mẹ được nuôi vỗ bằng thức ăn là cá tạp tươi (cá đối, cá mực) với lượng từ 5-7% khối lượng cá nuôi.

– Hằng ngày cho cá ăn 2 lần vào 8 giờ sáng và 15 giờ chiều.

– Để thúc đẩy sự phát dục cho cá bố mẹ thành thục, trong thời gian nuôi vỗ tích cực: cho cá ăn bổ sung ba lần vitamin E, mỗi lần 3-4 ngày. Liều lượng cho ăn là 100-200 mg/kg thức ăn. Kích thích cá phát dục bằng việc cấp nước lưu thông trong bể nuôi vỗ từ 8-10 giờ/ngày.

– Định kỳ 2-3 tuần kéo cá để kiểm tra độ thành thục và kết hợp phòng trị bệnh cho cá bằng tắm nước ngọt 10-15 phút. Kiểm tra độ thành thục của cá cái bằng ống thăm trứng; còn kiểm tra độ Kiểm tra độ thành thục của cá thành thục của cá đực bằng cách vuốt bụng.

Hằng ngày tiến hành vệ sinh cọ bể nuôi vỗ và tháo thay 50% lượng nước của bể.

2.4. Kỹ thuật cho cá hồng đỏ đẻ

Yêu cầu chọn cá cho đẻ:

+ Cá cái: Khỏe mạnh, bụng to. Dùng que thăm trứng kiểm tra: thấy trứng tròn, căng đều, rời, nhân trứng phân cực.

+ Cá đực: Khỏe mạnh, bụng to, lỗ huyệt mở có màu đỏ hồng. Khi vuốt nhẹ có sẹ trắng chảy ra.

Tiêm kích dục tố:

+ Các loại kích dục tố:

  • HCG (Human Chorionic Gonadotropin).
  • LRH-A (Luteotropin Releasing Hormoned Analog).
Vị trí và cách tiêm kích dục tố cá hồng đỏ
Vị trí và cách tiêm kích dục tố cá hồng đỏ

Liều lượng tiêm:

  • LRH-A3: 5-8 mg/kg cá cái.
  • HCG: 500-800 UI/kg cá cái.

Cá cái và cá đực chỉ tiêm một lần. Cá đực tiêm với liều lượng bằng 1/2 so với cá cái.

Vị trí tiêm: tiêm vào phần mềm gốc vây ngực.

Cách tiêm: Khi tiêm, đặt mũi kim vào đúng vị trí đã định, nghiêng mũi kim 45° so với thân cá, bơm thuốc nhanh và rút ra từ từ để tránh thuốc bị trào ra ngoài.

Thời gian cá đẻ: Cá hồng đỏ thường đẻ thành nhiều đợt và vào ban đêm từ 22-24 giờ; thời gian cá đẻ thường kéo dài từ 2-4 giờ. Trong thời gian cá đẻ cần tránh gây tiếng động lớn làm ảnh hưởng tới cá.

2.5. Cách thu và ấp trứng nở

2.5.1. Thu trứng ở bể đẻ

Sau mỗi lần cá đẻ dùng lưới 60 mắt/cm2 kéo toàn bộ số trứng trong bể đẻ và cho vào thùng nhựa 200 lít để lọc trứng. Dùng tay khuấy nước tạo vòng xoáy để cho các chất cặn bã, trứng hỏng (không thụ tinh) lắng xuống đáy và dồn lại, để trứng yên tĩnh không sục khí trong vòng 15-20 phút, trứng thụ tinh nổi lên trên mặt nước, dùng vợt 80cm2/mắt vớt trứng thụ tinh. Vớt liên tục nhiều lần để thu toàn bộ trứng thụ tinh.

2.5.2. Ấp trứng

– Thu trứng thụ tinh vào ấp trong các bể composite có thể tích 1m3 (chiều cao h = 1m). Vệ sinh khử trùng bể và các dụng cụ trước khi ấp bằng chlorine với liều lượng 50ppm. Đặt bể ở nơi râm mát. Môi trường ấp trứng là nước biển lọc sạch đã qua xử lý hóa chất, có các yếu tố môi trường được duy trì ổn định. Điều khiển sục khí ở mức sục vừa phải.

– Mật độ trứng ấp từ 400-500 trứng/1 lít nước.

– Điều kiện môi trường ấp trứng như sau: độ mặn đạt 30%%; nhiệt độ trong khoảng 28-30°C; pH 7,5-8,5; oxy hòa tan 6-8 mg/l. Sau thời gian ấp trứng khoảng 28-32 giờ, trứng bắt đầu nở ra thành cá bột.

2.6. Cách ương cá bột lên cá hương

Bể ương: Bể xi măng có thể tích V = 25-30m3, chiều cao h = 1,0m; có mái che nắng, mưa. Chuẩn bị bể: Bể được vệ sinh sạch sẽ, lắp đặt hệ thống sục khí và dùng chlorine, formol khử trùng với liều lượng 50ppm.

Mật độ, thời gian ương: Mật độ ương nuôi: 40-50 con/l; thời gian ương là 20 ngày.

Điều kiện môi trường ương: Điều kiện môi trường trong bể ương nuôi luôn bảo đảm như sau: nhiệt độ nước: 26-32°C; độ mặn: 26-30%; pH: 7,6-8,2; oxy hòa tan: > 5 mg/1, ánh sáng: 500-2000 lux.

Chăm sóc và quản lý: Nước dùng ương cá bột lên thành cá hương là nước biển được lọc sạch; mức nước trong bể ương là 1/2 bể; từ ngày thứ 4 mỗi ngày cấp vào bể ương 5-10 cm nước.

+ Hằng ngày tiến hành cấp và thay nước.

+ Xi phông đáy 2 lần/ngày.

+ Từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 4 thức ăn là tảo Nannochloropsis sp., Chlorella sp., trứng và ấu trùng nhuyễn thể (ấu trùng hà) với mật độ 6–10 ấu trùng/ml và Rotifer cỡ nhỏ với mật độ 3-4 con/ml. Mỗi ngày cho ăn hai lần vào 9h sáng và 15h chiều.

+ Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 10: thức ăn là Rotifer với mật độ 6-8 con/ml.

+ Từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 15: thức ăn là Rotifer, Copepoda với mật độ: Rotifer: 6-8 con/ml, Copepoda: 8-10 con/ml.

+ Từ ngày thứ 15 đến ngày thứ 25: thức ăn là Copepoda và Artemia với mật độ: Copepoda: 810 con/ml, Artemia: 4-6 con/ml.

Trong quá trình ương nuôi từ ngày thứ 1 đến ngày 20 luôn luôn tiến hành cung cấp thêm tảo Chlorella sp. nhằm duy trì sự ổn định của mỗi trường nước trong bể ương.

Thu hoạch: Khi cá đạt kích cỡ 1-1,5 cm tiến hành thu hoạch.

2.7. Cách ương cá hồng đỏ trong bể xi măng

Bể ương: Bể xi măng có thể tích V = 30m3, hn = 1,0 m; có mái che nắng, mưa.

Chuẩn bị bể: Bể được vệ sinh sạch sẽ, lắp đặt hệ thống sục khí và dùng chlorine, formol khử trùng với liều lượng 50 ppm.

Mật độ ương: 2.000-2.500 con/m3.

Chăm sóc và quản lý:

+ Hằng ngày cho ăn từ 4-6 lần.

+ Thức ăn: Copepoda mật độ 15-20 con/l Artemia cường hóa mật độ 5-10 con/l. Khi cá được trên 2cm tiến hành tập cho ăn bằng thức ăn cá tạp nghiền nhỏ và thức ăn công nghiệp dạng nổi.

+ Hằng ngày tiến hành thay 150-200% nước trong bể và xi phông đáy 2 lần/ngày.

+ Theo dõi các hoạt động và đo các thông số về môi trường để có sự điều chỉnh phù hợp.

+ Phân cỡ cá: Cá hồng đỏ là loài cá ăn thịt và phàm ăn nên trong suốt quá trình ương nuôi phải thường xuyên tiến hành phân cỡ cá để tránh hiện tượng ăn thịt lẫn nhau và thuận tiện cho việc quản lý, chăm sóc. Cá có kích cỡ khác nhau phải được ương nuôi riêng. Hiện tượng cá ăn lẫn nhau xuất hiện rõ rệt từ khi chúng bắt đầu ăn Artemia (khoảng 15 ngày tuổi). Phân cỡ được tiến hành 1 tuần sau khi cá bắt đầu ăn Artemia, sau đó cứ 1 tuần tiến hành phân cỡ 1 lần. Dùng khay phân cỡ bằng inox và nhựa; mỗi khay có 1 cỡ mắt nhất định chỉ cho phép 1 cỡ cá đi qua.

+ Thường xuyên cung cấp thêm tảo Chlorella sp. nhằm duy trì sự ổn định của môi trường nước trong bể ương.

– Thu hoạch: Khi cá đạt kích cỡ 3-4 cm tiến hành thu hoạch.

2.8. Cách ương cá hương lên cá giống trong ao đất

Ao ương: Ao ương có diện tích 5.000m, độ sâu 1,4-1,8 m, bờ và đáy ao được phủ bạt.

Chuẩn bị ao ương: Ao được bơm cạn nước và tiến hành vét bùn đáy, phơi khô rồi san bằng nền đáy ao. Cấp nước vào ao khoảng 20-30 cm, dùng saponin diệt tạp với liều lượng 150-200 kg/0,5ha. Sau 3 ngày cấp thêm nước vào ao đến khi nước đủ 1,0m rồi tiến hành gây màu nước bằng cá tạp xay nhỏ với liều lượng 15-30 kg/100m. Sau 6 ngày tiếp theo bón cá tạp với liều lượng 5kg/100m. Cá tạp đựng vào bao thoát nước, buộc kín, treo vào ao, hằng ngày xóc các bao cá tạp 2-3 lần. Cách làm tốt nhất là nấu chín hoặc xay nhỏ cá tạp rải đều khắp ao. Sau một tuần bổ sung thêm phân gà 3-5 kg/100m, bón NPK với liều lượng 0,2-0,4 kg/100m. Nếu thức ăn tự nhiên ở ao không đủ, thì bón thêm men bánh mì 3,0kg/0,5ha. Khoảng 15-20 ngày sau, khi luân trùng và Copepoda phát triển mạnh đạt 100-150 con/ml thì tiến hành thả cá hương ra ao ương.

Mật độ ương: 100-120 con/m3.

Chăm sóc, quản lý:

+ Hằng ngày tiến hành đo các thông số về môi trường như độ mặn, nhiệt độ, pH, oxy hòa tan.

+ Theo dõi mọi hoạt động, biểu hiện của cá. Hằng ngày cho cá ăn 2 lần, thức ăn là cá tạp xay được nấu chín, thức ăn công nghiệp; khi cho ăn rải đều khắp ao. Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng cho ăn vừa đủ, tránh hiện tượng cá bị đói ăn thịt lẫn nhau.

+ Duy trì tảo ổn định.

Thu hoạch: Khi cá đạt kích cỡ từ 4-6 cm tiến hành thu hoạch.

2.9. Cách ương nuôi thức ăn tươi sống

2.9.1. Gây nuôi tảo Chlorella sp.

Môi trường nuôi tảo:

+ Dung dịch A: Na2NO3: 60g, KH2PO4: 5-10g, phân đạm: 18-20g; FeCl3: 0,5g, nước cất: 1.000ml.

+ Dung dịch B: vitamin B1: 10mg; vitamin B2: 5mg; nước cất: 100ml.

Đun sôi dung dịch A từ 30-40 phút để hòa tan hết hóa chất. Dùng 1 ml dung dịch A và 0,1 ml dung dịch B hòa vào 1 lít nước biển để nuôi tảo.

Xử lý nước nuôi tảo: Xử lý nước bằng chlorine nồng độ 20ppm, sục khí mạnh 24/24 giờ với cường độ ánh sáng từ 4.000-5.000 lux, tiến hành dùng thiosulphate sodium để trung hòa chlorine với tỷ lệ 1:1. Nước trước khi cấp vào bể nuôi tảo phải lọc qua túi lọc Đài Loan.

Thu hoạch: Khi thấy tảo đạt mật độ từ 10.000.0000-20.000.000 Tb/ml thì tiến hành thu sinh khối.

2.9.2. Nuôi động vật tươi sống Rotifer và Copepoda

Nuôi trong bể xi măng – Nuôi theo hình thức bán liên tục:

+ Điều kiện nuôi: thể tích bể nuôi: 2-3 m, độ mặn: 10-30%o, nhiệt độ: 25-30°C, sục khí liên tục, thả luân trùng giống: 150-250 con/ml.

+ Chăm sóc: cung cấp đầy đủ thức ăn cho luân trùng là men bánh mì và tảo Chlorella sp. Liều lượng như sau: Men bánh mì: 1g/1.000.000 luân trùng. Tảo: mật độ duy trì 1.000.000 Tb/ml.

+ Thu hoạch: Khi luân trùng đạt 200-250 con/ml tiến hành thu hoạch. Dùng ống xi phông hút luân trùng trong bể nuôi qua các túi lọc 80 mắt/cm2. Trong quá trình thu hoạch cần điều chỉnh sục khí vừa phải nhằm tránh gây tổn thương.

Nuôi trong ao đất:

+ Chuẩn bị ao: Diện tích ao: 5.000m2.

+ Tát cạn ao, phơi khô:

  • Bón vôi để khử trùng diệt tạp với liều lượng 5-15 kg vôi bột/100m2.
  • Lấy nước vào ao độ sâu 1,5m với các yếu tố môi trường như sau: độ mặn: 20-30%, nhiệt độ: 25-30°C, pH: 7,5-8,5.

+ Chăm sóc làm “béo nước”.

  • Dùng cá tạp cho vào bao dứa, lần đầu 15-30 kg/100m2 (ngày đầu tiên); ngày tiếp theo cho thêm mỗi ngày 3kg/100m2 liên tục trong 6-10 ngày.
  • Bón thêm NPK với liều lượng 0,2-0,4 kg/100m2.
  • Sau 1 tuần bổ sung thêm phân gà, liều lượng 3-5 kg/100m2.

Thu hoạch:

+ Dùng máy bơm có công suất 13m3/giờ để thu hoạch.

+ Thời gian bơm thu hoạch là 8-10 giờ/ngày.

Phương pháp cường hóa luân trùng:

+ Bơm nước tảo xanh vào bể, cường hóa mật độ tảo đạt 20-25 x 106 tế bào/ml.

+ Đưa luân trùng đã lọc sạch vào bể, cường hóa mật độ đạt 2.000-2.500 con/ml, sục khí vừa phải, duy trì oxy hòa tan 4mg/lít.

+ Dùng dầu cường hóa DHA Selco được khuấy kỹ bằng máy xay sinh tố cho vào bể làm giàu với tỷ lệ 10g/lít.

+ Thời gian cư 1g hóa 8 giờ, sau đó thu luân trùng, rửa sạch luân trùng, cung cấp cho cá ăn.

2.9.3. Ấp Artemia

Điều kiện môi trường ấp:

+ Bể ấp: Dùng bể composite đáy hình phễu có thể tích là 0,5m.

+ Điều kiện môi trường ấp thích hợp: độ mặn: 25-35%%, nhiệt độ: 28-30°C, pH: 8-8,5, ánh sáng: 2.000lux.

Cách ấp: Trước khi ấp, tiến hành ngâm trứng Artemia trong nước ngọt 30 phút, sau đó tiến hành ngâm trong dung dịch chlorine nồng độ 50ppm thời gian 1 giờ rồi đem ấp.

Thu hoạch: Sau thời gian ấp 24 giờ, tiến hành thu lọc sạch vỏ ấu trùng.

Phương pháp cường hóa Artemia: Artemia sau khi nở, tiến hành lọc ấu trùng, loại bỏ vỏ, đưa vào bể để cường hóa, mật độ Artemia trong bể đạt 200.000-250.000 Nauplius/l; cường hóa bằng dầu DC-DHA Selco.

Bơm nước tảo xanh Chlorella sp. vào bể cường hóa, mật độ tảo đạt 15-20 triệu tế bào/ml. Trong thời gian cường hóa, điều chỉnh chế độ sục khí vừa phải để luôn bảo đảm hàm lượng oxy > 4mg/lít. Sau thời gian cường hóa khoảng 18 giờ tiến hành thu hoạch Artemia trong bể rồi rửa sạch, cho vào bể làm thức ăn nuôi cá.

2.10. Kỹ thuật phòng trị một số loại bệnh thường gặp cho cá giống và cá bố mẹ

2.10.1. Phòng trị bệnh cho cá giống

Bệnh do nấm:

+ Biểu hiện bệnh: Khi cá hương được 30 ngày tuổi thấy xuất hiện một số cá chết rải rác nổi trên mặt nước, quan sát bên ngoài thấy các đốm màu trắng ở phía trước vây lưng; soi qua kính hiển vi thấy các quần thể nấm hình sợi.

+ Tác nhân gây bệnh: Chưa xác định được loài nấm.

+ Cách phòng trị bệnh:

  • Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ bể và các dụng cụ sản xuất.
  • Nước cấp vào phải xử lý qua hệ thống lọc.
  • Tiến hành phun hóa chất bronopol xuống bể ương nuôi với nồng độ 3-5 ppm.

Bệnh do vi khuẩn:

+ Biểu hiện bệnh: Bệnh xuất hiện khi cá giống được 4-6 cm, khi đó xảy ra hiện tượng cá bỏ ăn, bụng chướng to, đường tiêu hóa có thức ăn không tiêu, cá hoạt động kém, bơi chậm chạp, màu sắc cá biến đổi sang màu xám đen. Qua giải phẫu, soi kính phát hiện thấy ống tiêu hóa có rất nhiều khuẩn hình que.

+ Tác nhân gây bệnh: Xác định do vi khuẩn Vibrio sp., Vibrio anguillarum. Nguồn gây bệnh có thể từ nguồn thức ăn: luân trùng và Artemia.

+ Cách phòng trị bệnh:

  • Luân trùng và Artemia không nên nuôi trong điều kiện nhiệt độ cao và mật độ ương nuôi quá cao.
  • Điều kiện môi trường nước ương nuôi luôn phải sạch, không ô nhiễm.
  • Trộn vào thức ăn cá thuốc kháng sinh oxytetracycline với nồng độ 1-2 g/1 kg cá/ngày. Cho ăn liên tục 3-5 ngày, kết hợp bổ sung B.Complex và vitamin C.

Bệnh do liên cầu khuẩn gây ra:

+ Biểu hiện bệnh: thường xuất hiện trong giai đoạn ương cá giống. Vào các buổi sáng thấy cá bơi nổi nhiều trên mặt nước. Quan sát màu sắc của cá thấy chuyển từ màu hồng sang màu đen, nắp mang màu trắng bợt, tụ máu ở phần đuôi.

+ Tác nhân gây bệnh: do liên cầu khuẩn gây ra (chưa xác định được loài).

+ Cách phòng trị bệnh:

  • Khi cho cá ăn nên rải thức ăn đều khắp ao để tránh hiện tượng cá tập trung ăn, tranh ăn dễ dẫn tới cơ thể bị xây xát.
  • Cứ 1kg cá dùng 30-50 mg doxycycline trộn với thức ăn, cho ăn liên tục 5-7 ngày vào các buổi sáng và kết hợp dùng thêm erythromycin mỗi ngày 30-50 mg/kg cá trộn lẫn với thức ăn, cho ăn liên tục khoảng 10 ngày vào các buổi chiều tối.

2.10.2. Phòng trị bệnh cho cá bố mẹ

Bệnh xuất huyết trên thân cá:

+ Biểu hiện bệnh: Cá chuyển màu hồng đỏ sang màu hồng nhạt, xuất huyết trên da và vây, cá bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước.

+ Tác nhân gây bệnh: do ký sinh trùng chưa rõ chủng loại.

+ Cách phòng trị bệnh:

  • Tiến hành vệ sinh sạch sẽ bể và thay 100% nước mới.
  • Tắm bằng Iodine với nồng độ 25 ppm trong 10 phút.
  • Sử dụng thuốc erythromycin 40-50 mg/kg cá hoặc dùng tetracyclin kết hợp oxytetracycline với liều lượng 30-50 mg/kg cá, trộn với thức ăn; cho ăn liên tục 5 ngày liền.

Bệnh do rận nước:

+ Biểu hiện bệnh: Cá hồng đỏ ăn kém, mang cá bị loét chuyển sang màu nhợt. Bệnh thường xảy ra ở cuối mùa hè.

+ Tác nhân gây bệnh: do ký sinh trùng Clavellodes macrotrachelus gây ra.

+ Cách phòng trị bệnh:

  • Thay 100% nước trong bể.
  • Tiến hành tắm nước ngọt 15 phút cho cá, kết hợp dùng Iodine nồng độ 20 ppm để tắm.

Bệnh do sán lá ký sinh:

+ Dấu hiệu: Trong thời gian nuôi giữ cá bố mẹ thường xảy ra hiện tượng cá bỏ ăn, tập trung nhiều ở những vòi sục khí, mắt cá hồng đỏ đục và lồi ra.

+ Nguyên nhân gây bệnh: được xác định là do sán lá ký sinh Pseudorhabdosynycus heliotrope bám vào mang cá, nội tạng và mắt cá.

+ Cách phòng trị bệnh:

  • Tiến hành thay nước thường xuyên 2-3 lần/ngày, mỗi lần thay 100% lượng nước trong bể.
  • Tắm cho cá hồng đỏ bằng formol nồng độ 150ppm, thời gian 20 phút, kết hợp dùng thêm oxy già (H2O2) nồng độ 100 ppm để tắm trong 15 phút.
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :