Home / Trang Trại / Bệnh phó thương hàn ở vịt: nguyên nhân, triệu chứng, phòng trị

Bệnh phó thương hàn ở vịt: nguyên nhân, triệu chứng, phòng trị

/

Bệnh phó thương hàn ở vịt (Salmonellosis typhoid infection) là bệnh cấp tính hoặc mãn tính do 1 hoặc nhiều loại vi khuẩn salmonella gây ra.

Bệnh phó thương hàn ở vịt

Salmonella có nhiều trong tự nhiên, động vật, gia cầm và người bị nhiễm hoặc mang vi khuẩn. Bệnh salmonella có 2 điểm quan trọng đáng chú ý:

  • Bệnh thường xảy ra ở vịt con, tỷ lệ chết cao
  • Nguy hiểm cho con người.

1. Nguyên nhân bệnh phó thương hàn ở vịt

Bệnh salmonella có ở khắp nơi trên thế giới. Một số vịt chỉ mắc một chủng nhưng một số khác lại bị mắc nhiều chủng cùng một lúc, vi khuẩn salmonella thường tồn tại ở trong ruột già và manh tràng của nhiều vịt, vịt ở bất cứ lứa tuổi nào đều mẫn cảm với salmonella nhưng triệu chứng lâm sàng thường thấy ở vịt con. S. pullorum và S. gallinarum là 2 chủng quan trọng nhất gây bệnh cho gà nhưng ít ảnh hưởng đối với vịt. Đã có thông báo rằng những vịt nhốt chung với gà bị nhiễm S. pullorum thì vịt nghiễm nhiên cũng bị nhiễm bệnh, nhưng bệnh salmonella không có khuynh hướng truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. trường hợp S.

Người ta thông báo rằng trong vài gallinarum gây ra nhiễm bệnh tự nhiên làm chết vịt con từ 1 – 14 ngày tuổi, nhưng nhiều cán bộ chăn nuôi đã nhận thấy rằng khả năng chống bệnh của vịt lớn hơn gà.

Salmonella anatum thường gây chết vịt con đột ngột nhưng đôi khi bệnh chuyển sang thể mãn tính trong vài ngày. Một ổ dịch vịt nguy hiểm, đã được báo cáo từ Moscow và châu Âu, S. enteritis tái phát từ gan và dịch gi viêm màng tim, gây thiệt hại 30%. 2 chủng salmonella này là 2 chủng thường gây bệnh salmonella cho vịt nhưng những chủng khác cũng có thể gây bệnh cho vịt. Người ta đã nghiên cứu và thấy rằng trong một ổ bệnh vịt con chết từ lúc mới nở ra thiệt hại từ 1 – 60%.

Vi khuẩn salmonella rất mẫn cảm với nhiệt độ và chất khử trùng mạnh. Thời gian sống ở trong chất độn chuồng ở điều kiện thường khá dài. Ở những ô chuồng hết vịt mà bị nhiễm bệnh, thì vi khuẩn vẫn sống được trong chất độn chuồng hơn 30 tuần. Vi khuẩn có thể sống ở trong phân đến 28 tuần, trong bụi bẩn của nhà ấp và kho trong điều kiện thường, vi khuẩn sống tới 5 năm và ở vỏ trứng trong máy ấp từ 3 – 4 tuần.

Một trong những cách lan truyền bệnh quan trọng nhất là truyền trực tiếp qua trứng. Cách phổ biến thứ 2 là vi khuẩn salmonella xuyên qua vỏ trứng trong quá trình đẻ trứng và trong ổ đẻ. Hầu hết các loại vi khuẩn đều có lông roi và có thể đi động được. Chúng có thể dễ dàng xuyên qua vỏ trứng trong quá trình ấp vi khuẩn sinh sản trong phôi. Những sự lây lan trong máy ấp là do những trứng bị nhiễm bệnh, vịt con nở ra bị nhiễm bệnh ngay từ trong mẻ ấp đó hoặc từ thức ăn bị nhiễm (như bột cá).

2. Triệu chứng lâm sàng bệnh phó thương hàn ở vịt

Ở vịt con bị nhiễm salmonella từ trứng thì biểu hiện đầu tiên là vị trí gạo mỏ cao và chết phôi ở giai đoạn gạo mỏ. Những con chết trong khi ấp hoặc sau khi nở vài ngày mà không có triệu chứng gì chứng tỏ bị nhiễm trong quá trình ấp.

Triệu chứng bệnh phó thương hàn ở vịt

Ở vịt con thấy hiện tượng: xã cánh, rụng lông, mất điều hòa, khát nước ỉa chảy và những lông xung quanh hậu môn dính muối urates, vịt đứng tụm lại với nhau gần chụp sưởi. Bệnh do salmonella typhimurium thường bị viêm khớp. Tính khốc liệt của bệnh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện chăm sóc, hội chứng thiếu vitamin (vitamin A). Nếu vịt con bị stress trong 2 tuần đầu tiên thì thường bị mắc bệnh này.

Bệnh salmonella ở vịt có thể là bệnh thứ phát kết hợp với bệnh nguyên phát. Ví dụ người ta thường thấy ở giai đoạn cuối ổ dịch viêm gan vịt. Bệnh salmonella kết hợp với bệnh do virut gây chết. Đôi khi bệnh salmonella xuất hiện cùng với bệnh ornithosis thể ẩn tính. Vì vậy trong một ổ dịch salmonella cũng nên chú ý vào bệnh nguyên phát.

3. Bệnh tích đại thể

Ở thể cấp tính thì không có biểu hiện gì. Trong trường hợp diễn biến bệnh dài, lòng đỏ không được hấp thụ hết, màu nhợt nhạt. Lách và gan sưng, có hoặc không có những đám hoại tử. Bệnh tích điển hình nhất là ở manh tràng có chứa bã đậu và trong rất nhiều trường hợp trực tràng sưng và có đốm. Đôi khi thấy viêm màng tim, viêm túi khí hoặc viêm khớp (khớp đầu gối).

Dựa trên những triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể người ta có thể nghi bệnh salmonella, nhưng để chẩn đoán chính xác cần phân lập vi khuẩn và xác định các vi khuẩn liên quan. Nếu lấy mẫu từ con vịt mới chết đem nuôi cấy mà thấy vi khuẩn salmonella mọc nhiều thì kết luận rằng đó là bệnh salmonella. Nhưng nếu phân lập salmonella từ những chất chứa của ruột hoặc các cơ quan bị phân hủy thì không đủ cơ sở để chẩn đoán, kết luận.

4. Phòng và trị bệnh phó thương hàn ở vịt

Kiểm tra huyết thanh học toàn đàn, chỉ phát hiện được ít vịt bị nhiễm mà không đưa ra được kết quả thỏa mãn. Phân lập salmonella từ phân vịt vừa không có tác dụng vừa không loại được những con vịt mang trùng vì vi khuẩn phát tán nhiễm vào.

Vệ sinh trong quá trình sản xuất trứng tốt sẽ làm làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh qua vỏ trứng. Ổ đẻ và chất độn chuồng phải sạch sẽ, nên nhặt trứng ngay sau khi vịt đẻ và sát trùng bằng hơi formalin càng nhanh càng tốt.

Nước ao hồ, thức ăn đặc biệt là bột cá, bột xương, bột thịt và lòng mề bị nhiễm bệnh, thường xuyên là nguồn gây bệnh. Trong quá trình sản xuất thức ăn viên nếu sản xuất bằng hơi nóng thì S. bị phá hủy.

Không nên dùng kháng sinh liều cao để phòng salmonella vì nếu trộn kháng sinh trong thức ăn trong thời gian dài sẽ làm cho vi khuẩn loại enterobacteriaceae có khả năng kháng thuốc trong ruột vịt. Vịt con từ 1 – 14 ngày cho ăn liên tục furazolidone với tỷ lệ 100g/tấn, vịt từ 2 tuần tuổi với tỷ lệ 50g/t thức ăn. Nhưng nên nhớ rằng liều phòng này không có tác dụng với những con đã mang sẵn salmonella. Liều điều trị cho đàn vịt 150g/t có hiệu nghiệm. Chữa riêng từng con thì liều chữa là 50mg/con. Mặc dù vậy phải thử khả năng mẫn cảm của bệnh trước để dùng liều chữa trong trường hợp này sử dụng liều chữa rẻ tiền nhất mà có hiệu quả.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :