Home / Trang Trại / Bệnh phân trắng ở lợn con: triệu chứng, điều trị, phòng bệnh

Bệnh phân trắng ở lợn con: triệu chứng, điều trị, phòng bệnh

/

Bệnh phân trắng ở lợn con (Colibacillosis) là một bệnh lợn phổ biến do nhiễm trùng bởi vi khuẩn Escherichia coli (E. coli). Nhiễm trùng này thường ảnh hưởng đến lợn con ở giai đoạn sau khi sinh và thường xuyên gặp trong những điều kiện môi trường kém vệ sinh. Vi khuẩn E. coli là một thành phần tự nhiên của đường ruột lợn và thường không gây bệnh. Tuy nhiên, một số chủng của E. coli có thể trở nên pathogenic (gây bệnh) và gây ra Colibacillosis.

bệnh phân trắng ở lợn

1. Phân bố và đặc điểm của bệnh phân trắng ở lợn con

Bệnh phân trắng ở lợn con (Colibacillosis) là một bệnh phức tạp và phổ biến, có các đặc điểm chính như viêm dạ dày – ruột, ỉa chảy phân trắng và gầy sút nhanh. Bệnh này đã được ghi nhận ở hầu hết các trại chăn nuôi lợn giống tại nhiều quốc gia, đặc biệt ở các nước Đông Nam Á có khí hậu ẩm ấm.

Ở Việt Nam, bệnh phân trắng đã lan rộng trong hầu hết các cơ sở chăn nuôi lợn giống từ Bắc vào Nam. Tỷ lệ lợn con bị bệnh phân trắng và tử vong vì bệnh này ở một số khu vực đã rất cao, ví dụ, tại Thanh Hoá vào năm 1961, tỷ lệ là 74%. Tại một nông trường ở Xuân Mai vào tháng 3 năm 1982, tất cả các đàn lợn đang bú con đều mắc bệnh, với tỷ lệ tử vong lên tới 50%. Bệnh phân trắng đã gây ra thiệt hại lớn trong ngành chăn nuôi lợn ở nhiều khu vực.

2. Nguyên nhân bệnh phân trắng ở lợn con

Bệnh phân trắng ở lợn con có nguyên nhân chủ yếu từ việc thiếu hụt các chất dinh dưỡng quan trọng như sắt, coban (tạo ra vitamin B12), cũng như do tình trạng môi trường chăn nuôi không tốt. Bệnh thường xuất hiện ở những nơi có chăn nuôi tập trung, nơi thiếu vận động và có chuồng ẩm ướt. Thêm vào đó, thay đổi thời tiết đột ngột và các tác động căng thẳng có thể giảm sức đề kháng của lợn, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh.

Một số nghiên cứu đã phân lập được các chủng vi khuẩn Escherichia coli (E. coli) từ các trường hợp bệnh phân trắng ở lợn con. Đặc biệt, E. coli gây bệnh chủ yếu tập trung vào một số serotype cụ thể. Các kháng nguyên K tham gia vào quá trình gây bệnh bao gồm Ksa, Kg, Kgz, Kaz, Kgs, Ks, K2, K60, trong đó Kg và Kgs có mặt ở đa số chủng E. coli gây bệnh đã được phân lập.

Nghiên cứu cũng đã kiểm tra tính mẫn cảm và tính kháng của E. coli với các loại thuốc kháng sinh. Một số kháng sinh như Cloramphenicol, Nitrofurantoin, và Neomycin được cho là có tác dụng tốt với E. coli, trong khi Tetracyclin, Streptomycin, Polymyxin B có hoạt tính kháng sinh thấp. Tỷ lệ kháng thuốc đối với một số chủng E. coli ở Việt Nam cũng được đánh giá cao đặc biệt đối với Streptomycin.

3. Bệnh lý và lâm sàng

3.1. Bệnh lý

Bệnh xảy ra ở niêm mạc dạ dày và ruột, chủ yếu ở ruột già của lợn con theo mẹ với tác động của các chủng E. coli, gây ra hiện tượng đầy, không tiêu hoá được sữa, dẫn đến ỉa chảy phân trắng.

Nhu động ruột của lợn ở thời kỳ đầu của bệnh giảm yếu, thời kỳ sau lại tăng. Nhiệt độ của lợn là 39,5 – 40,5°C, buổi chiều thường cao hơn buổi sáng 1-2 độ. Lợn con ỉa chảy một ngày 15 – 20 lần, con vật rặn nhiều, lưng uốn cong, bụng thót lại, đờ đẫn, bú ít, có khi không bú hoàn toàn. Các niêm mạc mắt, mũi, mồm nhợt nhạt, vì thiếu máu và mất nước quá nhiều. Con vật chết trong tình trạng co giật do nhiễm độc.

Không điều trị kịp thời, con vật chết trong vòng 3 – 6 ngày, trước khi chết nhiệt độ hạ xuống chỉ còn 35 – 36°C.

3.2. Triệu chứng lâm sàng

Tuổi mắc bệnh ở lợn con ỉa phân trắng thường là dưới 2 tháng, đang bú mẹ. Lợn dưới 15 ngày tuổi bệnh nặng, tử vong cao, bị còi сос nhiều sau khi cai sữa.

Lợn con bị bệnh thể hiện: thân nhiệt ít khi cao. Triệu chứng đặc trưng chủ yếu là phân lỏng, màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng, hoặc hơi vàng như mủ, đôi khi trong phân lổn nhổn hạt như vôi, cá biệt có lẫn máu. Phân từ màu vàng, trắng lỏng, chuyển thành màu xi măng và có khuôn là biểu hiện chuyển biến tốt. Phân có mùi tanh đặc biệt khó ngửi; kiểm tra dưới kính hiển vi thấy những cục sữa trắng, đông vón chưa tiêu, hoặc tế bào niêm mạc ruột bị tróc ra. Khi bắt đầu bị bệnh, lợn con bú ít dần đi, bụng tóp lại và run lẩy bẩy. Lợn bị bệnh khát nước, thường tìm nước bẩn trong chuồng để uống nếu không bảo đảm có nước uống đầy đủ. Đôi khi, lợn bị bệnh nôn oẹ ra sữa chưa tiêu có mùi chua.

Kiểm tra máu, ở lợn bị bệnh tỷ lệ hemoglobin dưới 30mg%; số lượng hồng cầu 3 triệu/mm3 (ở lợn khoẻ, tỷ lệ hemoglobin thấp nhất là 50mg%, hồng cầu 5,4 triệu/mm3).

4. Dịch tễ học

Động vật cảm nhiễm:

  • Thường chỉ thấy ở lợn con theo mẹ từ 7 – 60 ngày tuổi, cơ năng tiêu hóa của lợn yếu, dễ bị bệnh không tiêu (dyspepsia) khi có tác động của các vi khuẩn E. coli gây bệnh.
  • Thành phần dinh dưỡng và phẩm chất của sữa lợn mẹ kém cũng làm giảm sức đề kháng của lợn con nên lợn con dễ bị bệnh.

Điều kiện chăn nuôi:

  • Vệ sinh chăm sóc kém (chuồng trại, máng ăn, nơi nằm), không chống ẩm, chống lạnh đầy đủ dẫn đến các stress khiến lợn con giảm sức đề kháng và mắc bệnh.
  • Thay đổi thức ăn đột ngột cho lợn mẹ: Khi tăng lượng đạm và mỡ trong thức ăn cho lợn mẹ, làm thay đổi thành phần của sữa cũng ảnh hưởng đến tiêu hoá của lợn con và bệnh dễ phát sinh.

5. Điều trị bệnh phân trắng ở lợn con

5.1. Điều trị bằng kháng sinh và Sulfanilamide

Phân lập các chủng E. coli và các vi khuẩn kết hợp để tạo thành kháng sinh đồ. Dựa trên cơ sở này, lựa chọn kháng sinh để điều trị. Một số kháng sinh thường được sử dụng riêng lẻ hoặc phối hợp trong quá trình điều trị.

  • Neomycin: 50 – 100mg/kg trọng lượng cơ thể
  • Oxytetracyclin: 50 – 100mg/kg trọng lượng cơ thể
  • Enrofloxacin: 20 – 25mg/kg trọng lượng cơ thể
  • Kanamycin: 50mg/kg trọng lượng cơ thể

Liệu trình: Sử dụng trong 3 – 4 ngày cho đến khi lợn con không còn triệu chứng ỉa phân trắng. Sử dụng một số kháng sinh mới theo phác đồ sau:

Phác đồ 1:

  • Thuốc điều trị: Florfenicol (Hanflor, RTD Flocol). Liều lượng: 1ml/20 kg trọng lượng cơ thể/ngày; tiêm thuốc 2 ngày/lần
  • Thuốc trợ sức: Kết hợp với vitamin B1, vitamin C và dung dịch điện giải.
  • Hộ lý: Giữ chuồng khô sạch, kín đáo vào những ngày lạnh; tránh gió lùa; giảm lượng đạm và chất béo trong khẩu phần ăn của lợn mẹ.

Phác đồ 2:

  • Thuốc điều trị: Ceftiofur (Hanceft, RTD Septicus, Navet-cel). Liều lượng: 1ml/12-15 kg trọng lượng cơ thể; tiêm thuốc 3 ngày.
  • Thuốc trợ sức: Giống như phác đồ 1.
  • Hộ lý: Tương tự như phác đồ 1.

Có thể sử dụng các kháng sinh này phối hợp với một số dạng sulfanilamid để dùng cho việc uống hoặc dung dịch:

  • Bisepton với liều 50mg/kg trọng lượng cơ thể
  • Sulfadimetoxin với liều 50mg/kg trọng lượng cơ thể
  • Sulfamonotoxin (Daimeton) với liều 50mg/kg trọng lượng cơ thể.

5.2. Điều trị bằng nguyên tố vi lượng

Sunfat sắt (FeSO4) trộn với thức ăn cho lợn mẹ ăn thêm trước khi đẻ 20 – 25 ngày và sau khi đẻ 20 – 30 ngày. Công thức này đã cho kết quả phòng tránh bệnh lợn con ỉa phân trắng.

Protoxalat hoặc oxalat sắt được sử dụng theo liều lượng sau: Hoà nước theo công thức 1g với 200ml nước, cho lợn uống 4,5 – 7ml/ngày, dùng liên tục trong 7 – 10 ngày. Công thức này không chỉ có tác dụng khỏi bệnh mà còn giúp tăng trọng lượng lợn con.

6. Phòng bệnh phân trắng ở lợn con

6.1. Dùng vaccin

Vacxin được chế tạo từ các chủng E. coli gây bệnh phân trắng ở lợn con được phân lập từ các địa phương, thuộc các serotype; 0.43, Ou4z, Ou9, O129, O138, 143⁹, 147, 138⁹, O12z, Ouz, Og. Vacxin được chế dạng vô hoạt và sử dụng bằng cách tiêm 115, cho lợn mẹ 1 – 2 lần trước khi đẻ. Lợn mẹ được miễn dịch sẽ truyền miễn dịch cho lợn con qua sữa, đặc biệt là sữa đầu. Lợn con có khả năng chống đỡ với các chủng E. coli gây bệnh, với hiệu quả đạt khoảng 60%.

Vacxin E. coli dạng uống: Vacxin cũng được chế tạo từ các chủng E. coli gây bệnh phân lập từ các địa phương, sử dụng cho lợn uống 3 – 4 lần sau khi đẻ.

Trong vài năm gần đây, nước ta đã nhập khẩu 2 loại vacxin tiêm phòng bệnh phân trắng cho lợn con, đó là vacxin Rokovac từ hãng Biovita (Tiệp Khắc) và vacxin Porcilis coli từ INTERVET (Hà Lan), đều đạt hiệu quả cao.

6.2. Cải thiện các điều kiện nuôi dưỡng lợn nái và lợn con

Nuôi dưỡng lợn nái theo khẩu phần quy định, bao gồm đủ lượng đạm, bột đường, vitamin khoáng đa lượng và vi lượng, chất béo vừa đủ, sẽ đảm bảo cho thai phát triển tốt và lợn con sau khi sinh có sức đề kháng với bệnh.

Chú ý cho lợn con ăn thức ăn bổ sung sớm sau 1 tháng tuổi, bao gồm cả các loại vi lượng, sunfat sắt, sulfat đồng, sulfat coban… sẽ giảm tỷ lệ lợn con ỉa phân trắng.

Giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín ấm vào mùa đông và đầu mùa xuân, giữ khô ráo, chống ẩm ướt sẽ giúp phòng tránh bệnh lợn con ỉa phân trắng. Hiện nay, một số cơ sở lợn giống đã sử dụng sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để phòng bệnh lợn con ỉa phân trắng với hiệu quả cao.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :