Home / Trang Trại / Bệnh đóng dấu lợn: nguyên nhân, triệu chứng, điều trị, phòng bệnh

Bệnh đóng dấu lợn: nguyên nhân, triệu chứng, điều trị, phòng bệnh

/

Bệnh đóng dấu lợn (Erysipelas suis) là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Erysipelothrix rhusiopathiae, một loại vi khuẩn Gram dương, có thể gây nhiễm trùng ở lợn và cũng có thể lây truyền từ lợn sang con người. Dấu hiệu có thể bao gồm sốt, đau nhức, sưng, đỏ, và nổi mẩn trên da của lợn. Bệnh này có thể ảnh hưởng đến nhiều bộ phận khác nhau của cơ thể lợn, bao gồm cả da, khớp, và cơ bắp. Nếu lợn bị nhiễm trùng, có thể gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi lợn. Ngoài ra, có trường hợp người lao động trong ngành chăn nuôi có thể bị lây nhiễm từ lợn sang, đặc biệt là khi có tiếp xúc với máu hoặc mô của lợn nhiễm khuẩn.

bệnh đóng dấu ở lợn

1. Phân bố

Bệnh đóng dấu lợn (Erysipelas suis) hay còn gọi là “dịch quan ôn đóng dấu,” đã tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm châu Âu, châu Mỹ, châu Á, và châu Phi. Ở Việt Nam, bệnh này đã xuất hiện từ rất lâu, được biết đến là “dịch quan ôn đóng dấu.” Bệnh có mặt ở mọi vùng sinh thái, đặc biệt là ở phía Bắc, và phân bố rộng rãi ở vùng đồng bằng.

Bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở nước ta vào năm 1933 tại Thái Bình và Nam Định. Một số đợt dịch lớn đã xảy ra, đặc biệt là từ mùa đông năm 1956 đến hết mùa xuân năm 1957, khiến 1.531 xã thuộc 27 tỉnh bị ảnh hưởng. Số lợn mắc bệnh đạt khoảng 8 vạn con, trong đó có 33.077 con chữa khỏi và 223.106 con được tiêm phòng.

Hiện nay, tình hình bệnh đã giảm nhiều, tuy nhiên, hằng năm vẫn có những ổ dịch nhỏ xảy ra ở một số tỉnh thuộc trung du và miền núi phía Bắc. Điều này đặt ra yêu cầu cần duy trì và nâng cao công tác phòng chống để kiểm soát và ngăn chặn sự lây lan của bệnh trong cộng đồng lợn.

2. Nguyên nhân bệnh đóng dấu lợn

Bệnh đóng dấu lợn được gây ra bởi vi khuẩn Erysipelothrix rhusiopathiae, được Robert Koch phát hiện vào năm 1878. Vi khuẩn này bắt màu Gram dương, không di động, có dạng hình gậy hoặc cong, sắp xếp thành từng đôi hoặc 4 vi khuẩn tạo thành chuỗi ngắn, với chiều dài từ 0,8 đến 2,5 micromet, và chiều rộng từ 0,2 đến 0,4 micromet.

Vi khuẩn này phát triển tốt trong môi trường có pH từ 7,4 đến 7,8. Nó có khả năng sống dưới đất trong xác động được chôn suốt 9 tháng. Vi khuẩn có thể tồn tại khi được sấy khô hàng tuần và sống trong điều kiện ẩm tối ở nhiệt độ 37°C trong 1 tháng. Ở 60°C, vi khuẩn sẽ chết sau 15 phút. Dung dịch NaOH 2% và nước vôi 10% cũng có khả năng giết chết vi khuẩn sau vài giờ.

Tại Việt Nam, đã phân lập được 26 chủng vi khuẩn, trong đó, gần một nửa số chủng thuộc serotype D, khoảng 1/4 thuộc serotypE, 2 chủng thuộc serotype N, và 4 chủng khác chéo giữa D và F. Còn lại, có 2 chủng không thuộc serotype nào. Điều này cho thấy sự đa dạng của vi khuẩn Erysipelothrix rhusiopathiae và cần phải tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về đặc điểm của từng chủng và cách chúng tương tác với cơ thể lợn.

3. Triệu chứng và bệnh tích

3.1. Triệu chứng

Thời kỳ nung bệnh kéo dài từ 3 đến 5 ngày. Lợn bị bệnh ở 3 thể: 8 ngày, trung bình 160.

Thể quá cấp tính: Lợn bị bệnh nhiễm trùng huyết thường chết sau 2 – 3 giờ hoặc 12 – 24 giờ khi thân nhiệt hạ. Sốt cao 41 – 42°C, mắt đỏ, con vật không ăn uống, điên cuồng lồng lộn rồi rúc đầu vào khe chuồng mà chết hoặc hộc máu ra chết. Lợn chết nhanh, chưa kịp thể hiện dấu hiệu đặc trưng lâm sàng của bệnh.

Thể cấp tính: Thể này thường thấy con vật bắt đầu ủ rũ, mệt mỏi, lờ đờ, chê cám, ăn kém hoặc không ăn, chui vào ổ nằm. Sau đó, lợn sốt cao 42°C trong 2 – 3 ngày, da khô, run rẩy bốn chân. Lúc sốt có đi táo, phân có màng bọc lầy nhầy, có con nôn mửa, về sau đi ỉa chảy. Các niêm mạc đỏ thẫm hoặc tím bầm. Lợn bệnh chảy nước mắt, nước mũi, thở khó. Hai ba ngày sau trên da xuất hiện những vết đỏ, ở tai, lưng, ngực, mắt, trong đùi, hình vuông, hình quả trám, bầu dục, đa giác… Các dấu đó lúc đầu đỏ tươi sau chuyển sang đỏ sẫm tím bầm. Khi lợn bị chết có màu tím xanh hay tím bầm. Bệnh tiến triển từ 3 – 5 ngày. Con vật yếu dần, thở khó, thân nhiệt hạ nhanh và chết. Tỷ lệ chết 50 – 60%.

Thể mãn tính: Thể này thường tiếp theo của thể cấp tính, kéo dài 3 – 4 tháng. Con vật ăn uống kém, gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, thân nhiệt bình thường hoặc sốt nhẹ. Có thể thấy 3 triệu chứng chủ yếu: viêm nội tâm mạc, viêm khớp xương và hoại tử da. Van tim sần sùi như hoa súp lơ, phổi thủy thũng.

Triệu chứng hoại tử thấy ở nhiều nơi trên cơ thể: lưng, bụng, vai, đầu, tai… Da sưng đỏ lan rộng ra thành mảng lớn, màu đỏ, không đau, hoại tử, loét chảy nước hôi thối và tróc da từng mảng như bánh đa. Con vật có thể khỏi hoặc chết do gầy, kiệt sức. Có con chết bất thình lình do viêm nội tâm mạc.

3.2. Bệnh tích

Thể quá cấp: Thường không rõ, chỉ thấy thận viêm sưng và có đám tụ máu xuất huyết.

Thể cấp tính: Bệnh tích sung huyết, xuất huyết, mô liên kết dưới da tụ máu, thấm nước nhớt, đỏ hồng, các niêm mạc tụ huyết, xuất huyết; thận sưng to tụ máu, máu đỏ sẫm, có mảng tròn đỏ hoặc vuông; vỏ thận có chấm xuất huyết do viêm tiểu cầu từng chỗ, cắt thấy màu nâu mềm. Hạch lâm ba sưng to, ứ máu, có lấm chấm xuất huyết. Ruột viêm đỏ, nhất là tá tràng và hồi tràng. Dạ dày viêm đỏ, phúc mạc viêm có nước. Tim tụ máu, xuất huyết, ngoại tâm mạc có nước vàng; phổi tụ máu.

Thể mãn tính: Viêm nội tâm mạc, van tim sần sùi như hoa súp lơ, có sợi huyết fibrin. Tụ máu ở phổi, gan, lách, xuất huyết lấm tấm trên mặt thận. Viêm khớp xương bàn chân, đầu gối, đầu xương sần sùi. Da khô, hoại tử, lột từng mảng. Viêm ruột mãn tính.

4. Chẩn đoán bệnh đóng dấu lợn

Chẩn đoán lâm sàng: Một số triệu chứng điển hình như dấu đỏ hình vuông, hình quả trám trên da, da hoại tử bóc thành từng mảng; có một số bệnh tích đặc hiệu như thận, lách sưng, tụ máu, van tim sần sùi; viêm khớp xương chân và viêm ruột mãn tính hỗ trợ cho quá trình chẩn đoán lâm sàng.

Chẩn đoán vi khuẩn học: Khi lợn nghi mắc bệnh và còn sống, ta có thể lấy máu để xét nghiệm và tìm kiếm vi khuẩn. Đối với lợn đã chết, việc phân lập vi khuẩn từ máu tim, tổ chức tim, phổi, gan, lách, thận và các khớp cũng được thực hiện. Việc tiến hành xét nghiệm trong phòng thí nghiệm có thể kết hợp các bước như: nhuộm Gram và quan sát dưới kính hiển vi; nuôi cấy trên môi trường VF; tiêm bệnh phẩm cho chuột bạch hoặc bồ câu (tiêm dưới da hoặc bắp thịt) động vật sẽ chết sau 2 – 4 ngày.

Chẩn đoán huyết thanh học: Để chẩn đoán huyết thanh học bệnh đóng dấu lợn, có thể sử dụng một trong các phương pháp sau:

  • Phản ứng ngưng kết trên gen thạch (AGID).
  • Phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFAT).
  • Phản ứng miễn dịch gắn men (ELISA).

5. Điều trị bệnh đóng dấu lợn

5.1. Dùng kháng huyết thanh

Điều trị bằng kháng huyết thanh thường tốn kém, nhưng trong trường hợp đặc biệt, đặc biệt là ở cơ sở lợn giống, vẫn cần sử dụng. Kháng huyết thanh được tiêm dưới da: Lợn dưới 25kg với liều 5 – 10ml/lợn; lợn trên 45kg với liều 20 – 40ml. Huyết thanh có tác dụng bao vây để loại bỏ mầm bệnh trong khoảng thời gian từ 24 – 26 giờ.

5.2. Điều trị bằng kháng sinh và Sulfamid

Phác đồ 1:

  • Thuốc điều trị: Penicillin G: 30.000 – 40.000 UI/kg thể trọng/ngày. Dùng tiêm bắp thịt, liên tục 3 – 4 ngày.
  • Nếu có hiện tượng kháng thuốc, có thể thay Penicillin G bằng Ampicillin: 30 – 40mg/kg thể trọng/ngày.
  • Thuốc trợ sức: Tiêm cafein, vitamin B1, vitamin C, cho uống dung dịch điện giải khi lợn mệt nhọc, ít ăn.
  • Hộ lý: Cách ly điều trị; giữ chuồng khô sạch, thoáng khí mùa hè; kín ấm, tránh gió lùa mùa đông; chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn bệnh.

Phác đồ 2:

  • Thuốc điều trị: Penstrep: 30mg/kg thể trọng ngày, dùng thuốc tiêm liên tục 3 – 4 ngày.
  • Thuốc trợ sức: Như phác đồ 1.
  • Hộ lý: Như phác đồ 1.

Phác đồ 3:

  • Thuốc điều trị: HN Enrovet 50T (Enrovet 10% INJ): liều 1ml/20kg thể trọng/ngày. Dùng liên tục 3 – 4 ngày.
  • Thuốc trợ sức: Như phác đồ 1.
  • Hộ lý: Như phác đồ 1.

Phác đồ 4:

  • Thuốc điều trị: RTD Septisus (Hanceft, Navet-cel): tiêm theo liều 1ml/12 – 15kg thể trọng/ngày; tiêm 3 ngày.
  • Thuốc trợ sức: Như phác đồ 1.
  • Hộ lý: Như phác đồ 1.

Phác đồ 5:

  • Thuốc điều trị: Hanflor tiêm bắp 1ml/20kg thể trọng; tiêm 2 ngày/lần. Mỗi vị trí tiêm không quá 20ml.
  • Thuốc trợ sức: Như phác đồ 1.
  • Hộ lý: Như phác đồ 1.

6. Phòng bệnh đóng dấu lợn

Phòng bệnh bằng vaccine: Hiện nay có 3 loại vaccine phổ biến:

  • Vaccine nhược độc VR2: Được sử dụng với liều 3ml/lợn. Năm 1985, Nguyễn Văn Lãm đã phát triển vacxin tụ dấu 3/2, bảo vệ đồng thời khỏi Tụ huyết trùng và Đóng dấu lợn. Liều tiêm là 3ml/1 lợn, miễn dịch kéo dài 6 – 8 tháng. Vaccine này cần được bảo quản ở nhiệt độ +4°C đến +10°C và có thời gian bảo quản là 9 tháng.
  • Vaccine VR2: Là vaccine nhược độc chế tạo từ chủng Rumani, được tiêm với liều 2ml/lợn, mang lại miễn dịch kéo dài 6 – 8 tháng.
  • Vaccine vô hoạt: Dạng vacxin keo phèn được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Liều dùng là 3ml/lợn. Sau khi tiêm 2-3 tuần, lợn có miễn dịch chắc chắn, kéo dài 6 tháng.

Phòng bệnh bằng biện pháp vệ sinh:

  • Mua lợn ở nơi không có dịch, sau đó nhốt riêng trong 2 tuần trước khi nhập đàn.
  • Thực hiện vệ sinh chuồng trại thường xuyên và định kỳ tẩy uế chuồng trại với dung dịch Iodin 3%.
  • Chuồng có lợn ốm phải xử lý và trống trong 1 – 2 tháng trước khi nuôi lại.
  • Việc giết mổ lợn phải được thực hiện đúng nơi quy định và có kiểm soát sát sinh chặt chẽ.
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :