Home / Trang Trại / Bệnh dịch tả lợn cổ điển: triệu chứng, điều trị, phòng bệnh

Bệnh dịch tả lợn cổ điển: triệu chứng, điều trị, phòng bệnh

/

Bệnh dịch tả lợn cổ điển (Pestis suum/Classical Swine Fever – CSF), là một bệnh lợn truyền nhiễm và tiềm ẩn nghiêm trọng, do một virus thuộc họ Flaviviridae, chi Pestivirus gây ra. Bệnh có thể gây ra tử vong đáng kể trong bầy lợn và có ảnh hưởng nặng nề đến ngành công nghiệp chăn nuôi lợn.

Bệnh dịch tả lợn cổ điển

1. Phân bố bệnh dịch tả lợn cổ điển

Bệnh dịch tả lợn cổ điển (Pestis suum/Classical Swine Fever – CSF) là một bệnh truyền nhiễm phổ biến ở lợn, lây lan nhanh chóng do virus gây ra, được Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) xếp vào danh sách các bệnh của động vật trên cạn và thủy sản phải thông báo dịch (tháng 1/2013).

Bệnh lần đầu tiên được ghi nhận ở Mỹ vào năm 1833 và đến năm 1855, bệnh đã lan ra toàn quốc Mỹ. Sau đó, bệnh đã lan sang các nước châu Mỹ, châu Âu, châu Á, châu Phi và Úc. Cho đến năm 1968, bệnh này đã giảm và được kiểm soát ở một số nước như Úc, Canada, Thụy Sĩ, Mỹ, với chi phí chương trình thanh toán bệnh lên đến khoảng 140 triệu đô la.

Ở Việt Nam, bệnh được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1923-1924, tại các tỉnh miền Bắc như Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên. Sau đó, bệnh đã xuất hiện ở hầu hết các tỉnh miền Nam và miền Trung.

Trong những năm gần đây, tình hình bệnh dịch tả lợn đã giảm đáng kể, nhưng vẫn có những ổ dịch xuất hiện không đều quanh năm ở một số tỉnh biên giới phía Bắc như Việt Nam-Lào và Việt Nam-Campuchia. Theo đánh giá của các chuyên gia thú y, thiệt hại do bệnh dịch tả lợn cổ điển chiếm khoảng 50% tổng thiệt hại do 4 bệnh đỏ của lợn (gồm bệnh dịch tả lợn, bệnh đóng dấu, bệnh tụ huyết trùng, và bệnh phó thương hàn) gây ra.

2. Nguyên nhân bệnh dịch tả lợn cổ điển

Virus dịch tả lợn cổ điển thuộc họ Flaviviridae, chi Pestivirus, có ARN. Ở nhiệt độ 55 – 60°C, virus bị diệt sau 16 – 24 giờ. Virus này bền vững ở môi trường axit khô (pH = 4,8 – 5,1). Trong thịt muối, virus có thể sống được trong 73 ngày. Do đó, một trong những con đường lây lan nguy hiểm là do virus tồn tại trong sản phẩm thịt tươi đông lạnh có thể kéo dài từ 4 – 10 tháng.

Các chủng virus dịch tả lợn cổ điển phân lập từ các địa phương khác nhau có độc lực rất khác nhau. Những chủng có độc lực cao có thể gây bệnh ở thể cấp tính với tỷ lệ chết cao. Trong khi đó, các chủng có độc lực trung bình có thể gây bệnh ở thể thứ cấp tính hoặc mãn tính.

3. Triệu chứng bệnh dịch tả lợn cổ điển

Bệnh dịch tả lợn cổ điển có thể xuất hiện ở mức độ và thể trạng khác nhau:

Thể quá cấp tính: Bệnh phát ra nhanh chóng, lợn bị bệnh chết đột ngột, không có triệu chứng lâm sàng đặc trưng. Con vật đang khỏe tự nhiên chê cám, ủ rũ, thân nhiệt tăng cao (41 – 42°C) nôn mửa, da chân, trong đùi, dưới bụng đỏ ửng lên rồi tím lại. Mạch nhanh, không đều, sau loạn nhịp, thở nhanh và thở dồn rồi chết, sau 1 – 2 ngày tỷ lệ chết 100%.

Thể cấp tính: Thể này thường gặp ở nước ta. Lợn biểu hiện buồn bã, biếng ăn hoặc bỏ ăn, tìm nơi tối để nằm, thân nhiệt tăng (41 – 42°C) trong 4 5 ngày liền, sau đó thân nhiệt hạ xuống là lúc con vật ỉa chảy nặng. Con vật khát nước, bỏ ăn. Da mỏng phía bên trong đùi xuất hiện những nốt xuất huyết đỏ bằng đầu đinh ghim, hạt đậu, dần dần bầm tím lại. Viêm kết mạc và giác mạc có xuất tiết dịch nhầy và dử ghèn ở mắt. Ở xoang mũi cũng có dịch xuất tiết và niêm mạc mũi xuất huyết đỏ. Lúc đầu lợn đi táo khi thân nhiệt cao. Sau đó ỉa chảy nặng, phân lỏng màu xanh xám có mùi tanh khẳm đặc biệt. Niêm mạc mồm miệng bị loét, phủ bựa vàng trắng. Virus cũng gây viêm não, xuất huyết dưới màng não. Chứng co giật xuất hiện, khi lợn sốt cao. Lợn bị bệnh sẽ chết sau vài ngày. Trước khi chết, con vật liệt chân, đi chệnh choạng, hoặc bại liệt toàn thân. Đối với lợn cái chửa, virus gây sảy thai, thai gỗ, thai dị dạng, chết lưu và lợn con chết yểu sau đẻ.

Thể thứ cấp: Bệnh kéo dài đến tuần thứ 3. Ở thể bệnh này các triệu chứng biểu hiện như ở thể cấp tính nhưng mức độ nhẹ hơn. Bệnh thường kéo dài có nhiễm khuẩn kế phát do Salmonella, E. coli. Khi có bệnh phó thương hàn kết hợp, con vật bị bệnh ỉa chảy nhiều, phân rất thối. Nếu bệnh có ghép với bệnh tụ huyết trùng thì có những triệu chứng viêm phổi hoặc viêm màng phổi, mũi chảy dịch nhầy lẫn mủ. Lợn mắc bệnh thể này thường chết 100%.

Thể mãn tính: Khi lợn qua được thể cấp tính hoặc thứ cấp tính, bệnh chuyển sang thể mãn tính, tiến triển 1 – 2 tháng với biểu hiện các triệu chứng lúc đi táo, lúc ỉa chảy, ho, thở khó, trên da có vết tím. Con vật chết do kiệt sức hoặc có thể khỏi nhưng gầy còm, mang trong mình và thải ra virus một thời gian. Ở lợn nái, người ta phát hiện trạng thái miễn dịch mang trùng và thải virus kéo dài, lây truyền bệnh ngay cho đàn con của chúng và lợn nái chửa thường sảy thai.

4. Bệnh tích

Ở thể cấp tính:

  • Niêm mạc miệng, lợi viêm; niêm mạc dạ dày xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim có vết loét.
  • Ở ruột già, các nốt loét trên niêm mạc hình cúc áo có đường tròn đồng tâm và phủ bựa vàng xám.
  • Nốt loét tập trung nhiều ở van hồi manh tràng. Hạch lâm ba ruột tụ máu, sưng đỏ thẫm và tím như đá hoa vân.
  • Lá lách không sưng hoặc ít sưng, nhưng có hiện tượng nhồi huyết và xuất huyết ở viền lách.
  • Thận xuất huyết lấm tấm bằng đầu đinh ghim ở cả phần vỏ thận và phần kẽ thận.
  • Niêm mạc bàng quang có hiện tượng viêm cạt và xuất huyết.
  • Phổi và màng phổi viêm tụ máu, có những chấm đỏ xuất huyết.
  • Tim thường nhão, phần tâm nhĩ bị xuất huyết, phần tâm thất bị sưng, cơ tim bị sung huyết.
  • Lợn bệnh thỉnh thoảng có xuất huyết não và màng não.

Ở thể mãn tính:

  • Những bệnh tích xuất huyết và nhồi máu ít thấy hoặc không thấy.
  • Bệnh tích thường thấy ở ruột với các nốt loét có bờ ở van hồi manh tràng.
  • Ở phổi còn thấy bệnh tích viêm cạt.

5. Chẩn đoán bệnh dịch tả lợn cổ điển

Chẩn đoán dịch tễ học: Bệnh dịch tả lợn lây lan nhanh và rộng, gây tử vong lớn trong mọi độ tuổi, đặc biệt là ở lợn con, không phân biệt theo vùng địa lý.

Chẩn đoán lâm sàng: Dựa trên nhiều triệu chứng và bệnh tích như sốt cao (41-42°C), viêm kết mạc, yếu chân sau, đi chệnh choạng, xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim hoặc nốt ở vùng da mỏng. Lợn ỉa chảy nặng, có thể cần câu khi hạ nhiệt. Niêm mạc ruột tụ huyết, xuất huyết; nhồi huyết ở lách; có mụn loét tròn ở van hồi manh tràng.

Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFAT): Những mẫu bệnh phẩm gửi đến để chẩn đoán bao gồm hạch Amidan, lách, thận và ruột. Phương pháp huỳnh quang trên lát mô bào đông lạnh là phương pháp thực hiện đơn giản, nhanh chóng và chính xác.

Phản ứng trung hòa virus (VN): Là phản ứng đặc hiệu để phân biệt giữa kháng thể chống lại virus dịch tả lợn và virus dịch tả trâu, bò. Sự phát hiện của kháng thể có thể là tiêu chuẩn chẩn đoán cho những đàn lợn bị bệnh mà không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng.

Chẩn đoán phân biệt:

  • Với bệnh dịch tả lợn châu Phi: Bệnh này thường gây ra tỷ lệ tử vong cao (100% lợn chết). Biểu hiện đặc trưng là xuất huyết nặng lan rộng ở phủ tạng và các mô. Lách sưng to và đầy máu, hạch lâm ba cũng xuất huyết nặng. Để chẩn đoán phân biệt, cần sử dụng các phương pháp đã nêu để phát hiện mầm bệnh.
  • Với bệnh phó thương hàn: Bệnh thường xảy ra ở lợn con trước và sau thời kỳ cai sữa. Triệu chứng lâm sàng điển hình bao gồm ỉa chảy dữ dội và xuất huyết ở chỏm tai và mõm trên da lợn. Bệnh có thể chữa khỏi bằng cách sử dụng kháng sinh như Streptomycin và Oxytetracycline.
  • Với bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE): Lợn mắc bệnh TGE thường không có sốt cao và tỷ lệ tử vong thấp. Bệnh chỉ xuất hiện ở lợn con từ 1-3 tuần tuổi.

6. Phòng bệnh dịch tả lợn cổ điển

Phòng bệnh bằng vaccine:

  • Việc phòng bệnh hiệu quả nhất là tiêm vaccine. Cần tiêm vacxin sớm cho lợn trên 2 tuần tuổi và tiêm bổ sung cho những con lợn 6-8 tuần tuổi chưa được tiêm vào 2 tuần tuổi.
  • Vaccine được sử dụng phổ biến hiện nay là vaccine virus nhược độc chủng C, tạo miễn dịch chắc chắn một tuần lễ sau khi tiêm và miễn dịch kéo dài từ 1-2 năm.
  • Lợn nái miễn dịch truyền được kháng thể cho lợn con qua sữa đầu, kháng thể có thể tồn tại được trong 14 ngày. Lợn sơ sinh tiếp thu kháng thể thụ động trong vòng từ 5-8 tuần.
  • Thường quy trình tiêm vacxin cho lợn con là vào lúc 6 tuần tuổi và tiêm lại sau 5 tháng. Vaccine có tác dụng bảo vệ lợn chống lại bệnh sau 7-10 ngày từ khi tiêm, cho phép sử dụng vaccine trực tiếp vào nơi dịch để dập tắt dịch kịp thời.

Biện pháp phòng bệnh, vệ sinh thú y có hiệu quả khi dịch xảy ra:

  • Cấm không vận chuyển lợn ra hoặc vào ổ dịch.
  • Cấm bán lợn và thịt lợn ốm.
  • Tiến hành tiêu độc chuồng và dụng cụ chăn nuôi bằng dung dịch nước vôi 10%, xút 2%, iodin 1%, nước vôi 10%, và vôi bột.
  • Chôn sâu xác lợn ốm chết giữa 2 lớp vôi.
  • Tiêm phòng bao vây ổ dịch, có thể tiêm trực tiếp vaccine vào ổ dịch để dập tắt dịch một cách kịp thời.
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :