Home / Trang Trại / 4 nguyên nhân gây ô nhiễm rau trồng & tác hại tới sức khỏe

4 nguyên nhân gây ô nhiễm rau trồng & tác hại tới sức khỏe

/

Những nguyên nhân gây ô nhiễm rau trồng gồm hóa chất bảo vệ thực vật, hàm lượng NO3 cao bất thường, ô nhiễm kim loại nặng và vi sinh vật xâm nhập.

nguyên nhân gây ô nhiễm rau trồng

Để xác định rõ nguyên nhân làm rau xanh bị ô nhiễm và để xây dựng các biện pháp canh tác hợp lý nhằm giảm đến mức thấp nhất các dư lượng hóa chất gây tác hại cho sức khỏe con người có trong sản phẩm thì cần đánh giá đúng thực trạng môi trường canh tác và tác động nhiều chiều đến sự ô nhiễm. Song, với sự cố gắng của nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, những nguyên nhân gây ô nhiễm rau trồng đã được nghiên cứu, phân tích làm rõ, cụ thể gồm những nguyên nhân sau. Xem thêm quy trình sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn VietGAP.

1. Ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật

Khi phun thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ dại… thuốc sẽ tạo thành một lớp mỏng trên bề mặt lá, quả, thân cây, mặt đất, mặt nước và một lớp chất lắng gọi là dư lượng ban đầu của thuốc. Theo Viện Bảo vệ Thực vật (năm 2002), hiện nay ở Việt Nam đã sử dụng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 26 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng tăng.

Tuy chủng loại nhiều, song do thói quen sợ rủi ro, ít hiểu biết về mức độ độc hại của hóa chất bảo vệ thực vật nên nông dân chỉ sử dụng một số loại thuốc quen thuộc. Nhiều khi bà con còn sử dụng những loại thuốc nhập lậu có độc tố cao đã bị cấm sử dụng như monitor, wofatox. Nguyên nhân nữa là các loại thuốc nhập lậu này giá rẻ, phổ diệt sâu rộng và hiệu quả diệt cao.

Một nguyên nhân quan trọng khác là khoảng thời gian cách ly giữa lần phun thuốc cuối cùng tới lúc thu hoạch không được tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt là các loại rau thu hoạch liên tục như dưa chuột, cà chua, đậu cove, mướp đắng. Theo điều tra của Đề tài KT-02-07 (Phạm Bình Quyền, 1995) khoảng 80% số người được hỏi khẳng định rằng sản phẩm rau của họ bán trên thị trường được thu hoạch với thời gian cách ly phổ biến là 3 ngày, không phân biệt là loại thuốc trừ sâu nào.

Tác hại các vùng rau tập trung chuyên canh ven thành phố như Hà Nội, Đà Lạt, do hệ số sử dụng ruộng đất cao, thời vụ rải đều nên trên đồng ruộng hầu như có cây trồng quanh năm đã tạo ra nguồn thức ăn liên tục cho các loại sâu và tạo ra sự di chuyển của bướm ngày càng mạnh từ ruộng sắp thu hoạch tới ruộng mới trồng, do vậy khó tránh khỏi việc sử dụng thuốc thường xuyên. Trung bình một chu kỳ trồng cải bắp, người nông dân phải phun từ 7-15 lần với lượng thuốc từ 4-5 kg/ha trong một vụ từ 75-90 ngày.

Ngoài ra, nhiều nông dân còn sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu độ độc cao (nhóm I, II) để bảo quản hạt giống các loại rau hay bị sâu, mọt như hạt mùi, tía tô, rau dền, rau muống, húng quế.

Với hiện trạng sử dụng thuốc trừ sâu như vậy, kết quả phân tích dư lượng thuốc trừ sâu trong mẫu rau xanh bán tại Hà Nội của Chi cục Bảo vệ Thực vật Hà Nội cho thấy trong vụ đông xuân 2002, hơn 60% mẫu rau có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhóm carbamate và vượt ngưỡng cho phép. Theo thống kê của Bộ Y tế cho biết, trong hai năm 2001-2002, tại các tỉnh phía Nam có hơn 600 trường hợp ngộ độc do ăn rau có hoá chất bảo vệ thực vật phải đi cấp cứu, ngoài ra lượng tồn dư không gây độc cấp tính còn khá phổ biến.

2. Ô nhiễm do hàm lượng nitrat (NO3) trong rau quá cao

Nitrat vào cơ thể ở mức độ bình thường không gây độc, chỉ khi hàm lượng vượt tiêu chuẩn cho phép mới gây nguy hiểm. Trong hệ thống tiêu hoá nitrat (NO3) bị khử thành nitrit (NO2), nitrit là một trong những chất biến oxyhemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành chất không hoạt động được gọi là methaemoglobin, ở mức độ cao sẽ làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng tới hoạt động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển các khối u. Trong cơ thể người, lượng nitrat ở mức độ cao sẽ gây phản ứng với các amin thành chất gây ung thư gọi là nitrosamin. Có thể nói, hàm lượng NO3 vượt ngưỡng là triệu chứng nguy hiểm cho sức khỏe con người, nên các nước nhập khẩu rau tươi đều kiểm tra hàm lượng nitrat trước khi nhập khẩu sản phẩm. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cộng đồng Y tế châu Âu (EC) đưa ra giới hạn hàm lượng nitrat trong nước uống dưới 50mg/l. Trẻ em thường xuyên uống nước có hàm lượng nitrat cao hơn 45kg/l sẽ bị rối loạn trao đổi chất, giảm khả năng kháng bệnh của cơ thể. Ở Mỹ lại cho rằng hàm lượng nitrat phụ thuộc vào từng loại rau. Ví dụ: măng tây không được quá 50mg/kg nhưng cải củ cho phép tới 3.600mg/kg; còn ở Việt Nam thường sử dụng bảng quy định của Nga (quy định này sẽ đề cập ở phần sau).

Rau bán trên thị trường hiện nay có thể phân thành ba nhóm chính:

Nhóm 1: có tồn dư NO3 rất cao (> 1.200mg/kg tươi) gồm: cải xanh, cải cúc, cải bẹ, rau dền, rau đay, cải trắng.

Nhóm 2: có tồn dư NO3 600-1.200 mg/kg tươi gồm cải bắp, cải củ, mồng tơi, xà lách, rau cải ngọt, su hào, mướp, bầu, bí và các loại rau gia vị.

Nhóm 3: là các loại rau có tồn dư NO3 < 600mg/kg tươi gồm: hành, rau muống, cải xoong, bí đỏ, đậu các loại, dưa chuột, cà rốt, su su.

Theo kết quả phân tích các mẫu rau phổ biến trên thị trường các tỉnh phía Nam của Bùi Cách Tuyến và cộng sự (năm 1998) cho thấy:

+ Nhóm rau ăn lá: bắp cải, cải thảo có tồn dư NO3 vượt quá tiêu chuẩn quy định, chiếm tỷ lệ lớn nhất (58-61%).

+ Nhóm rau ăn củ: cà rốt, khoai tây có tỷ lệ số mẫu nghiên cứu có tồn dư NO3 vượt tiêu chuẩn quy định nhưng thấp hơn so với rau ăn lá (29-39%).

+ Nhóm rau ăn quả: có khoảng 52% mẫu cà chua, 49% mẫu đậu cove và 34% mẫu đậu Hà Lan đem phân tích có tồn dư nitrat (NO3) vượt ngưỡng cho phép.

Kết quả nghiên cứu tồn dư NO3 trong rau ở các huyện ngoại thành Hà Nội của Vũ Thị Đào (năm 1990) cho thấy: hàm lượng NO3 trên rau ăn lá họ thập tự cao nhất, vượt cho phép 4-8 lần. Ở rau ăn quả vùng cao, vượt ngưỡng cho phép tới 2 lần, chỉ trừ mướp quả có hàm lượng NO3 dưới ngưỡng quy định. Đối với rau ăn củ, tồn dư NO3 cũng cao, vượt ngưỡng cho phép 2 lần (khoai tây, củ đậu), đến 5 lần (su hào). Trong 7 loại rau gia vị chỉ có ớt cay có hàm lượng NO3 dưới ngưỡng quy định.

Vậy nguyên nhân làm dư lượng NO3 tích lũy cao trong các sản phẩm rau đã được nhiều nhà khoa học cho rằng có tới trên 20 yếu tố làm tăng hàm lượng NO3 trong sản phẩm rau và môi trường nhưng chủ yếu vẫn do các yếu tố sau:

– Do bón phân, nhất là phân đạm. Có rất nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề này những năm gần đây. Lê Văn Tám và cộng sự (năm 1998) cho thấy: Khi tăng lượng đạm bón sẽ dẫn đến tăng tích lũy NO3 trong rau. Điều đáng chú ý ở đây là nếu bón dưới mức 160 kg N/ha đối với bắp cải và dưới 80 kg N/ha đối với cải xanh thì lượng NO3 trong cải bắp dưới 430 mg/kg tươi (mức cho phép 500 mg/kg). Như vậy, người sản xuất chỉ cần giảm một lượng đạm nhất định thì có khả năng khống chế được lượng NO3 trong rau. Các kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Trần Khắc Thi (năm 1996), Bùi Quang Xuân (năm 1999).

– Thời gian cách ly từ lần bón cuối đến lúc thu hoạch cũng ảnh hưởng tới dư lượng NO trong rau. Trần Khắc Thi (năm 1996) đã tổng kết kết quả nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước KN-01-12: tồn dư NO3 trong rau ăn lá và rau ăn quả cao nhất khoảng thời gian từ 10-15 ngày kể từ lúc bón lần cuối tới khi thu hoạch. Đối với rau ăn củ khoảng thời gian đó là 20 ngày. Lượng NO3 có xu hướng giảm khi thời gian bón thúc lần cuối càng xa ngày thu hoạch.

– Phân lân có ảnh hưởng nhất định tới tích lũy nitrat. Baker và Tucker (năm 1971) cho biết bón phân đạm nhưng không bón lân đã gây tích lũy NO3 cao trong cây. Hàm lượng NO3 trong cây bón phân đạm nhưng không bón phân lân cao gấp 2-6 lần so với cây vừa bón đạm vừa bón lân.

– Đối với kali, kali làm tăng quá trình khử NO3 trong cây. Bón thêm phân kali sẽ làm giảm tích lũy NO3 trong rau rõ rệt so với chỉ bón đạm. Khi tăng liều lượng phân kali, hàm lượng NO3 trong bắp cải giảm xuống nhưng không làm thay đổi hàm lượng NO3 trong cà chua. Do vậy, có thể thấy, việc bón thúc phân kali cho rau khi sinh trưởng và phát dục mạnh sẽ làm giảm lượng NO3 trong cây. Đất trồng và nước tưới có ảnh hưởng trực tiếp tới NO3 trong cây, tỷ lệ thuận với NO3 rửa trôi trong nước và lưu giữ trong đất.

3. Ô nhiễm do nhiễm kim loại nặng

Đặc tính của kim loại nặng là không thể tự phân hủy nên có sự tích lũy trong dây chuyền thức ăn của hệ sinh thái. Quá trình này bắt nguồn với nồng độ thấp của các kim loại nặng tồn dư trong đất, sau đó được tích tụ nhanh trong thực vật, động vật sống dưới nước; tiếp đến là các sinh vật sử dụng các động vật, thực vật này; cuối cùng đủ lớn để gây hại cho con người (Nguyễn Đình Mạnh, 2000). Một số kim loại nặng tồn dư trong rau xanh sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người ở các mức độ khác nhau là:

Độc tính của chì (Pb): đây là một nguyên tố rất độc hại, khi trong cơ thể người có Pb quá ngưỡng cho phép sẽ gây độc. Trẻ em khi nhiễm độc chì có thể chậm lớn, trí tuệ kém phát triển. Đối với người lớn thì chì gây tăng huyết áp, suy tim. Khi tồn dư chì trong cơ thể đạt 0,5-0,6 ppm thì chức năng của thận bắt đầu bị rối loạn và tới 0,8 sẽ gây ra thiếu máu do thiếu hụt hemoglobin (Bùi Hữu Đoàn, 1998).

Độc tính của thủy ngân (Hg): các hợp chất của thủy ngân chứa gốc methyl (CH3) rất bền. Khi vào trong cơ thể nó được hòa tan trong mỡ, chất béo của màng tế bào, não tủy, đi qua màng phổi ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương. Do vậy, sau khi nhiễm bệnh, người bệnh dễ bị kích thích, cáu gắt, xúc động và rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh, chân tay run. Thủy ngân làm gãy nhiễm sắc thể và ngăn cản sự phân chia tế bào, do đó gây hiện tượng vô sinh ở nam giới khi ngộ độc thủy ngân lâu dài.

Độc tính của cadimi (Cd): nguyên nhân chủ yếu làm Cd có độc tính là do Cd đồng hình với Zn nên có khả năng thay thế Zn trong một số enzim, từ đó gây nên rối loạn trao đổi khoáng chất, rối loạn trao đổi gluxit, rối loạn sinh tổng hợp protein. Trong cơ thể, Cd gắn với metalotionon tạo thành chất rất bền, Cd khó phân hủy trở lại, do đó sự thải loại chúng ra ngoài rất lâu. Cd khi xâm nhập vào cơ thể hầu hết được giữ lại ở thận, gây ảnh hưởng tới chức năng thẩm thấu của ống thận, làm tăng protein niệu, tăng lượng B2-microglobulin niệu và huyết thanh, sau đó tăng creatinin huyết thanh, cuối cùng có thể ảnh hưởng đến axit amin, glucose và photphat. Trong công nghiệp thực phẩm, Cd được coi là nguyên tố nguy hiểm nhất, khi hàm lượng Cd lớn hơn 15ppm thì thực phẩm được coi là nhiễm độc. Các hợp chất của Cd trong nước, trong không khí, dung dịch và trong thức ăn đều gây độc. Trong không khí, nồng độ Cd tối đa cho phép là 0,1mg/m3. Cd và hợp chất của nó được xếp vào nhóm có thể gây ung thư (nhóm 2A, theo sự sắp xếp của IARC) đường hô hấp.

Trên thế giới, các nước có quy định riêng về khoảng giá trị nhiễm bẩn kim loại nặng trong đất. Đa số các nước coi đất chứa Cd < 1,0; Pb < 10; Hg < 0,02mg/kg là đất chưa nhiễm bẩn có thể sử dụng cho sản xuất nông nghiệp. Yêu cầu đối với nước dùng cho nông nghiệp: Pb < 0,5; Cd < 0,02; Hg < 0,005mg/l.

Ở Việt Nam nghiên cứu về vấn đề này còn mới, còn ít số liệu về hàm lượng kim loại nặng trong rau xanh. Khi nghiên cứu về hàm lượng kim loại nặng trong đất và rau muống ở Thanh Trì đã cho thấy ở tất cả các điểm trong địa bàn nghiên cứu, hàm lượng trung bình của kim loại nặng trong đất đều cao hơn trong rau muống từ 2-6 lần và sự tích lũy kim loại nặng có thể đạt tới mức mà hàm lượng của nó trong rau muống có thể cao hơn trong môi trường đất.

Nghiên cứu về sự ô nhiễm kim loại nặng trong các loại rau ở Hà Nội nhận thấy, hàm lượng kim loại nặng trong nhiều mẫu rau cao hơn mức an toàn cho phép. Nguồn nước tưới ảnh hưởng rất lớn đến hàm lượng kim loại nặng trong rau. Mẫu rau chịu ảnh hưởng của nguồn nước thải 1-10 lần và cũng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Các mẫu càng xa nguồn nước thải thì hàm lượng kim loại nặng càng thấp.

Khi nghiên cứu tồn dư kim loại nặng trong nông sản ở khu vực ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: hệ số tương quan tồn dư các kim loại nặng Cu, Zn, Pb, Cd trong nước và trong rau muống trồng tại đó lần lượt là: 0,93; 0,95; 0,73; 0,94. Hệ số tương quan giữa kim loại nặng Cu, Zn, Pb, Cd trong đất và trong cải xanh trồng trên đất đó lần lượt là: 0,93; 0,98; 0,72; 0,98; 0,99.

Một số nghiên cứu cho rằng, đất có hàm lượng kim loại nặng tổng số cao do bản thân đất hoặc đất bị ô nhiễm, nếu gặp môi trường kiềm thì axit humic càng giữ chặt kim loại nặng làm cho các kim loại nặng trở nên không linh động sẽ ít ảnh hưởng tiêu cực đến cây cối và con người. Dựa vào cơ chế này có thể hạn chế sự tích lũy kim loại nặng vào sản phẩm nông nghiệp bằng cách bổ sung thêm vôi để nâng cao độ pH trong đất.

4. Ô nhiễm do vi sinh vật

E.coli là trực khuẩn đường ruột, đa số sống hoại sinh ở ruột già và có khả năng gây bệnh kiết lỵ cho người và động vật. Salmonella là vi khuẩn sống hoại sinh trong hệ tiêu hóa. Các vi khuẩn này lan truyền ra ngoài môi trường qua hệ tiêu hóa. Canh tác không hợp lý, đặc biệt là tập quán bón và tưới phân tươi cho rau thì sản phẩm này không chỉ nhiễm E.Coli, Salmonella và cả trứng giun với các mức độ khác nhau.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :