Home / Thiết Bị Điện Tử / Cách xây dựng mô hình hệ thống dịch vụ giám sát đám mây

Cách xây dựng mô hình hệ thống dịch vụ giám sát đám mây

/

Mô hình hệ thống giám sát dịch vụ điện toán đám mây xác định hai đối tượng chính: SPs và IPs. Mỗi thành phần của ứng dụng dịch vụ như thực hiện trong một VEE chuyên dụng.

mô hình hệ thống dịch vụ giám sát đám mây

1. Thành phần mô hình hệ thống giám sát dịch vụ điện toán đám mây

Trong mô hình hệ thống giám sát dịch vụ điện toán đám mây xác định hai đối tượng chính: SPs và IPs. Nhà cung cấp dịch vụ (Service Providers – SPs) là các nhân tố cần tài nguyên để cung cấp một vài dịch vụ. Tuy nhiên SPs không sở hữu tài nguyên, thay vào đó, họ thuê của các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng (Infrastructure Providers – IPs), nơi cung cấp cho họ một không gian tài nguyên tính toán, mạng và lưu trữ gần như vô hạn.

Một ứng dụng dịch vụ là một tập hợp các thành phần phần mềm làm việc cùng nhau để đạt được một mục tiêu chung. Mỗi thành phần của ứng dụng dịch vụ như thực hiện trong một VEE chuyên dụng. Các nhà cung cấp dịch vụ triển khai các ứng dụng dịch vụ trên đám mây bằng việc cung cấp một IP, được gọi là các trang web chính với một dịch vụ Manifest Có nghĩa là, một tài liệu xác định cấu trúc của ứng dụng cũng như hợp đồng và SLA giữa các SP và IP.

Để tạo ra những ảo ảnh của một không gian tài nguyên vô hạn, các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng chia sẻ công suất không sử dụng của họ với nhau để tạo ra một liên bang đám mây. Một khung hiệp định là một văn bản định nghĩa hợp đồng giữa hai IPs – thông báo các điều khoản và điều kiện để một nhà cung cấp này có thể sử dụng tài nguyên của một nhà cung cấp khác.

Với mỗi nhà cung cấp cơ sở hạ tầng, tối ưu hóa tài nguyên sử dụng đạt được bằng việc phân vùng các tài nguyên vật lý, thông qua một lớp ảo tới môi trường thực thi ảo (Virtual Execution Environments – VEEs) – môi trường thực thi hoàn toàn tách biệt. Chúng ta cũng đề cập đến nguồn tài nguyên tính toán ảo hóa, bên cạnh là các lớp ảo hóa và tất cả các thành phần quản lý như môi trường thực hiện máy chủ ảo (Virtual Execution Environment Host – VEEH).

Thiết kế và miêu tả của kiến trúc này là mục đích chính của dự án nghiên cứu RESERVOIR European. Kiến trúc RESERVOIR xác định các thành phần chức năng chính cần một IP để hỗ trợ hoàn toàn mô thức điện toán đám mây. Lý do đằng sau sự phân lớp đặc biệt này là để tách biệt rõ ràng các mối quan tâm và trách nhiệm, để ẩn các chi tiết cơ sở hạ tầng ở mức độ thấp, nhận quyết định từ quản lý cấp cao và các nhà cung cấp dịch vụ.

Quản lý dịch vụ là một thành phần duy nhất với một IP có thể tương tác với các nhà cung cấp dịch vụ (SPs). Nó nhận các danh sách dịch vụ, điều đình giá cả và quản lý hóa đơn. Hai nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là triển khai, cung cấp VEEs dựa trên các danh sách dịch vụ và giám sát, thực thi sự tuân thủ theo SLA bằng cách điều chỉnh khả năng của một ứng dụng dịch vụ.

2. Quản lý môi trường thực thi ảo (VEEM)

Chịu trách nhiệm cho các vị trí tối ưu của các VEE vào các máy chủ phụ thuộc vào ràng buộc được xác định bởi quản lý dịch vụ (Service Manager). Quá trình tối ưu hóa liên tục được thúc đẩy bởi một chức năng tiện ích lập trình vị trí cụ thể. Quản lý môi trường thực thi ảo được tự do đặt và di chuyển các môi trường khắp mọi nơi, thậm chí là ở những địa điểm điều khiển từ xa (tùy thuộc vào thỏa thuận tổng thể), miễn là các vị trí đáp ứng được các ràng buộc. Như vậy, ngoài việc phục vụ các yêu cầu nội bộ (từ quản lý dịch vụ nội bộ), VEEM còn chịu trách nhiệm cho sự liên kết của các site từ xa.

3. Máy chủ môi trường thực thi ảo (VEEH)

Chịu trách nhiệm cho việc điều khiển cơ bản và giám sát các VEEs và tài nguyên của chúng (ví dụ: tạo ra một VEE, sắp xếp thêm các nguồn tài nguyên cho một VEE, giám sát một VEE, di chuyển một VEE, tạo một mạng ảo và không gian lưu trữ,…). Cho rằng các VEE thuộc cùng một ứng dụng có thể đặt ở nhiều máy chủ và thậm chí được mở rộng vượt ra khỏi phạm vi một site, máy chủ phải hỗ trợ các mạng ảo tách biệt vượt qua các máy chủ và site. Hơn nữa, các máy chủ phải hỗ trợ di dân VEE minh bạch cho bất kỳ máy chủ nào tương thích trong các đám mây liên kết, bất kể vị trí trang web cho mạng và lưu trữ cấu hình.

4. Quản lý dịch vụ (SM)

Hệ thống dịch vụ là một kịch bản liên minh gần như cơ bản nhất, thậm chí ở đây SM cũng phải được cho phép hạn chế các vị trí cụ thể khi dịch vụ được triển khai. Hạn chế việc triển khai có liên quan đến một VEE cụ thể (mặc dù các biểu hiện hạn chế có thể liên quan đến các VEE khác, như có thể thấy trong những hạn chế mối quan hệ ở trên) và truyền lại cho các quản lý VEE cùng với bất kỳ siêu dữ liệu VEE cụ thể khác khi VEE được ban hành để tạo thông qua VMI. Chúng chỉ định một tập các ràng buộc phải được tiến hành khi VEE được tạo ra, để có thể được xem như một số loại “điều kiện đường viền” nhằm xác định lĩnh vực có thể được sử dụng bởi các thuật toán sắp xếp chạy ở lớp quản lý các VEE. Hai loại hạn chế triển khai được hình dung là: đầu tiên, có những hạn chế mối quan hệ, liên quan đến mối quan hệ giữa các VEEs; thứ hai, có thể có những hạn chế trang web, liên quan đến các trang web.

Trong kịch bản liên minh, sử dụng thỏa thuận khung (FA) giữa các tổ chức để thiết lập các điều khoản và điều kiện cho liên kết. Hiệp định khung được đàm phán và được xác định bởi các cá nhân, nhưng chúng được mã hóa ở cuối trong quản lý dịch vụ (SM) – đặc biệt là trong cơ sở dữ liệu thông tin kinh doanh (BIDB). Ví dụ, thông tin quản lý chi phí cho Website bên trong FA được sử dụng bởi SM để tính toán chi phí các nguồn tài nguyên từ xa (dựa trên thông tin sử dụng tổng hợp mà nó nhận được từ VEEM địa phương) và tương quan các thông tin này với những chi phí từ những trang web khác. SM có thể bao gồm như là một phần của siêu dữ liệu trong VEE, một “Vector gợi ý giá” bao gồm một chuỗi các con số, mỗi người đại diện một ước tính chi phí tương đối của việc triển khai các VEE trên mỗi trang web liên kết. SM tính toán vector này dựa trên FA được thành lập với các trang web khác.

Cho rằng kịch bản liên minh cao cấp hỗ trợ di chuyển, hạn chế vị trí phải được kiểm tra không chỉ ở thời gian triển khai dịch vụ mà còn để di chuyển. Ngoài ra, SM có thể cập nhật các hạn chế triển khai trong thời gian tuổi thọ dịch vụ, qua đó thay đổi “điều kiện đường viền” được sử dụng bởi các thuật toán sắp xếp. Khi VEE được di chuyển trên các trang web, hạn chế việc triển khai của nó được bao gồm cùng với bất kỳ siêu dữ liệu khác liên quan đến VEE. Mặt khác, cần phải không có chức năng bổ sung từ người quản lý dịch vụ để thực hiện các liên đoàn đầy đủ tính năng.

5. Quản lý môi trường thực thi ảo

Ít cần trong kịch bản cơ bản của liên dịch vụ VEEM. Yêu cầu duy nhất sẽ là khả năng triển khai một VEE trong các trang web từ xa, vì vậy nó sẽ cần một plug-in có thể giao tiếp với đám mây từ xa bằng cách gọi các API công cộng để đáp ứng yêu cầu vị trí cơ hội. VEEM sẽ cần thỏa thuận khung để các tính năng khác nhau được cung cấp bởi các kịch bản liên minh cơ bản, vì các VEEM cần tham dự vào việc đánh giá SLA được quy định trong FA, cho dù có quan tâm tới VEE hay không. Các mô đun tốt nhất trong VEEM dành cho việc đánh giá SLA kiểm soát sự chính xác của các chính sách với người dùng.

Ngoài ra, cần phải có di chuyển lạnh; do đó VEEM cần khả năng báo hiệu hypervisor để lưu trạng thái VEE (điều này là một phần của các mô đun vòng đời VEEM) và cũng cần khả năng chuyển các tập tin nhà nước cho trang web từ xa. Ngoài ra, VEEM có thể gửi tín hiệu tới hypervisor (tầng ảo hóa) để khôi phục lại trạng thái VEE và tiếp tục thực hiện của nó (cũng là một phần của môđun vòng đời VEEM). Liên quan đến hỗ trợ dự phòng tài nguyên tạm thời, các công cụ chính sách phải có khả năng dự trữ một không gian trong cơ sở hạ tầng vật lý để đưa ra một khung thời gian cho các VEE cụ thể.

Trong kịch bản liên minh nâng cao, khả năng tạo ra các mạng ảo cross-site cho các VEE có thể đạt được bằng cách sử dụng chức năng cung cấp bởi các mạng ứng dụng ảo (VAN) như một phần của các máy chủ ảo giao diện API. Do đó, VEEM cần giao diện một cách chính xác với VAN và có thể thể hiện các đặc điểm mạng ảo trong một kết nối VEEM-to-VEEM. Trong kịch bản liên minh đầy đủ tính năng, tính năng di chuyển trực tiếp cần phải được hỗ trợ trong API VHI. Các VEEM sẽ chỉ cần gọi các chức năng của di chuyển trực tiếp đến phần hypervisor của API VHI để đạt được chuyển đổi trực tiếp qua các domain.

6. Máy chủ môi trường thực thi ảo

Cần có khả năng giám sát cả liên minh. Các dịch vụ giám sát của RESERVOIR hỗ trợ việc theo dõi không đồng bộ một trung tâm dữ liệu đám mây VEEHs, VEEs của họ và các ứng dụng chạy bên trong VEEs. Để hỗ trợ liên bang, các trung tâm dữ liệu có nguồn gốc phải có khả năng theo dõi VEEs và các ứng dụng của họ chạy ở một trang web từ xa. Khi một sự kiện xảy ra liên quan đến một VEE chạy trên một trang web từ xa, nó được công bố và proxy từ xa chuyển tiếp yêu cầu đến proxy địa phương đăng ký, do đó công bố sự kiện này cho các thuê bao tại địa phương chờ đợi. Khuôn khổ giám sát độc lập với loại hình và nguồn gốc của dữ liệu đang được theo dõi và hỗ trợ linh hoạt việc tạo chủ đề mới.

Cần bỏ các chức năng khác cho các liên đoàn cơ bản trong VEEH ngoài các tính năng được mô tả trong kịch bản cơ sở. Mặt khác, đối với một liên đoàn nâng cao, có một số tính năng cần thiết. Đầu tiên, nó phải có khả năng thực hiện dịch vụ mạng liên mạng với ứng dụng ảo, một mạng lưới lớp phủ mới cho phép các dịch vụ mạng ảo trên mạng con và qua các biên giới hành chính. 

Ứng dụng ảo cho phép thiết lập mạng ảo quy mô lớn, miễn phí không phụ thuộc vị trí và cho phép các mạng ảo hoàn toàn “có khả năng di chuyển“.

  • (1) Các dịch vụ mạng ảo được cung cấp là hoàn toàn bị cô lập;
  • (2) nó cho phép chia sẻ các máy chủ, thiết bị mạng và các kết nối vật lý;
  • (3) giấu mạng liên quan đến đặc tính vật lý như thông lượng liên kết, vị trí của máy chủ.

Ngoài ra, khả năng để làm di chuyển liên minh với dịch vụ lưu trữ không chia sẻ được yêu cầu. RESERVOIR tăng cường khả năng chuyển đổi tiêu chuẩn VM thường có sẵn trong mỗi hypervisor hiện đại với sự hỗ trợ cho các môi trường trong đó nguồn và các máy chủ đích không chia sẻ lưu trữ; ổ cứng thường của máy ảo di cư cư trú hủy bỏ việc chia sẻ lưu trữ.

Với những kịch bản liên minh đầy đủ tính năng, các yêu cầu từ VEEH hầu hết tập trung vào di chuyển nóng. Nguyên tắc chia tách của tách RESEVOIR yêu cầu mỗi trang web RESERVOIR là một thực thể tự trị. 

Cấu hình trang web, cấu trúc liên kết và những gì tương tự không được chia sẻ giữa các trang web. Vì vậy, một trang web không nhận thức được các địa chỉ của máy chủ từ một trang web khác. Tuy nhiên, hiện nay, máy ảo di chuyển giữa các máy chủ yêu cầu nguồn và đích hypervisors biết địa chỉ của nhau và chuyển một VM trực tiếp từ các máy chủ nguồn đến đích. Để khắc phục mâu thuẫn rõ ràng này, RESEVOIR giới thiệu một kênh di chuyển liên kết mới chuyển một VEE từ một máy chủ đến máy chủ khác mà không trực tiếp giải quyết các máy chủ đích. Thay vì chuyển VEE trực tiếp đến các máy chủ đích, nó đi qua proxy tại trang web nguồn và trang web đích, giải quyết vấn đề không rõ vị trí hypervisor.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :