Home / Tài Chính / Thị trường vốn vay là gì: đặc điểm & nhân tố ảnh hưởng

Thị trường vốn vay là gì: đặc điểm & nhân tố ảnh hưởng

/

Theo định nghĩa, lãi suất là giá của tín dụng. Thông thường, giá cả và số lượng của bất kỳ một loại hàng hóa nào đều được xác định bởi quy luật cung cầu.

thị trường vốn là gì

1. Thị trường vốn vay là gì?

Theo định nghĩa, lãi suất là giá của tín dụng. Thông thường, giá cả và số lượng của bất kỳ một loại hàng hóa nào đều được xác định bởi quy luật cung cầu. Giá và tổng nguồn vốn tín dụng trên thị trường cũng được xác định bởi quy luật cung cầu trên thị trường vốn vay.

2. Đặc điểm thị trường vốn vay

2.1. Cầu tín dụng

Cầu tín dụng chủ yếu đến từ doanh nghiệp và chính phủ. Doanh nghiệp vay vốn để tài trợ cho nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Chính phủ vay vốn để tài trợ cho thâm hụt ngân sách.

2.1.1. Cầu tín dụng doanh nghiệp

Một doanh nghiệp khi quyết định đầu tư sẽ lập kế hoạch đầu tư và tính toán lợi nhuận đạt được. Doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra nguồn vốn đầu tư ban đầu, một phần đến từ vốn của chính doanh nghiệp và một phần đến từ vốn vay, để mở rộng sản xuất kinh doanh, với hy vọng làm tăng doanh thu của doanh nghiệp trong tương lai. Nếu như giá trị hiện tại của tăng trưởng doanh thu trong tương lai lớn hơn chi phí đầu tư thì khoản đầu tư này là có lợi cho doanh nghiệp.

Nếu là tăng trưởng doanh thu trong tương lai tại thời điểm thì giá trị hiện tại của lợi ích mà khoản đầu tư mang lại sẽ là: P=\sum_{t=1}^n \frac{F_t}{(1+i)^t}

Lãi suất càng cao thì lợi ích của khoản đầu tư mang lại trong tương lai tính theo giá trị tại thời điểm hiện tại càng thấp hơn, và sẽ càng ít doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hơn. Do vậy, cầu tín dụng doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với lãi suất.

2.1.2. Cầu tín dụng chính phủ

Nguồn thu của chính phủ đến từ tiền thuế, lợi nhuận từ các doanh nghiệp nhà nước. Khi tổng chi tiêu chính phủ cao hơn so với tổng thu thì chính phủ có nhu cầu vay vốn để tài trợ cho thâm hụt ngân sách:

Tổng chi của chính phủ – Tổng thu = Thâm hụt ngân sách = Nhu cầu vốn vay

Nhu cầu vay vốn này của chính phủ thường không phụ thuộc vào lãi suất. Do vậy, đường cầu tín dụng của chính phủ là một đường thẳng đứng.

Tổng cầu tín dụng D bằng tổng của cầu tín dụng doanh nghiệp và cầu tín dụng chính phủ: D\ =\ D_{DN\ } +\ D_{CP} tỷ lệ nghịch với i. Điều này có thể được chứng minh bằng cách lấy đạo hàm cả hai vế của phương trình trên với: \frac{\partial D}{\partial i}=\frac{\partial D_{D N}}{\partial i}+\frac{\partial D_{C P}}{\partial i}

Vì cầu tín dụng của chính phủ không phụ thuộc vào lãi suất, nên \frac{\partial D_{C P}}{\partial i}=0. Vì cầu tín dụng của doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với lãi suất, nên \frac{\partial D_{D N}}{\partial i}< 0. Do vậy, \frac{\partial D}{\partial i}< 0 và đường tổng cầu tín dụng là một đường thẳng hướng xuống.

2.2. Cung tín dụng

Cung tín dụng đến từ hộ gia đình, hệ thống ngân hàng và nguồn vốn quốc tế. Trên thực tế, hộ gia đình vừa có thể vay vốn cho các nhu cầu tiêu dùng, mua nhà và các tài sản có giá trị lớn, vừa có thể cung cấp vốn vay. Tuy nhiên, xét trên khía cạnh tổng thể nền kinh tế, hộ gia đình cung cấp tín dụng ròng cho nền kinh tế.

Tổng cung tín dụng cho nền kinh tế đến từ hộ gia đình lớn hơn so với tổng nhu cầu tín dụng của các hộ gia đình. Hệ thống ngân hàng bao gồm ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại đóng vai trò lớn trong việc cung cấp tín dụng cho nền kinh tế.

Ngân hàng trung ương kiểm soát nguồn cung tín dụng đến từ hệ thống ngân hàng thông qua chính sách tiền tệ. Cuối cùng, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp tín dụng cho nền kinh tế trong nước thông qua các khoản đầu tư vào trái phiếu và cho vay doanh nghiệp, ngân hàng trong nước và chính phủ.

2.2.1. Cung tín dụng đến từ hộ gia đình

Hộ gia đình tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và nhận được thu nhập. Thu nhập này được sử dụng cho tiêu dùng và tiết kiệm. Khoản tiền tiết kiệm được sử dụng cho tiêu dùng trong tương lai. Như vậy, với thu nhập của mình, hộ gia đình lựa chọn giữa quyết định tiêu dùng tại thời điểm hiện tại và tiêu dùng cho tương lai.

Với lãi suất càng cao thì khoản tiền nhận được trong tương lai càng cao và do đó, tiêu dùng trong tương lai càng cao. Vì vậy, hộ gia đình sẵn sàng tiết kiệm một khoản tiền nhiều hơn trong tổng thu nhập.

Ngược lại, với lãi suất càng thấp thì khoản tiền tiết kiệm được sẽ đem lại một mức tiêu dùng thấp hơn trong tương lai. Do vậy, hộ gia đình sẽ tiêu dùng nhiều hơn tại thời điểm hiện tại và tiết kiệm một khoản tiền thấp hơn trong tổng thu nhập. Đường cung tín dụng đến từ hộ gia đình, do đó, là một đường thẳng hướng lên.

2.2.2. Cung tín dụng đến từ hệ thống ngân hàng

Hệ thống ngân hàng cung cấp tín dụng cho nền kinh tế qua việc cho vay các doanh nghiệp, đầu tư và nắm giữ các trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ. Ngân hàng trung ương kiểm soát cung tiền trong hệ thống ngân hàng thông qua chính sách tiền tệ, bao gồm nghiệp vụ thị trường mở, cho vay chiết khấu, tăng/giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Thông thường, ngân hàng trung ương có hai mục tiêu, đó là: i, Duy trì lạm phát thấp và ổn định; i, Duy trì tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ chính sách tiền tệ để thực thi hai mục tiêu này.

Quyết định tăng hay giảm cung tiền của ngân hàng trung ương phụ thuộc vào lạm phát và tăng trưởng GDP, chứ không phụ thuộc vào mặt bằng lãi suất. Vì vậy, đường cung tín dụng đến từ hệ thống ngân hàng là một đường thẳng đứng.

2.2.3. Cung tín dụng đến từ nguồn vốn quốc tế

Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm các định chế tài chính nước ngoài và các hộ gia đình nước ngoài. Các định chế tài chính tham gia trực tiếp vào việc cung cấp tín dụng cho nền kinh tế trong nước thông qua việc nắm giữ các trái phiếu phát hành bởi các doanh nghiệp trong nước và chính phủ, hay cho vay trên thị trường liên ngân hàng.

Các hộ gia đình nước ngoài cung cấp tín dụng cho nền kinh tế trong nước một cách gián tiếp, thông qua các quỹ hưu trí, các công ty quản lý tài sản hay các định chế tài chính khác. Mặt bằng lãi suất của thị trường tín dụng trong nước càng cao thì càng thu hút được nhiều nguồn vốn tín dụng quốc tế.

Vì vậy, đường cung tín dụng đến từ nguồn vốn quốc tế là một đường thẳng hướng lên. Đường thẳng này giao với trục tung tại mức lãi suất i. Nguồn cung này tăng khi lãi suất trong nước cao hơn i. Khi lãi suất trong nước nhỏ hơn, dòng vốn nước ngoài có thể rút ra khỏi nền kinh tế và nguồn cung tín dụng nước ngoài giảm.

Tổng cung tín dụng S bằng tổng cung tín dụng đến từ hộ gia đình, hệ thống ngân hàng và nhà đầu tư nước ngoài: S\ =\ S_{HH\ } +\ S_{B} +\ S_{F}

Tổng cung tín dụng tỉ lệ thuận với lãi suất: \frac{\partial D}{\partial i}=\frac{\partial D_{D N}}{\partial i}+\frac{\partial D_{C P}}{\partial i}

Do cung tín dụng trong hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương chứ không phụ thuộc vào lãi suất nên . Do cung tín dụng đến từ hộ gia đình và nguồn vốn quốc tế tỷ lệ thuận với lãi suất, nên và . Do vậy, và tổng cung tín dụng là đường thẳng hướng lên.

Điểm cân bằng: Đường cung tín dụng S gặp đường cầu tín dụng D tại điểm cân bằng E. Tại điểm cân bằng này, lãi suất vốn vay trên thị trường là i và tổng vốn vay là Q.

3. Các nhân tố tác động lên thị trường vốn vay

3.1. Chi tiêu chính phủ

Giả sử chi tiêu chính phủ tăng trong khi nguồn thu ngân sách không thay đổi, điều này làm tăng thâm hụt ngân sách của chính phủ. Vì vậy, chính phủ phải vay nhiều hơn trên thị trường vốn vay. Đường cầu vốn vay chính phủ D, dịch chuyển sang phải.

Do tổng cầu trên thị trường vốn vay bằng tổng của cầu vốn vay chính phủ và cầu vốn vay doanh nghiệp: D\ =\ D_{DN\ } +\ D_{CP}. Do vậy, đường tổng cầu vốn vay dịch chuyển sang phải. Tại điểm cân bằng mới Ei lãi suất và cung cầu tín dụng cao hơn lãi suất và cung dụng ban đầu. 

Tác động của sự gia tăng chi tiêu chính phủ lên cung cầu tín dụng
Tác động của sự gia tăng chi tiêu chính phủ lên cung cầu tín dụng

Với mức lãi suất mới i1 > i0, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp giảm đi. Như vậy, nhu cầu vay vốn của chính phủ đã gây nên hiệu ứng lấn át nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, khiến cho đầu tư tư nhân giảm. Với mức lãi suất cao hơn, các hộ gia đình cắt giảm tiêu dùng và chi tiêu nhiều hơn. Dòng vốn nước ngoài chảy vào nền kinh tế tăng lên, làm tăng nợ nước ngoài.

Tác động của sự gia tăng chi tiêu chính phủ lên cung cầu tín dụng (2)
Tác động của sự gia tăng chi tiêu chính phủ lên cung cầu tín dụng (2)

Như vậy, chính sách tài khóa mở rộng một mặt kích thích tăng trưởng nền kinh tế mặt khác cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất định lên nền kinh tế. Đó là đầu tư tư nhân giảm do hiệu ứng lấn át cầu tín dụng doanh nghiệp từ tăng trưởng cầu tín dụng chính phủ, tiêu dùng giảm và nợ nước ngoài tăng lên.

3.2. Tiết kiệm hộ gia đình

Giả sử tỷ lệ tiết kiệm của các hộ gia đình trong nền kinh tế tăng lên và đường dịch chuyển sang phải. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này. Ví dụ sự tăng trưởng đột biến của tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động có thể khiến tỷ lệ tiết kiệm tăng lên.

Khi tỷ lệ tiết kiệm tăng, với cùng một mức lãi suất, hộ gia đình tiết kiệm nhiều hơn. Đường tổng cung tín dụng trong nền kinh tế, dịch chuyển sang phải và điểm cân bằng dịch chuyển từ E sang E’ với mức lãi suất thấp hơn và tổng vốn vay trong nền kinh tế cao hơn.

Tác động của sự gia tăng tiết kiệm gia đình lên cung cầu tín dụng
Tác động của sự gia tăng tiết kiệm gia đình lên cung cầu tín dụng

Với mức lãi suất thấp hơn, thị trường vốn vay trong nước trở nên kém hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài và dòng vốn nước ngoài chảy vào thị trường vốn vay trong nước giảm, làm giảm nợ nước ngoài. Lãi suất thấp cũng làm tăng đầu tư tư nhân do việc vay vốn mở rộng sản xuất trở nên hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp. Như vậy, tỷ lệ tiết kiệm tăng sẽ khuyến khích đầu tư, kích thích kinh tế tăng trưởng.

3.3. Cung tín dụng nước ngoài

Nếu như mặt bằng lãi suất tại Hoa Kỳ giảm, thì ngay cả khi lãi suất tại Việt Nam không đổi, chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia trở nên lớn hơn và mức lãi suất trước kia trở nên hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Do dòng vốn nước ngoài tăng dưới tác động của biến ngoại sinh (lãi suất nước ngoài), đường cung tín dụng nước ngoài Sf dịch chuyển sang phải khiến cho nợ nước ngoài tăng. Tổng cung tín dụng S dịch chuyển sang phải làm giảm lãi suất từ i0 xuống i1.

Tác động của sự gia tăng cung tín dụng nước ngoài lên cầu tín dụng
Tác động của sự gia tăng cung tín dụng nước ngoài lên cầu tín dụng

Với mức lãi suất thấp hơn, người dân tăng chi tiêu và giảm tiết kiệm khiến cho tiêu dùng tăng. Đầu tư tư nhân tăng do chi phí vốn vay giảm. Mặt bằng lãi suất trên thế giới thấp thông thường là cơ hội cho các quốc gia đang phát triển cần rất nhiều vốn đầu tư thúc đẩy đầu tư phát triển mà không phải làm giảm tiêu dùng.

Tuy nhiên, mặt trái của điều này là nợ nước ngoài tăng lên khiến cho nền kinh tế tích tụ những rủi ro tiềm tàng khi mặt bằng lãi suất thế giới tăng trở lại trong tương lai.

3.4. Chính sách tiền tệ

Để kích thích nền kinh tế, Ngân hàng Trung ương có thể sử dụng các chính sách tiền tệ làm tăng cung tín dụng. Các chính sách tiền tệ truyền thống bao gồm:

  • (i) Nghiệp vụ thị trường mở, mua và bán trái phiếu chính phủ.
  • (ii) Cho vay chiết khấu các ngân hàng thương mại.
  • (iii) Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Tác động của chính sách tiền tệ lên cung cầu tín dụng
Tác động của chính sách tiền tệ lên cung cầu tín dụng

Các chính sách tiền tệ mở rộng khiến cho đường cung tín dụng trong hệ thống ngân hàng Sb và đường tổng cung tín dụng dịch chuyển sang phải khiến cho lãi suất giảm. Với mức lãi suất thấp hơn, tiêu dùng của hộ gia đình tăng, tiết kiệm giảm, nợ nước ngoài giảm và đầu tư tư nhân tăng. Do tiêu dùng và đầu tư đều tăng, tăng trưởng kinh tế do đó được thúc đẩy.

3.5. Lạm phát kỳ vọng

Khi lạm phát kỳ vọng tăng, người dân có xu hướng tăng chi tiêu cho các mặt hàng tiêu dùng có giá trị lớn để tránh việc phải trả một mức giá cao hơn khi mặt bằng giá cả trong tương lai tăng cao. Tiết kiệm của hộ gia đình giảm do tác động của biến ngoại sinh, làm cho đường dịch chuyển sang trái. Tổng cung tín dụng do đó dịch chuyển sang trái.

Tác động của sự gia tăng lạm phát kỳ vọng lên cung cầu tín dụng
Tác động của sự gia tăng lạm phát kỳ vọng lên cung cầu tín dụng

Các doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng cường đầu tư, tích trữ nguyên vật liệu để tránh việc phải trả giá cao hơn cho các chi phí này trong tương lai. Do vậy, cầu tín dụng từ khu vực doanh nghiệp tăng, đường tổng cầu tín dụng dịch chuyển sang phải.

Lãi suất tăng khi lạm phát kỳ vọng tăng. Khi Ngân hàng Trung ương thực thi chính sách tiền tệ mở rộng, trong ngắn hạn, lãi suất giảm. Tuy nhiên, trong dài hạn, khi người dân và doanh nghiệp kỳ vọng mức giá cả trong tương lai sẽ tăng cao, lãi suất sẽ tăng trở lại. Tóm lại, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương có thể làm giảm lãi suất trong ngắn hạn, nhưng lãi suất sẽ tăng trở lại trong dài hạn.

3.6. Chu kỳ kinh tế

Khi nền kinh tế tăng trưởng cao, thu nhập của người dân tăng lên. Do đó, tiêu dùng và tiết kiệm của hộ gia đình cùng tăng. Với tâm lý lạc quan thường thất khi nền kinh tế tăng trưởng cao, các doanh nghiệp thường đầu tư mở rộng sản xuất.

Tác động của tăng trưởng kinh tế lên cung cầu tín dụng
Tác động của tăng trưởng kinh tế lên cung cầu tín dụng

Như vậy, nguồn cung vốn tăng có xu hướng làm lãi suất giảm và nhu cầu vốn tăng có xu hướng làm lãi suất tăng. Lãi suất do đó có thể tăng hay giảm. Tuy nhiên, trên thực tế, tác động của chu kỳ kinh tế lên nguồn cung vốn thường nhỏ. Vì vậy, lãi suất thường chuyển động cùng chiều so với chu kỳ kinh tế: Tăng khi nền kinh tế tăng trưởng nóng và giảm khi nền kinh tế lâm vào suy thoái.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :