Home / Tài Chính / Thị trường vốn là gì: đặc điểm & hình thức huy động vốn

Thị trường vốn là gì: đặc điểm & hình thức huy động vốn

/

Thị trường vốn nợ còn là một nơi các chủ nợ có thể mua bán các khoản nợ (thị trường thứ cấp), qua đó giúp tái phân bổ rủi ro phát sinh từ các giao dịch cho vay vốn.

thị trường vốn là gì

1. Thị trường vốn là gì?

Thị trường tài chính thường được phân chia thành hai thị trường: thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tiền tệ nhìn chung là nơi vận hành của khoản vay, tiền gửi và các công cụ ngắn hạn (thường có thời hạn dưới một năm). Thị trường vốn là nơi vận hành của các công cụ trung và dài hạn (thường có thời hạn dài hơn một năm). Thị trường vốn bao gồm các thị trường nhỏ hơn là thị trường vốn nợ và thị trường chứng khoán.

Thị trường vốn cũng có thể chia thành các thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Khi nói tới thị trường nội địa, là nói tới các khoản vay, chứng khoán hay công cụ nợ được phát hành cho các nhà đầu tư trong nước, bởi tổ chức phát hành là công ty hoạt động trong phạm vi quốc gia đó và bằng đồng tiền của quốc gia đó. Thị trường vốn quốc tế là nơi các khoản vay, chứng khoán, công cụ nợ liên quan tới nhiều tổ chức phát hành, nhiều nhà đầu tư, liên quan tới nhiều quốc gia và bằng nhiều loại tiền tệ mạnh có khả năng tự do chuyển đổi khác nhau.

2. Các hình thức huy động vốn của công ty

Về cơ bản, việc huy động vốn của các công ty thường thực hiện dưới hai hình thức:

  • Vay nợ: hình thức này chiếm phần lớn, khoảng trên 80% hoạt động tài trợ vốn.
  • Tăng vốn chủ sở hữu (thông qua góp thêm vốn hay phát hành thêm cổ phiếu): hình thức này chiếm khoảng 20% còn lại.

Thị trường của hoạt động vay nợ thường được gọi là thị trường vốn nợ, gồm hai phần chính:

  • Thị trường ngân hàng: chiếm phần lớn của số tiền vay nợ huy động được.
  •  Thị trường chứng khoán nợ: chiếm phần còn lại của số tiền vay nợ huy động được.

3. Các hoạt động của thị trường vốn

Thị trường vốn nợ theo nghĩa rộng nhất thường được dùng để chỉ thị trường mà vốn (tiền) được các công ty huy động dưới dạng vay nợ. Các hoạt động trong thị trường này bao gồm:

  • Khoản vay từ các ngân hàng hay còn gọi là thị trường ngân hàng.
  • Chứng khoán nợ dưới nhiều hình thức như trái phiếu, chứng khoán hóa (securities issue), giấy tờ có giá trị ngắn hạn. Ở Việt Nam chủ yếu hay gặp là trái phiếu doanh nghiệp. Các hình thức khác như giấy tờ có giá trị ngắn hạn, thương phiếu kỳ hạn dưới một năm hay chứng khoán hóa chưa được áp dụng chủ yếu do hạn chế về khung pháp lý và khả năng của thị trường.
  • Phái sinh: các giao dịch phái sinh nhằm mục đích chủ yếu là phòng ngừa rủi ro liên quan đến các khoản vốn tài trợ. Đây cũng là mảng phát triển nhanh nhất của thị trường vốn nợ và ngân hàng trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, thị trường này cũng bắt đầu phát triển trong vài năm gần đây, chủ yếu được dẫn dắt bởi các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng nội địa lớn.

Thị trường vốn nợ không bao gồm vốn chủ sở hữu (cổ phần). Đây là hoạt động của thị trường chứng khoán.

Một đặc trưng hay gặp của thị trường vốn nợ là tài sản bảo đảm. Một phần lớn các khoản vay trên thị trường này được bảo đảm bằng tài sản. Tại Việt Nam, các khoản vay có bảo đảm chiếm khoảng 90% số lượng các khoản vay.

4. Thị trường vốn quốc tế

Các giao dịch trên thị trường vốn quốc tế liên quan đến các giao dịch xuyên biên giới giữa bên cho vay nước ngoài và bên vay trong nước, hoặc ngược lại, hoặc cả hai bên đều là các bên nước ngoài (ví dụ, giao dịch cho vay tiền đô la Mỹ giữa một ngân hàng ở châu Âu và một doanh nghiệp Trung Quốc).

Về mặt lịch sử, thị trường vốn quốc tế xuất hiện tại trung tâm tài chính của các quốc gia có thặng dư về đồng tiền nội tệ và thặng dư cán cân thanh toán. Các thặng dư đó được dùng để tài trợ cho các giao dịch quốc tế. London, Paris và Berlin và muộn hơn là New York là những trung tâm tài chính quốc tế của thế kỷ XIX. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, New York trở thành trung tâm tài chính quốc tế lớn nhất thế giới.

5. Một số đặc điểm cơ bản của thị trường vốn quốc tế

Đây không phải là một địa điểm cụ thể, nơi các bên tham gia gặp gỡ và mua bán, thực hiện giao dịch. Trên thực tế, đây có thể hiểu là một mạng lưới của các quan hệ về kinh doanh. Các tổ chức hoạt động trên thị trường này có thể được thành lập và có trụ sở ở nhiều quốc gia khác nhau, tiến hành các hoạt động kinh doanh trên thị trường này thông qua các phương tiện điện tử như điện thoại, email, internet hay các hệ thống điện tử khác như Reuters, Bloomberg.

Thị trường vốn hiện đại có tuổi đời khá trẻ, bắt đầu từ khoảng những năm 1960.

Thị trường này lớn về quy mô giao dịch, chẳng hạn quy mô phát hành chứng khoán nợ trên thị trường này là khoảng 82,2 nghìn tỷ đô la Mỹ vào cuối năm 2009 và số chứng khoán nợ vẫn còn lưu hành là khoảng 31,2 nghìn tỷ đô la Mỹ theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlements).

Các loại chứng khoán được mua bán, phát hành trên thị trường này bao gồm các chứng khoán nợ và cổ phiếu. Chứng khoán nợ và cổ phiếu có nhiều khác biệt cơ bản. Cuốn sách này đề cập chủ yếu tới chứng khoán nợ cũng như các khoản vay ngân hàng.

Các chứng khoán chủ yếu được phát hành trên thị trường vốn quốc tế là trái phiếu. Trái phiếu có thể ở rất nhiều dạng, ví dụ, có thể là các trái phiếu có lãi suất (với lãi suất thả nổi hay cố định), trái phiếu không có lãi suất hay lãi suất bằng không, trái phiếu có bảo đảm bằng tài sản, trái phiếu kèm theo chứng quyền (trái phiếu chuyển đổi hay hoán đổi), các chứng khoán phái sinh.

Thị trường sơ cấp là nơi thu xếp việc phát hành các chứng khoán này. Thị trường thứ cấp là nơi các chứng khoán này được giao dịch mua đi bán lại.

Kích cỡ hay khối lượng của một đợt phát hành trên thị trường này thường rất lớn (chẳng hạn dưới 50 triệu đô la Mỹ có thể coi là nhỏ), do đó, những tổ chức phát hành chủ yếu là các tổ chức đa quốc gia, các chính phủ, chính quyền địa phương, các ngân hàng và công ty lớn.

Thị trường này về cơ bản là một thị trường bán buôn, tức là có rất ít các nhà đầu tư cá nhân. Chủ yếu vẫn là các tổ chức tài chính lớn.

Thị trường này không bị quản lý bởi luật pháp theo nghĩa là không có một nhà nước hay tổ chức nào có quyền tài phán một cách thống nhất và toàn diện đối với thị trường này. Tuy nhiên, thị trường này cũng có những quy tắc tự điều chỉnh nhất định do các bên tham gia tự áp dụng thông qua các hiệp hội nhà nghề, chẳng hạn International Capital Market Association (ICMA) hay Loan Market Association (LMA).

Trên một khía cạnh khác, thị trường này cũng có thể được xem là bị điều chỉnh bởi luật pháp của từng quốc gia cụ thể, nơi mà mỗi một bước của một giao dịch được thực hiện tại một địa điểm cụ thể. Ví dụ, một công ty Việt Nam phát hành trái phiếu tiền đô la Mỹ ra thị trường quốc tế, niêm yết trên sàn chứng khoán Singapore và bán cho các nhà đầu tư từ nhiều quốc gia trên thế giới. Mặc dù không có hệ thống luật pháp nào điều chỉnh toàn bộ giao dịch này, nhưng mỗi bước của giao dịch sẽ chịu sự điều chỉnh của luật pháp nơi hoạt động đó được thực hiện.

Ngày nay, thị trường vốn quốc tế là nơi hoạt động cung cấp và huy động vốn chủ yếu giữa các bên cho vay nước ngoài, hoặc của quốc gia nơi có trung tâm tài chính, cho các bên đi vay nước ngoài và đồng tiền cho vay cũng thường là các đồng tiền tự do chuyển đổi. Thị trường này về cơ bản lại chia làm hai mảng chính, thị trường “eurocurrency” (thị trường vay ngoại tệ) và thị trường eurobond (thị trường trái phiếu ngoại tệ).

6. Thị trường eurocurrency là gì?

Thị trường eurocurrency, hay thông thường gọi là thị trường vốn vay quốc tế, cung cấp các khoản tài trợ dưới dạng các khoản vay hợp vốn cho các công ty. Các khoản vay này chủ yếu được lấy nguồn từ các khoản tiền gửi từ nước ngoài (xem thêm phần D – Ngân hàng của chương này).

7. Thị trường eurobond là gì?

Thị trường eurobond hay còn gọi là thị trường trái phiếu quốc tế có một số đặc điểm chính sau:

  • Trái phiếu thường được bán ở thị trường tài chính của nhiều quốc gia.
  • Việc phát hành thường được nhiều ngân hàng đầu tư từ nhiều quốc gia bảo lãnh phát hành.
  • Hầu hết các tổ chức phát hành là những công ty nước ngoài tại quốc gia nơi phát hành.
  • Trái phiếu được phát hành bằng đồng tiền không phải của quốc gia nơi phát hành trái phiếu.

8. Phân biệt trái phiếu ngoại tệ và trái phiếu của công ty nước ngoài phát hành trên thị trường nội địa

Trái phiếu do công ty nước ngoài phát hành trên thị trường nội địa bằng đồng tiền của quốc gia nơi phát hành và được bán trên thị trường nội địa của đồng tiền đó. Chẳng hạn, chúng ta thường nghe tới các trái phiếu như trái phiếu Yankee (tức là trái phiếu do công ty nước ngoài phát hành bằng đô la Mỹ và bán trên thị trường New York), hay tương tự là trái phiếu Samurai (phát hành bằng đồng Yên Nhật trên thị trường Tokyo), trái phiếu Bulldog (trái phiếu bằng đồng Bảng trên thị trường London) của các công ty nước ngoài bán trên thị trường của các đồng tiền phát hành.

Nếu các trái phiếu này được bán cả ở trong và ngoài biên giới của quốc gia đồng tiền phát hành, khi đó, trái phiếu đó sẽ được coi là trái phiếu quốc tế hay “eurobond”. Eurobond đầu tiên được phát hành vào năm 1963 bởi Autostrade, một công ty xây dựng đường bộ của Ý. Đợt phát hành này được Ngân hàng S.G Warburg hoạt động trên thị trường London thu xếp phát hành. Ngày nay, các tổ chức thu xếp phát hành trên thị trường trái phiếu eurobond chủ yếu là các ngân hàng đầu tư lớn của Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Đức và Thụy Sỹ.

9. Phân biệt thị trường eurobond và thị trường eurocurrency

Thị trường eurobond và thị trường eurocurrency là hai thị trường tồn tại song song và độc lập của thị trường vốn quốc tế. Thị trường eurobond tạo cơ hội cho các nhà đầu tư quốc tế đầu tư và nắm giữ tài sản bằng đồng tiền của một quốc gia ngoài phạm vi biên giới của quốc gia đó.

London và New York là hai thị trường chính của eurobond. Phát hành eurobond trên thị trường New York thường phức tạp, tốn thời gian và tiền bạc hơn so với London do luật pháp Mỹ thường có nhiều hạn chế và thủ tục hơn so với Anh. Cho tới năm 1988, London dường như không có một hệ thống luật pháp chính thức về chứng khoán.

Điều này cho phép các tổ chức tài chính hoạt động trên thị trường London có nhiều cơ hội và hoạt động linh hoạt hơn. Tuy nhiên, cũng không vì thế mà làm ảnh hưởng tới chất lượng của trái phiếu phát hành. Theo thống kê, có rất ít trường hợp tổ chức phát hành mất khả năng thanh toán trong số hàng chục nghìn đợt phát hành trên thị trường London.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :