Home / Tài Chính / Thị trường tài chính: vai trò, chức năng, phân loại, các chủ thể

Thị trường tài chính: vai trò, chức năng, phân loại, các chủ thể

/

Khi nói về thị trường tài chính, thuật ngữ công cụ tài chính vẫn được sử dụng và hiểu tương đương với thuật ngữ tài sản tài chính.

thị trường tài chính là gì

1. Tài sản tài chính là gì?

Để nắm được khái niệm thị trường tài chính, trước hết cần hiểu được khái niệm tài sản tài chính. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF), tài sản tài chính là các tài sản kinh tế đồng thời là công cụ tài chính. Tài sản kinh tế được hiểu là các nguồn lực thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu và có thể mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho chủ sở hữu. Còn công cụ tài chính có bản chất là các loại hợp đồng tài chính giữa các bên, có thể mang lại quyền được hưởng đối với một nguồn thu nhập hoặc một tài sản trong tương lai từ người phát hành công cụ tài chính.

Ví dụ, vốn chủ sở hữu cũng được coi như là một quyền được hưởng; nó đại diện cho quyền được hưởng của chủ sở hữu đối với giá trị còn lại của doanh nghiệp. Như vậy, khái niệm tài sản tài chính rộng hơn khái niệm công cụ tài chính. Tài sản tài chính không bao gồm các công cụ tài chính có tính chất phụ thuộc vào một sự kiện không chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai như bảo lãnh tài chính, các cam kết như thư tín dụng, cam kết cho vay. 

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, khi nói về thị trường tài chính, thuật ngữ “công cụ tài chính” vẫn được sử dụng và hiểu tương đương với thuật ngữ “tài sản tài chính”.

Một thuật ngữ khác được sử dụng tương đương với thuật ngữ “Tài sản tài chính” (financial assets) trong tiếng Anh là thuật ngữ “chứng khoán” (securities). Thuật ngữ “chứng khoán” này rộng hơn so với thuật ngữ “chứng khoán” thường được sử dụng tại Việt Nam, chỉ bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.

2. Thị trường tài chính là gì?

Theo F. S. Mishkin, thị trường tài chính là thị trường nơi nguồn vốn được chuyển từ người có vốn dư thừa sang người thiếu vốn. Theo J. Madura, thị trường tài chính là nơi các tài sản tài chính hay còn gọi là các chứng khoán có thể được mua và bán. Nguồn vốn được luân chuyển trong thị trường tài chính khi một bên mua tài sản tài chính trước đó thuộc sở hữu bởi một bên khác.

Trong phạm vi giáo trình này, thị trường tài chính được định nghĩa là nơi nguồn vốn được luân chuyển từ cá nhân hoặc tổ chức thừa vốn sang các nhân hoặc tổ chức thiếu vốn thông qua việc mua bán các tài sản tài chính. Thị trường tài chính tạo điều kiện cho dòng vốn luân chuyển và do đó cho phép các hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ thực hiện các hoạt động tài trợ và đầu tư.

3. Chức năng của thị trường tài chính

Thị trường tài chính là bộ phận quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa. Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Thị trường tài chính đóng vai trò nòng cốt trong quá trình luân chuyển đồng vốn từ nhà đầu tư đến nhà sản xuất.

Dòng vốn từ người cho vay – người tiết kiệm tới người vay – người chi tiêu qua hai con đường: Tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp.

3.1. Tài chính trực tiếp

Người đi vay vay vốn trực tiếp từ người cho vay bằng cách bán chứng khoán (còn gọi là công cụ tài chính -financial instruments). Chứng khoán là những trái quyền (quyền được hưởng) đối với thu nhập hoặc tài sản tương lai của người vay. Chứng khoán là tài sản có đối với người mua chúng, chúng lại là tài sản nợ (một IOU hoặc nợ) đối với người hay hãng phát hành.

3.2. Tài chính gián tiếp

Vốn được chuyển từ người cho vay tới người vay thông qua trung gian tài chính. Trung gian tài chính đứng giữa cho vay-người tiết kiệm và người vay-người sử dụng và giúp chuyển vốn từ người này sang người kia. Trung gian tài chính thực hiện điều này bằng cách vay vốn của người vay – người tiết kiệm, sau đó cho người vay vay vốn. Ví dụ một ngân hàng có thể nhận được vốn bằng cách phát hành một tài sản nợ cho công chúng ở dưới dạng tiền gửi tiết kiệm và sau đó dùng vốn này để cho vay, hoặc mua chứng khoán trên thị trường tài chính. Kết quả cuối cùng là vốn được chuyển từ công chúng (người cho vay – người tiết kiệm) tới công ty (người vay- người sử dụng) với sự giúp đỡ của trung gian tài chính (ngân hàng).

3.3. Chức năng của thị trường tài chính

Thông thường, thị trường tài chính phát triển có hệ thống các trung gian tài chính đa dạng làm nhân tố thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn, và cung cấp các công cụ tài chính đa dạng cho người đầu tư và sử dụng vốn. Trung gian tài chính chuyển vốn từ người cho vay-người tiết kiệm sang người vay- người sử dụng và họ kiếm lời bằng cách đưa ra mức lãi suất cao hơn mức lãi suất mà họ phải trả cho người gửi tiền. Như vậy, trung gian tài chính có thể làm lợi cho những người gửi tiền tiết kiệm và nó cũng tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người vay có được các khoản tiền để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Hay nói cách khác, không có trung gian tài chính, thị trường tài chính không thể có được lợi ích trọn vẹn.

Việc dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người đầu tư, kinh doanh thông qua thị trường tài chính giữ một vị trí vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, vì người có khoản tiết kiệm thường không phải cũng là người sẵn có cơ hội đầu tư sinh lời, việc dẫn vốn qua thị trường tài chính giúp cho họ có điều kiện sử dụng tiền tiết kiệm để đầu tư kiếm lời. Ngược lại, có nhiều người có cơ hội sản xuất kinh doanh, nhưng không đủ vốn, thông qua thị trường tài chính họ có thể vay mượn vốn để đầu tư.

Thị trường tài chính còn giúp cho dân chúng vay mượn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu như mua nhà ở, ô tô… và như vậy nó cũng giúp cho người sản xuất tiêu thụ được hàng hoá.

Như vậy, thị trường tài chính giúp cho việc chuyển vốn từ những người không có cơ hội đầu tư sinh lợi tới những người có cơ hội đầu tư, qua đó, thị trường tài chính giúp nâng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Nó cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dùng bằng cách giúp họ thỏa mãn nhu cầu mua sắm trước khi tích lũy đủ tiền.

4. Vai trò của thị trường tài chính

Từ các hoạt động kể trên, thị trường tài chính có các vai trò quan trọng như sau:

4.1. Thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn

Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu vốn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Nếu không có thị trường tài chính thì việc huy động vốn để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng của Chính phủ và chính quyền địa phương sẽ bị hạn chế do ngân sách của chính phủ thường eo hẹp, không đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng và chi tiêu.

Thêm vào đó, sức sản xuất xã hội ngày càng phát triển và quy mô sản xuất ngày càng mở rộng thì nhu cầu tiền vốn ngày càng gia tăng. Nếu chỉ dựa và nguồn tích luỹ vốn của bản thân hay qua con đường vay ngân hàng truyền thống thì không thể đáp ứng được về mặt thời gian và số lượng. Vì vậy, nếu thị trường tài chính phát triển thì thông qua đó các đơn vị sản xuất và các địa phương có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu huy động nhanh chóng khối lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu.

4.2. Phân bổ và sử dụng nguồn vốn

Thị trường tài chính giúp cho việc phân bổ và sử dụng vốn có hiệu quả hơn. Việc sử dụng vốn có hiệu quả không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà cả đối với người vay tiền để đầu tư. Người có tiền tiết kiệm, tiền nhàn rỗi nhận thức rõ giá trị thời gian của đồng tiền mà họ đang nắm giữ. Đồng tiền sẽ không sinh lợi nếu để trong két sắt hoặc gối đầu giường, mà tiền sinh lãi từ gửi tiết kiệm hoặc mua cổ phần.

Thông thường lãi thu được qua đầu tư chứng khoán cao hơn lãi trái phiếu nhà nước hay lãi gửi tiết kiệm, do vậy người đi vay vốn trên thị trường tài chính cũng phải sử dụng vốn vay đó một cách hợp lý mới có thể trả lại được cho người cho vay và tạo thu nhập và tích lũy cho chính mình.

4.3. Thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ

Hoạt động thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ. Thông qua thị trường tài chính việc phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước.

Thị trường tài chính nhìn chung rất nhạy cảm đối với các hoạt động kinh tế, thị trường tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời là thước đo hiệu quả các hoạt động kinh tế. Giá trị cổ phiếu của các công ty là một ví dụ điển hình, thị giá cổ phiếu tỷ lệ thuận với số lợi nhuận mà công ty đạt được. Chỉ số chung của thị trường chứng khoán phản ánh mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó trong thời gian ngắn, trung, và dài hạn.

4.4. Cho phép sử dụng các chứng từ có giá

Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, đổi tiền mặt, cho phép bán cổ phiếu, trái phiếu. Ngân hàng trung ương có thể căn cứ và nhu cầu của từng thời kỳ, điều tiết hoạt động của thị trường mở để khống chế sự co dãn cung cầu tiền tệ, tiến tới khống chế quy mô và hướng đầu tư tín dụng và tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển và ổn định giá trị đồng tiền.

Như vậy, thị trường tài chính có chức năng và vai trò hết sức quan trọng không những đối với nền kinh tế mà cả đối với từng cá nhân. Nó cho phép vốn được chuyển từ người có tiền nhàn rỗi sang cho người có cơ hội đầu tư, có khả năng sản xuất, giúp nâng cao năng suất và hiệu quả toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, thị trường tài chính cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dùng bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm tốt hơn. Thị trường tài chính hoạt động hữu hiệu và đa dạng sẽ cải thiện đời sống kinh tế xã hội.

5. Chủ thể tham gia thị trường tài chính

5.1. Chủ thể đi vay

Chủ thể đi vay chủ yếu trên thị trường tài chính là Chính phủ, các công ty, hộ gia đình.

5.1.1. Chính phủ

Chính phủ vay trên thị trường tài chính bằng cách phát hành trái phiếu kho bạc để bù đắp cho sự thiếu hụt ngân sách

5.1.2. Các công ty

Việc thiếu vốn sản xuất kinh doanh la điều thường xảy ra trong hoạt động của các doanh nghiệp. Không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng có thể giải quyết vấn đề này bằng cách vay ngân hàng. Hơn nữa, khi muốn mở rộng sản xuất, đầu tư thêm trang thiết bị, cơ sở vật chất, các doanh nghiệp thường cần vốn lớn với thời hạn dài, các ngân hàng thương mại thường ít khi có thể đáp ứng yêu cầu như vậy. Cách phổ biến nhất là các doanh nghiệp huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường tài chính.

5.1.3. Các hộ gia đình

Hộ gia đình cũng vay trên thị trường tài chính để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và yêu cầu chi tiêu khác của mình

5.2. Chủ thể cho vay hay đầu tư

Khi một chủ thể đồng ý giao tiền hoặc tài sản để nhận lại một trái phiếu của người khác, anh ta đã biến mình thành chủ thể cho vay (lenders). Bởi vì mọi khoản vay đều được hoàn trả vốn và lãi, nên hoạt động cho vay đã làm cho tiền mặt, tài sản tạo thêm ra những giá trị mới. Chính quá trình tạo ra giá trị mới này đã làm cho việc cho vay trở thành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, do vậy, người ta cũng gọi những người cho vay là các các đầu tư (investors).

5.2.1. Các hộ gia đình

Các hộ gia đình là những người cho vay chủ yếu thông qua việc mua trái phiếu trên thị trường hoặc gửi tiền vào ngân hàng.

5.2.2. Các công ty bảo hiểm

Các công ty bảo hiểm nhận tiền bảo hiểm của dân chúng sau đó đem cho các ngân hàng, công ty vay, hoặc mua trái phiếu. Các khoản cho vay của công ty bảo hiểm thường là các khoản cho vay dài hạn.

5.2.3. Các trung gian tài chính

Các ngân hàng sinh ra là đi vay để cho vay. Mặc dù các ngân hàng chỉ là trung gian của việc vay và cho vay, không phải là chủ thể cuối cùng, nó vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong việc là cho vốn chu chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác.

5.2.4. Các công ty và chính phủ

Các công ty và chính phủ khi có tiền nhàn rỗi họ đều tìm cách làm sinh lợi dưới dạng mua trái phiếu hoặc gửi tiền vào ngân hàng.

6. Phân loại thị trường tài chính

Có nhiều cách phân loại thị trường tài chính theo các tiêu chí khác nhau. Có bốn cách phân loại thị trường tài chính chủ yếu như sau: (i) Phân loại theo sự luân chuyển của các nguồn tài chính, (ii) Phân loại theo phương thức tổ chức thị trường và giao dịch, (iii) Phân loại dựa theo tính chất pháp lý và (iv) Phân loại theo tính chất, đặc điểm của loại tài sản tài chính được giao dịch.

6.1. Phân loại theo sự luân chuyển các nguồn tài chính

Dựa theo sự luân chuyển các nguồn tài chính, có thể phân loại thị trường tài chính thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

6.1.1. Thị trường sơ cấp

Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp một là thị trường tài chính trong đó diễn ra việc mua bán chứng khoán đang phát hành hay chứng khoán mới. Các loại hàng hóa như cổ phiếu, trái phiếu của công ty và của chính phủ, khi mới phát hành đều được đem bán ở thị trường này. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường cấp một thường được tiến hành thông qua trung gian là ngân hàng đầu tư.

Ngân hàng này thường được xem như là ngân hàng đầu tư hay ngân hàng bảo hiểm cho việc phát hành thông qua việc bảo đảm giá cố định của chứng khoán trong quá trình phát hành. Ngân hàng đầu tư thường trực tiếp bỏ tiền để mua hết lô chứng khoán (với giá thấp hơn giá thông báo), sau đó bán lại ngay trên thị trường với giá cao hơn (giá công bố) để kiếm lời.

6.1.2. Thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp hai là thị trường mua bán lại những chứng khoán đã phát hành (chứng khoán cũ). Khi một cá nhân mua chứng khoán ở thị trường thứ cấp thì cá nhân người vừa bán nó, nhận được tiền bán chứng khoán, những công ty – người đã phát hành chứng khoán lần đầu tiên không thu được tiền nữa. Một công ty thu được vốn chỉ khi chứng khoán của nó được bán lần đầu tiên trên thị trường sơ cấp. Việc mua bán ở thị trường thứ cấp thường được thực hiện thông qua các công ty môi giới.

Thị trường thứ cấp thực hiện hai chức năng:

  • Thứ nhất, nó tạo điều kiện dễ dàng để bán những công cụ tài chính nhằm thu tiền mặt, tức là nó làm cho những công cụ tài chính này “lỏng” thêm. Tính“lỏng” thêm của những công cụ tài chính, khiến chúng được ưa chuộng hơn và như thế làm dễ dàng hơn cho công ty phát hành bán chúng ở thị trường sơ cấp.
  • Thứ hai, thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán mà công ty phát hành bán ở thị trường sơ cấp. Những hãng mua các chứng khoán ở thị trường sơ cấp sẽ chỉ thanh toán cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường thứ cấp sẽ chấp nhận nó. Giá chứng khoán ở thị trường thứ cấp càng cao, thì giá công ty phát hành sẽ nhận được do phát hành chứng khoán ở thị trường sơ cấp sẽ càng cao và vì vậy, công ty phát hành nhận được tổng vốn đầu tư cao hơn. Chính vì lý do này mà khi nghiên cứu thị trường tài chính, người ta thường tập trung vào nghiên cứu phương thức diễn biến của thị trường thứ cấp hơn là thị trường sơ cấp.

6.1.3. Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thị trường sơ cấp là thị trường cơ sở, là tiền đề để cho thị trường thứ cấp hoạt động. Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có chứng khoán cho thị trường thứ cấp hoạt động.

Ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó có thể thu hút được nhà đầu tư do tính thanh khoản của các chứng khoán thấp. Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết. Trong thực tế, hoạt động của thị trường chứng khoán không thể chỉ rõ ra được đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp, bởi vì trong hoạt động của thị trường chứng khoán vừa diễn ra việc phát hành chứng khoán vừa diễn ra việc mua đi bán lại chứng khoán.

6.2. Phân loại theo phương thức tổ chức và giao dịch thị trường

Dựa vào phương thức tổ chức và giao dịch thị trường, có thể phân loại thị trường tài chính thành thị trường tập trung và thị trường giao dịch qua quầy tức thị trường OTC (over – the – counter).

6.2.1. Thị trường tập trung

Thị trường tập trung là thị trường mà việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện có tổ chức và tập trung tại một nơi nhất định, ví dụ các sở giao dịch chứng khoán như Sở giao dịch chứng khoán New York, Sở giao dịch chứng khoán Tokyo, Sở giao dịch chứng khoán London, Sở giao dịch chứng khoán Paris.

Sở giao dịch thường được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ phần. Sở giao dịch cung cấp cho những người mua bán chứng khoán các phương tiện và dịch vụ cần thiết để tiến hành giao dịch như: dịch vụ thanh toán, lưu ký chứng khoán, hệ thống máy tính nối mạng, hệ thống bảng giá điện tử để yết giá chứng khoán, hệ thống ghép lệnh mua và bán chứng khoán.

Hoạt động mua bán chứng khoán tại sở giao dịch bắt buộc phải thông qua các trung gian môi giới gọi là các nhà môi giới chứng khoán (brokers). Các nhà môi giới muốn hoạt động tại Sở giao dịch phải làm thủ tục đăng ký với sở giao dịch.

Người mua và bán chứng khoán sẽ thông qua những nhà môi giới để đưa ra các lệnh mua và bán chứng khoán. Các nhà môi giới sau khi nhận lệnh sẽ đến gặp nhau tại một nơi ở trung tâm của sở giao dịch gọi là sàn giao dịch để tiến hành đàm phán. Ngày nay, do sự phát triển của công nghệ máy tính, nhiều sở giao dịch đã thay việc đàm phán trực tiếp bằng một hệ thống ghép lệnh tự động, tuy vậy hình thức đàm phán trực tiếp vẫn được duy trì tại nhiều sở giao dịch nổi tiếng trên thế giới.

Không phải tất cả các loại chứng khoán đều được mua bán tại sở giao dịch, mà chỉ những chứng khoán đã được đăng ký yết giá. Để chứng khoán do một công ty phát hành được đăng ký yết giá, công ty đó phải thỏa mãn các điều kiện cần thiết về quy mô vốn, về số lượng chứng khoán đã phát hành, về hiệu quả kinh doanh trong thời gian gần đây. Sau khi được sở giao dịch chấp nhận, chứng khoán được đăng ký vào danh bạ của sở giao dịch chứng khoán và thường xuyên được niêm yết giá trên sở giao dịch.

6.2.2. Thị trường phi tập trung OTC

Thị trường phi tập trung – hay còn gọi là thị trường giao dịch qua quầy” – OTC Market (over-the-counter Market) – là thị trường mà các hoạt động mua bán chứng khoán được thực hiện phân tán ở những địa điểm khác nhau chứ không tập trung tại một nơi nhất định. Thị trường OTC không có không gian giao dịch tập trung mà được vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng thông qua sự trợ giúp của các phương tiện thông tin.

Do hình thức tổ chức như vậy nên các chứng khoán mua bán tại thị trường OTC rất đông đảo và đa dạng, nó bao gồm chứng khoán của cả những công ty chưa đủ điều kiện yết giá tại Sở giao dịch lẫn những công ty chưa muốn yết giá tại Sở giao dịch.

Theo các số liệu thống kê thì ở các nước phát triển giá trị các chứng khoán được mua bán qua thị trường OTC lớn hơn rất nhiều so với mua bán tại Sở giao dịch. Tính thanh khoản của các loại chứng khoán trên thị trường OTC thường thấp hơn thị trường giao dịch tập trung, chứa đựng nhiều rủi ro hơn, song cũng có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn.

6.3. Dựa vào tính chất pháp lý

Dựa vào tính chất pháp lý, thị trường tài chính được phân loại thành thị trường chính thức và phi chính thức.Thị trường tài chính chính thức là thị trường tài chính được tổ chức và quản lý một cách có hệ thống. Bên cạnh thị trường tài chính chính thức, tồn tại thị trường tài chính không được tổ chức và quản lý có hệ thống song vẫn đóng vai trò quan trọng tại một số quốc gia, gọi là thị trường phi chính thức. Thị trường phi chính thức bao gồm những người cho vay lấy lãi, các tổ chức tiết kiệm và cho vay không chính thức, các hợp tác xã tín dụng.

Bên cạnh thị trường tài chính chính thức, nơi các ngân hàng, các công ty tài chính, các công ty chứng khoán,… đang hoạt động, thị trường phi chính thức đóng một vai trò đáng kể trong thị trường tài chính Việt Nam, bao gồm một số dự án tín dụng vi mô chưa được cấp phép ở nông thôn, các khoản vay người thân, bạn bè và hàng xóm, tín dụng xoay vòng “hụi”, thương nhân địa phương…

Theo một khảo sát trong “Báo cáo đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam –  Kết quả điều tra Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2013 của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Tổng cục Thống kê và Trường đại học Copenhagen, với mỗi khoản vay chính thức, có gần 2,5 khoản vay phi chính thức được thực hiện ở các DNNVV Việt Nam.

Có gần 19% số DNNVV được khảo sát có cả các khoản vay chính thức và phi chính thức và gần 70% số DNNVV không có tiếp cận tín dụng chính thức sử dụng các khoản vay phi chính thức.

6.4. Phân loại theo tính chất, đặc điểm của các loại tài sản tài chính được giao dịch

Thị trường tài chính có thể được phân loại dựa trên các tính chất, đặc điểm của các loại tài sản tài chính được giao dịch. Dựa trên các tài liệu hướng dẫn về phân loại các tài sản tài chính và công cụ tài chính như “Hướng dẫn thống kê tiền tệ và tài chính” do IMF công bố, “IFRS 9 – Công cụ tài chính” do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố, và “Phân loại thống kê các công cụ thị trường tài chính” do Ngân hàng Trung ương châu Âu công bố, các tài sản tài chính có thể phân loại thành:

  • Các chứng khoán nợ và các khoản tiền gửi, cho vay khác có kỳ hạn dưới 1 năm.
  • Các chứng khoán nợ và các khoản tiền gửi, cho vay khác có kỳ hạn trên 1 năm.
  • Chứng chỉ quỹ đầu tư và quỹ thị trường tiền tệ.
  • Các chứng khoán phái sinh.
  • Các giao dịch mua bán ngoại hối.
  • Các tài sản tài chính khác.
  • Cổ phiếu.

Dựa trên tính chất, đặc điểm của các loại tài sản tài chính nêu trên, có thể phân loại thị trường tài chính thành các loại thị trường khác nhau như:

  • Thị trường nợ và thị trường vốn chủ sở hữu.
  • Thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
  • Thị trường ngoại hối.
  • Thị trường phái sinh.
  • Thị trường giao dịch các tài sản tài chính khác.
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :