Home / Tài Chính / Thị trường ngoại hối là gì: chức năng & chủ thể tham gia

Thị trường ngoại hối là gì: chức năng & chủ thể tham gia

/

Theo thống kê của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, năm 2010, khối lượng giao dịch trung bình trên thị trường ngoại hối toàn cầu ước tính khoảng 3,8 nghìn tỷ đô la Mỹ.

thị trường ngoại hối là gì

1. Thị trường ngoại hối là gì?

Một giao dịch ngoại hối là một hợp đồng mua hoặc bán một số lượng nhất định đồng tiền này lấy một đồng tiền khác theo một tỷ giá hối đoái thỏa thuận và được giao vào một ngày cụ thể. Các giao dịch này diễn ra trên thị trường ngoại hối. Trên thị trường ngoại hối, “địa điểm giao dịch” chính là các phòng giao dịch của các ngân hàng và các công ty môi giới, được liên kết với nhau bằng các hệ thống giao dịch điện tử và kết nối với các khách hàng. Các ngân hàng và công ty tài chính quốc tế là những người tham gia chủ yếu trên thị trường ngoại hối. Các ngân hàng và công ty này giao dịch thay mặt cho các khách hàng, và một phần nhỏ hơn, là giao dịch cho chính bản thân họ. Các bên tham gia khác còn có thể có các công ty môi giới, các tổ chức đầu tư, doanh nghiệp thông thường và cả các ngân hàng trung ương.

Theo thống kê của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlements), năm 2010, khối lượng giao dịch trung bình trên thị trường ngoại hối toàn cầu ước tính khoảng 3,8 nghìn tỷ đô la Mỹ, trong đó khối lượng giao dịch cụ thể đối với từng loại sản phẩm như sau:

  • Giao dịch hối đoái giao ngay: 1,4 nghìn tỷ.
  • Giao dịch kỳ hạn: 475 tỷ.
  • Giao dịch hoán đổi: 1,765 nghìn tỷ.
  • Giao dịch hoán đổi tiền tệ: 43 tỷ.
  • Giao dịch quyền chọn và các giao dịch khác: 207 tỷ.

Thị trường ngoại hối cũng là thị trường mà tính thanh khoản cao nhất. Với khối lượng giao dịch khổng lồ như trên và ngày càng tăng cùng với rất nhiều bên tham gia giao dịch trên thị trường với nhu cầu đa dạng, thị trường ngoại hối cũng là thị trường biến động nhiều nhất. Tính đến năm 2013, nước Anh là thị trường ngoại hối lớn nhất, chiếm khoảng 41% toàn bộ khối lượng giao dịch. Nước Anh đương nhiên trở thành trung tâm quan trọng nhất cho các giao dịch ngoại hối. Tiếp theo, nước Mỹ chiếm khoảng 19%. Singapore vượt qua Nhật Bản trở thành trung tâm lớn thứ 3, chiếm khoảng 5,7%, Nhật bản 5,6% và Hồng Kông: 4,1%.

2. Chức năng của thị trường ngoại hối

Các công ty kinh doanh quốc tế thực hiện các hoạt động kinh doanh bình thường của mình xuyên biên giới và liên tới nhiều quốc gia như mua, bán, vay và cho vay. Các đồng tiền nội tệ của người mua khi đó trở thành đồng tiền ngoại tệ đối với người bán và ngược lại.

Nếu một công ty xuất khẩu yêu cầu người mua hàng nước ngoài phải thanh toán bằng đồng tiền nội tệ của mình, người mua hàng phải kiếm đồng tiền đó để thanh toán.

Nếu công ty xuất khẩu đó chấp nhận đồng tiền thanh toán là đồng tiền nội tệ của bên mua, bên bán cũng thường sẽ muốn chuyển đổi đồng tiền ngoại tệ đó thành đồng nội tệ của mình, hay thành một đồng tiền tự do chuyển đổi khác. Trong rất nhiều giao dịch thương mại ngày nay, cả bên bán và bên mua đều sử dụng một đồng tiền không phải là đồng nội tệ của mình, thường là những đồng tiền mạnh như đô la Mỹ hay euro.

Giao dịch ngoại hối là việc mua bán một đồng tiền này lấy một đồng tiền khác. Thương mại quốc tế đã tạo ra nhu cầu mua bán giữa các đồng tiền và thị trường ngoại hối.

Cho vay, tài trợ dự án và đầu tư quốc tế cũng tạo ra các giao dịch xuyên biên giới kèm với việc mua bán các đồng tiền khác nhau. Chẳng hạn một nhà đầu tư Trung Quốc muốn mua trái phiếu chính phủ Mỹ sẽ phải mua đồng đô la Mỹ bằng đồng nhân dân tệ để có tiền mua trái phiếu.

Sự phát triển của thương mại quốc tế trong những thập kỷ gần đây đã tạo ra một thị trường ngoại hối khổng lồ, xét về khối lượng giao dịch, đây là thị trường lớn nhất toàn cầu. Những tổ chức tham gia chính trên thị trường ngoại hối là các thiết chế tài chính và ngân hàng lớn. Các trung tâm tài chính trên thế giới là địa điểm hoạt động của rất nhiều loại người mua và người bán khác nhau đối với các đồng tiền, bất kể ngày đêm, chỉ ngoại trừ ngày cuối tuần. Thị trường ngoại hối xác định giá trị tương đối của các đồng tiền khác nhau.

3. Lịch sử thị trường ngoại hối

Thị trường ngoại hối hiện đại bắt đầu hình thành từ khoảng những năm 1970, sau ba thập kỷ kể từ Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi mà các chính phủ hạn chế các giao dịch ngoại hối. Trước thời kỳ này, gần như không có thị trường ngoại hối do các hạn chế về việc mua bán và chuyển đổi giữa các đồng tiền.

3.1. Chế độ bản vị vàng

Cho tới tận năm 1914, giá trị đồng tiền quốc gia được duy trì bởi lượng vàng mà chính phủ quốc gia đó nắm giữ. Ví dụ, đồng bảng Anh chính thức được định giá bởi một lượng vàng nhất định mà Ngân hàng Trung ương Anh sẵn sàng chi trả nếu được yêu cầu. Rất nhiều quốc gia khác cũng áp dụng chế độ bản vị vàng và do đó, định giá đồng tiền của mình bằng vàng. Việc cung tiền và chi tiêu của chính phủ ở các quốc gia khi đó bị giới hạn bởi lượng vàng trong ngân khố của chính phủ. Chế độ này tạo ra một sự ổn định cao của các đồng tiền và do đó, hỗ trợ sự phát triển của thương mại quốc tế trong thời kỳ đó. Chế độ bản vị vàng bị đình trệ do Chiến tranh Thế giới thứ nhất và sau đó bị loại bỏ do cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1930.

3.2. Hiệp ước Bretton Woods 1944 và chế độ tỷ giá cố định

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, các nỗ lực quốc tế được tập hợp để xây dựng lại nền kinh tế bị tàn phá. Khi đó, với vị thế là nền kinh tế mạnh nhất thế giới, Mỹ đóng vai trò người lãnh đạo. Một sản phẩm của nỗ lực quốc tế này là Hiệp ước Bretton Woods năm 1944, được đặt tên theo một địa danh ở Mỹ nơi hiệp ước này được ký kết. Hiệp ước Bretton Woods đặt dấu mốc cho việc trở lại của chế độ tỷ giá cố định. Theo hiệp ước này:

Giá trị đồng đô la Mỹ so với vàng được cố định tại mức giá 35 đô la Mỹ một ounce, và chính phủ Hoa Kỳ cam kết mua bán đồng đô la Mỹ ở mức giá này.

Các quốc gia thành viên khác ấn định tỷ giá đồng tiền của mình so với đồng đô la Mỹ và vàng, cam kết dùng ngân hàng trung ương can thiệp để duy trì mức biến động tỷ giá trong phạm vi 1%.

Kết quả của hiệp ước này là nền kinh tế thế giới quay trở lại với chế độ bản vị vàng với đồng đô la Mỹ đóng vai trò là đồng tiền dự trữ cũng như là đồng tiền giao dịch của thương mại thế giới. Chính phủ các nước giữ đồng đô la Mỹ như đồng tiền dự trữ chính thức với đảm bảo là nếu khi muốn chuyển sang vàng, chính phủ Mỹ sẽ làm việc này cho họ, ở một tỷ giá ấn định là 35 đô la một ounce. Hệ thống hối đoái Bretton Woods hoạt động khá tốt cho tới cuối những năm 1960 với sự phụ thuộc lớn vào sự ổn định của nền kinh tế Mỹ.

Đầu những năm 1970, do mất ổn định của kinh tế Mỹ, cuộc khủng hoảng dầu mỏ đã dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống này. Chính phủ Mỹ chính thức ngừng chuyển đô la sang vàng từ năm 1971. Kể từ đó, đồng đô la Mỹ dần mất giá so với các đồng tiền mạnh khác và ngân hàng trung ương các nước cũng bán đô la Mỹ để chuyển sang các đồng ngoại tệ mạnh khác như mác Đức hay yên Nhật.

3.3. Sự phát triển của thị trường eurocurrency và chế độ tỷ giá thả nổi

Do sự phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế từ những năm 1970, nhu cầu ngoại tệ cho việc thanh toán thương mại trở nên rất lớn. Sự sẵn có của các đồng ngoại tệ để mua bán, và cùng với nó là sự phát triển của thị trường ngoại hối được hỗ trợ bởi sự phát triển của thị trường eurocurrency hay còn một tên khác là eurodollar.

Eurocurrency là tên gọi để chỉ đồng tiền của một quốc gia được gửi ở một ngân hàng bên ngoài lãnh thổ của quốc gia đó. Thị trường eurocurrency là thị trường cho việc vay – trả đồng tiền của một quốc gia ở ngoài lãnh thổ của quốc gia đó. Chẳng hạn, khi một công ty Mỹ có tiền bằng đô la Mỹ gửi tiền của mình tại một ngân hàng ở ngoài lãnh thổ Mỹ, số tiền này sau đó sẽ được ngân hàng đem cho vay và do đó, tạo ra thị trường eurocurrency.

Thị trường eurocurrency được phát triển từ những năm 1960 và tiếp đó là 1970 do nhu cầu ngày càng tăng của các công ty Mỹ hoạt động ở châu Âu nhưng không thể tiếp cận các nguồn vốn bằng đô la Mỹ (chủ yếu do thâm hụt thương mại của Mỹ) và do lãi suất tiền gửi đối với đồng đô la Mỹ ở ngoài lãnh thổ Mỹ cao hơn ở trong nước. Các công ty Mỹ sử dụng các chi nhánh của mình ở châu Âu để chuyển đô la Mỹ ra ngoài và do đó, lách việc áp dụng các quy định về hạn chế ngân hàng của Mỹ thời kỳ đó.

Trong những năm 1970, thị trường eurocurrency đóng vai trò quan trọng trong việc “tái quay vòng” đồng đô la thu được từ bán dầu của các nước xuất khẩu dầu mỏ. Những khoản vay ngoại tệ rất lớn được cấp cho các quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán do hậu quả của việc giá dầu tăng vọt. Sự ra đời và phát triển của thị trường eurocurrency cũng đánh dấu sự phát triển của hệ thống tỷ giá thả nổi. Giá trị của mỗi đồng tiền quốc gia sẽ được xác định bởi thị trường ngoại hối.

Mặc dù đô la Mỹ là đồng tiền đầu tiên và cho tới nay vẫn chiếm một tỷ trọng lớn của thị trường eurocurrency, ngày càng có nhiều đồng tiền mạnh khác cũng gia tăng và trở nên phổ biến, như đồng

4. Thị trường eurocurrency và thị trường ngoại hối

Thị trường eurocurrency dùng để chỉ thị trường cho việc vay – trả đồng tiền ngoại tệ. Thị trường ngoại hối là thị trường để mua bán các đồng tiền ngoại tệ. Tuy nhiên, có mối liên hệ chặt chẽ giữa hai thị trường này.

Sự khác nhau giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn trên thị trường ngoại hối chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự chênh lệch về lãi suất của các đồng tiền trên thị trường eurocurrency.

Tương tự như vậy, tỷ giá giữa hai đồng tiền trong giao dịch hoán đổi ngoại tệ cũng chịu ảnh hưởng bởi sự khác nhau về lãi suất giữa hai đồng tiền đó trên thị trường eurocurrency.

5. Giảm kiểm soát đối với thị trường ngoại hối

Mặc dù thương mại quốc tế mang lại nhiều lợi ích cho kinh tế toàn cầu nói chung, nền kinh tế của mỗi quốc gia cụ thể có thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cạnh tranh quốc tế và đe dọa nền kinh tế nội địa do hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn. Cho tới những năm 1980, rất nhiều quốc gia áp dụng chính sách bảo hộ đối với thương mại và trao đổi tiền tệ.

Chẳng hạn, các quy định về ngoại hối có thể gây cản trở hoặc hạn chế các công ty mua bán ngoại tệ để thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu. Việc dịch chuyển đồng tiền nội tệ ra khỏi lãnh thổ quốc gia cũng bị hạn chế. Quản lý ngoại hối hạn chế sự phát triển của thị trường ngoại hối.

Cho tới cuối những năm 1970, chỉ có Mỹ là quốc gia không có kiểm soát ngoại hối. Hiện nay, việc kiểm soát ngoại hối vẫn rất phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển, bao gồm cả những nền kinh tế rất lớn như Trung Quốc và ở nhiều quốc gia khác ở Đông Âu hay Mỹ latinh. Các quốc gia có đồng tiền mạnh, trái lại, đã bãi bỏ sự kiểm soát ngoại hối từ những năm 1980 hay muộn hơn, 1990.

Sự bãi bỏ kiểm soát ngoại hối là điều kiện thuận lợi để hoạt động kinh doanh ngoại hối bùng nổ, do thương mại quốc tế cũng tự do hơn và các công ty có thể dễ dàng đầu tư hay huy động vốn ở nước ngoài. Các quỹ hưu trí, bảo hiểm hay các tổ chức tương tự cũng có thể đa dạng hóa các danh mục đầu tư của mình bằng cách đầu tư sang các quốc gia khác, do đó, lại càng làm gia tăng các giao dịch về ngoại hối.

Sự phát triển nhanh chóng các giao dịch phái sinh, như hoán đổi tiền tệ chéo, quyền chọn và các giao dịch tài chính khác cũng làm gia tăng việc sử dụng các giao dịch hối đoái giao ngay và kỳ hạn trên thị trường ngoại hối với mục đích phòng ngừa rủi ro.

Việt Nam vẫn duy trì một chế độ kiểm soát ngoại hối rất chặt với hệ thống các quy định do Ngân hàng Nhà nước ban hành. Hệ thống quy định này đòi hỏi nhiều thủ tục, điều kiện và trong nhiều trường hợp, cả chấp thuận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các giao dịch ngoại hối của doanh nghiệp. Các ngân hàng chịu sự kiểm soát ít chặt chẽ hơn nhưng về cơ bản việc tự do giao dịch trên thị trường ngoại hối còn rất hạn chế.

6. Các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối

Thị trường ngoại hối phân hóa thành các thang bậc khác nhau khi tính đến sự tham gia của các thành phần. Ở nấc trên cùng là thị trường liên ngân hàng với sự tham gia của các ngân hàng và các công ty chứng khoán. Trong thị trường liên ngân hàng, sự khác nhau giữa giá mua và bán của một đồng tiền là rất nhỏ và những thành phần bên ngoài thị trường này thường không được biết đến. Các ngân hàng và công ty chứng khoán là những người giao dịch với khối lượng cực lớn, bao gồm cả những giao dịch của chính họ và thay mặt cho khách hàng. Các thành phần này chiếm phần lớn các giao dịch trên thị trường ngoại hối.

Càng xuống các nấc thang bên dưới, khoảng cách chênh lệch giữa giá mua và giá bán càng lớn. Nguyên nhân chủ yếu là do sự khác biệt về khối lượng giao dịch. Với khối lượng giao dịch lớn, người tham gia có thể kiếm được mức chênh lệch giá nhỏ hơn. Việc phân chia các nấc thang tham gia chủ yếu căn cứ trên khối lượng giao dịch này.

Các ngân hàng hàng đầu chiếm khoảng 39% khối lượng các giao dịch. Tiếp theo, các thành phần tham gia ở nấc thang bên dưới lần lượt là các ngân hàng nhỏ hơn, các công ty đa quốc gia (tham gia phòng ngừa rủi ro và thanh toán ở nhiều quốc gia khác nhau), các quỹ đầu cơ lớn, các quỹ hưu trí và bảo hiểm. Các ngân hàng trung ương cũng tham gia thị trường ngoại hối nhằm hợp lý hóa nhu cầu ngoại tệ với các nhu cầu kinh tế của quốc gia.

Chúng ta sẽ lần lượt xem xét hoạt động của một số tổ chức tham gia thị trường ngoại hối dưới đây.

6.1. Các ngân hàng

Các ngân hàng là nòng cốt của thị trường ngoại hối, do vai trò to lớn trong việc duy trì tính thanh khoản của thị trường và đảm bảo là giá mua và giá bán luôn có thể có sẵn cho khách hàng giao dịch các đồng tiền tự do chuyển đổi. Nói cách khác, ngân hàng là người tạo lập thị trường. Các ngân hàng mua bán ngoại hối khắp toàn cầu thông qua các chi nhánh của mình ở khắp nơi trên thế giới.

Các ngân hàng kiếm tiền trong giao dịch ngoại hối bằng hai cách: Thông qua cung cấp dịch vụ cho khách hàng và kiếm lời bằng chênh lệch giữa giá mua và giá bán một đồng tiền.

Thông qua giao dịch đầu cơ trên thị trường liên ngân hàng. Giao dịch liên ngân hàng chiếm phần lớn các giao dịch ngoại hối nhưng lợi nhuận biên trên thị trường này rất nhỏ. Các ngân hàng đều là những tổ chức có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết, do đó, giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đòi hỏi hiểu biết sâu sắc để có thể thu được lợi nhuận từ các đối tác chuyên nghiệp khác.

6.2. Các nhà môi giới

Các môi giới đóng vai trò là người trung gian trong các giao dịch ngoại hối. Thống kê cho thấy, các công ty môi giới tham gia vào khoảng 2/3 tổng số giao dịch ngoại hối trên thị trường.

Chức năng chính của công ty môi giới là ghép người mua với người bán một đồng tiền. Các môi giới giữ liên lạc thường trực với những người giao dịch trong các ngân hàng và nhận lệnh từ các ngân hàng này. Các môi giới cũng liên tục gửi đi mức giá tốt nhất mà họ nhận được rồi thực hiện giao dịch với các ngân hàng chấp nhận mức giá đó. Công ty môi giới sẽ thu phí cho mỗi giao dịch được thực hiện.

Bằng cách đưa ra một mức giá chắc chắn cho các bên tham gia giao dịch, các môi giới giúp đảm bảo thị trường được cập nhật nhất với các thông tin và phản ứng kịp thời, đồng thời duy trì tính thanh khoản của thị trường.

6.3. Các công ty

Một phần quan trọng của thị trường ngoại hối xuất phát từ hoạt động tài chính của các công ty mua bán tiền tệ phục vụ nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của mình. Các công ty này thường mua bán với khối lượng nhỏ hơn so với các ngân hàng hay các tổ chức đầu cơ và các giao dịch của các công ty thường có rất ít ảnh hưởng ngắn hạn lên tỷ giá thị trường.

Tuy nhiên, dòng tiền từ các giao dịch thương mại phát sinh từ giao dịch của các công ty là yếu tố vô cùng quan trọng xác định xu hướng dài hạn của tỷ giá hối đoái. Một vài công ty đa quốc gia lớn có thể có những ảnh hưởng lớn ngoài dự đoán do họ có thể nắm giữ các trạng thái ngoại hối rất lớn mà các thành phần tham gia thị trường khác không biết tới.

6.4. Các ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương của các quốc gia đóng vai trò quan trọng trên thị trường ngoại hối. Họ kiểm soát mức cung tiền, lạm phát, lãi suất và thường sẽ định hướng một tỷ giá chính thức hoặc không chính thức cho đồng tiền của quốc gia mình.

Các ngân hàng trung ương cũng dùng khối dự trữ ngoại hối rất lớn của mình để bình ổn thị trường. Mặc dù vậy, không một ngân hàng trung ương nào có thể độc quyền ấn định giá trị của một đồng tiền tự do chuyển đổi nếu thị trường chỉ ra rằng giá trị của đồng tiền đó sẽ cao hơn hoặc thấp hơn. Khối lượng giao dịch trên thị trường cũng có thể vượt quá hạn mức dự trữ của một ngân hàng trung ương để tác động một cách hiệu quả lên cung cầu. 

Việc can thiệp trực tiếp của các ngân hàng trung ương (mua hay bán một loại ngoại tệ) là để:

6.4.1. Giữ cho tỷ giá không biến động quá lớn

Kiểm soát tốc độ tăng hay giảm giá của đồng tiền quốc gia. Mục đích của việc can thiệp nhằm tránh những biến động tiêu cực trong tỷ giá là để tạo ra môi trường ổn định cho thương mại quốc tế.

6.4.2. Các quỹ đầu cơ

Theo thống kê, có khoảng 70% đến 90% các giao dịch ngoại hối trên thị trường quốc tế là nhằm mục đích đầu cơ. Điều này có nghĩa là các tổ chức hoặc các cá nhân mua hoặc bán một đồng tiền không có ý định thực sự chuyển giao đồng tiền đó vào cuối kỳ giao dịch; thay vào đó, họ chỉ đơn giản là đầu cơ vào xu hướng của đồng tiền đó.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990, các quỹ đầu cơ được coi là những tổ chức đầu cơ tiền tệ lớn. Họ có thể nắm giữ hàng tỷ đô la chứng khoán và cùng lúc đó vay hàng tỷ đô la khác, do vậy, họ có khả năng áp đảo các can thiệp của ngân hàng trung ương để cứu hầu như bất kỳ đồng tiền nào nếu như các yếu tố kinh tế cơ bản thuận lợi cho các quỹ đầu cơ này.

6.5. Các công ty quản lý đầu tư

Các công ty quản lý đầu tư là các tổ chức quản lý một lượng tài sản lớn thay mặt cho khách hàng là các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí hay ủy thác. Các công ty này sử dụng thị trường ngoại hối để hỗ trợ cho các giao dịch mua bán chứng khoán nước ngoài.

Chẳng hạn, một công ty quản lý quỹ nắm giữ một vài chứng khoán nước ngoài sẽ phải mua bán một số đồng ngoại tệ nhất định để thực hiện việc mua bán chứng khoán đó. Một số công ty quản lý đầu tư cũng có các hoạt động quản lý đầu cơ tiền tệ để quản lý trạng thái ngoại tệ của các khách hàng nhằm mục đích kiếm lợi nhuận hoặc để phòng ngừa rủi ro. Số lượng công ty có hoạt động này có thể nhỏ nhưng số lượng tài sản mà họ nắm giữ lại có thể rất lớn và do vậy, có thể thực hiện các giao dịch rất lớn.

6.6. Những công ty giao dịch ngoại hối bán lẻ

Các nhà đầu cơ cá nhân hoặc bán lẻ tạo thành một bộ phận ngày càng lớn của thị trường ngoại hối cùng với sự phát triển của các hạ tầng kỹ thuật. Bộ phận này ngày càng lớn cả về số lượng và tầm quan trọng. Hiện tại, các nhà đầu cơ này giao dịch một cách gián tiếp thông qua các công ty môi giới hoặc ngân hàng.

Các công ty môi giới bán lẻ này thường phải đăng ký và chịu sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền, chẳng hạn NFA ở Mỹ hay FSA ở Anh, Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam. Họ phải đáp ứng một số điều kiện tối thiểu mới được phép hoạt động, chẳng hạn như các yêu cầu về số vốn tự có tối thiểu hay một số loại chỉ số an toàn hoạt động khác.

6.7. Công ty chuyển tiền

Các công ty dạng này là những người chuyển tiền chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ với số lượng lớn nhưng giá trị giao dịch thấp, thường là cho những người đi lao động nước ngoài chuyển tiền về cho gia đình ở quê nhà. Năm 2007, tập đoàn Aite ước đoán có khoảng 369 tỷ đô la Mỹ giao dịch chuyển tiền loại này, trong đó 4 thị trường lớn nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Mexico và Philippin, chiếm khoảng 95 tỷ đô la Mỹ. Hai nhà cung cấp dịch vụ lớn nhất là Western Union và UAE Exchange.

7. Các công cụ tài chính trên thị trường ngoại hối

Các công cụ tài chính trên thị trường ngoại hối chủ yếu là các công cụ phái sinh ngoại hối (xem thêm phần F – Giao dịch phái sinh và sử dụng giao dịch phái sinh trong huy động vốn).

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :