Home / Tài Chính / Tài trợ vốn là gì: đặc điểm & các nguồn tài trợ trung, dài hạn

Tài trợ vốn là gì: đặc điểm & các nguồn tài trợ trung, dài hạn

/

Tài trợ vốn là cấp một khoản vay cho công ty trong một khoảng thời gian nhất định và khoản vay phải được hoàn trả vào cuối của thời hạn đó.

tài trợ vốn là gì

1. Tài trợ vốn là gì?

Tài trợ vốn là cấp một khoản vay cho công ty trong một khoảng thời gian nhất định và khoản vay phải được hoàn trả vào cuối của thời hạn đó. Đổi lại, công ty sẽ phải ký kết hợp đồng ràng buộc nghĩa vụ hoàn trả khoản vay cùng với một số tiền lãi nhất định cho khoản vay đó. Thông thường, bên vay sẽ phải cung cấp tài sản bảo đảm cho khoản vốn vay, ví dụ cầm cố tài khoản, tiền gửi, thế chấp (quyền sử dụng) đất, máy móc, thiết bị, hàng tồn kho hay các hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh khác.

2. Các hình thức của tài trợ vốn

Các công ty lớn thường duy trì nhiều nguồn tài trợ vốn khác nhau. Việc này cơ bản có hai lợi ích:

  • Đảm bảo nguồn vốn có giá rẻ nhất.
  • Đa dạng hóa nguồn tài trợ để đảm bảo khả năng tiếp cận khi cần.

Thông thường, và phổ biến nhất, là các công ty đi vay ngân hàng. Tuy nhiên, việc tiếp cận các khoản vay ngân hàng không phải lúc nào cũng dễ, hay có chi phí hợp lý. Nhu cầu tìm kiếm các khoản tài trợ vốn ngoài ngân hàng dẫn đến sự phát triển của thị trường chứng khoán nợ (ví dụ, trái phiếu).

Phần lớn các đợt phát hành chứng khoán nợ nhắm tới những nhà đầu tư không phải là ngân hàng. Trong nhiều trường hợp, các chứng khoán nợ cũng được thiết kế để có cơ cấu và giá hấp dẫn người mua là ngân hàng. 

Ở Việt Nam, trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện nay, người mua vẫn chủ yếu là các ngân hàng. Điều này một phần do thị trường còn non trẻ, phần quan trọng hơn là do cơ chế cung cấp thông tin và bảo vệ nhà đầu tư, đặc biệt các nhà đầu tư cá nhân hoặc các tổ chức phi tài chính, còn nhiều hạn chế.

3. Những người tài trợ vốn

Tài trợ vốn có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau và các tổ chức tài trợ khác nhau cung cấp các hình thức tài trợ khác nhau.

Trước hết là các ngân hàng: bên vay có thể tìm kiếm các khoản vay từ ngân hàng, tổ chức mà hoạt động chính là nhận tiền gửi và cho vay.

Nhiều tổ chức phi ngân hàng, các công ty cũng tìm kiếm các khoản lợi nhuận tài chính từ nguồn tiền nhàn rỗi thu được từ hoạt động kinh doanh của mình. Các tổ chức này có thể dùng tiền đầu tư vào cổ phiếu hay chứng khoán nợ theo nhu cầu của mình. Các nhà đầu tư dạng này cũng có thể bị hạn chế bởi quy định của pháp luật hay bởi chính quy định nội bộ về việc đầu tư vào chứng khoán, chẳng hạn như các hạn chế về tỷ lệ đầu tư, hay loại chứng khoán được mua.

Ngoài ra, các quỹ hưu trí và các công ty bảo hiểm cũng là những nhà đầu tư lớn trên thị trường trái phiếu.

Trên thị trường, việc thu xếp phát hành chứng khoán nợ cho các doanh nghiệp và bán cho các nhà đầu tư thường do các ngân hàng thực hiện. Tại Việt Nam, thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn có sự tham gia của các công ty chứng khoán với tư cách là tổ chức thu xếp và bảo lãnh phát hành. Do hạn chế của Luật Các tổ chức tín dụng 2010, các ngân hàng không được phép làm bảo lãnh phát hành.

4. Các nhu cầu về vốn của doanh nghiệp

Các nhu cầu về vốn của doanh nghiệp có thể chia làm hai loại:

  • Nhu cầu vốn ngắn hạn (dưới một năm), hay còn gọi là vốn lưu động.
  • Nhu cầu vốn trung, dài hạn (trên một năm) hay còn gọi là vốn đầu tư.

Một doanh nghiệp sẽ cần vốn lưu động để thanh toán các khoản nợ cho hoạt động bình thường hàng ngày, bao gồm các hóa đơn mua hàng, dịch vụ, trả lương, mua nguyên vật liệu. Thông thường, dòng tiền của các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng cân đối giữa các nguồn thu để có thể đủ chi trả cho các khoản chi hoạt động. Do đó, doanh nghiệp sẽ có nhu cầu đi vay vốn lưu động.

Khi cần tiền mua máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thậm chí mua cổ phần của doanh nghiệp khác, doanh nghiệp sẽ cần tới các nguồn tiền đầu tư dài hạn. Tiền đầu tư cũng có thể đi vay và hoàn trả trong một thời hạn dài hơn. Thông thường, khoản vay có kỳ hạn từ trên 1 năm tới 5 năm được gọi là vốn vay trung hạn và trên 5 năm được gọi là vốn vay dài hạn.

5. Tài trợ vốn lưu động

5.1. Các hình thức vay vốn lưu động cơ bản của doanh nghiệp

Bao gồm:

  • Vay thấu chi tài khoản.
  • Vay tuần hoàn.
  • Tài trợ khoản phải thu, bao thanh toán.
  • Chiết khấu giấy tờ có giá, hối phiếu.

Chúng ta sẽ xem xét chi tiết mỗi hình thức này bên dưới.

5.2. Vay thấu chi tài khoản

Thấu chi tài khoản là một hình thức vay, trong đó ngân hàng và bên vay thỏa thuận cho phép bên vay được rút tiền từ tài khoản của mình mở tại ngân hàng đó với số tiền lớn hơn số dư thực có trong tài khoản. Kết quả của việc rút quá số dư thực có này dẫn đến số dư trên tài khoản là số âm. Khi đã thỏa thuận về cho phép thấu chi, bên vay sẽ sử dụng tài khoản của mình như bình thường, tức là vẫn gửi tiền vào và chi tiền ra cho các hoạt động hàng ngày. Tuy nhiên, bên vay sẽ phải đảm bảo số tiền rút ra không vượt quá hạn mức mà ngân hàng cho phép. Số dư trên tài khoản, do đó sẽ thay đổi hàng ngày. Bên vay có thể gửi tiền vào và rút tiền ra trong cùng một ngày.

Các khoản vay thấu chi thường được cung cấp trong một thời hạn rất ngắn, vài ngày, hoặc dưới 30 ngày, có thể được ngân hàng xem xét lại thường xuyên, và thường không có tài sản bảo đảm. Pháp luật của nhiều nước cho phép ngân hàng đòi lại khoản vay thấu chi bất kỳ lúc nào.

Tại Việt Nam, đây vẫn được xem là một khoản vay bình thường và việc hoàn trả phải theo thời hạn thỏa thuận. Thông thường, các khoản vay thấu chi thường có các điều kiện chặt chẽ và cũng khác nhau tùy từng ngân hàng và tùy từng loại tài khoản.

5.2. Khoản vay tuần hoàn

Khoản vay tuần hoàn cho phép bên vay có thể vay lại một khoản tiền ngay sau khi hoàn trả khoản tiền đó. Về cơ bản, khoản vay tuần hoàn là sự kết hợp của thấu chi tài khoản và một khoảng thời hạn vay dài hơn, thường từ một tháng cho tới 6 tháng, và không phải hoàn trả ngay lập tức theo yêu cầu của ngân hàng.

Bên vay sẽ sử dụng khoản vay tuần hoàn khi nhu cầu về vốn lưu động biến động theo thời vụ sản xuất hay dòng tiền của mình. Khoản vay tuần hoàn cũng thường lớn hơn các khoản thấu chi tài khoản.

Bên vay sẽ rút vốn bằng cách gửi một yêu cầu rút vốn ghi rõ số tiền, thời hạn vay cho ngân hàng. Khoản vay phải nằm trong hạn mức mà ngân hàng cung cấp cho bên vay. Cuối thời hạn vay, khoản vay sẽ phải hoàn trả đầy đủ. Nếu hoàn trả trước thời hạn đó, thông thường bên vay sẽ phải thanh toán một khoản phí hoàn trả trước hạn.

Bên vay có thể ngay lập tức sau khi hoàn trả, tiếp tục yêu cầu vay lại khoản vay đó, có thể cho một thời hạn khác, với số tiền khác bằng cách gửi lại một yêu cầu rút vốn như đề cập bên trên. Việc sử dụng lại ngay lập tức khoản vay thường được gọi là một lần “tái tục” hoặc “tuần hoàn”, chính vì thế, được gọi là khoản vay tuần hoàn.

Đối với bên vay, hình thức vay này có nhiều ưu điểm:

  • Thời hạn vay ngắn và phù hợp với nhu cầu sử dụng, do đó tiết kiệm chi phí vay. Bên vay không phải vay toàn bộ một khoản tiền lớn và không sử dụng hết hay phải tìm cách đầu tư lại khoản tiền không sử dụng đó.
  • Trong nhiều trường hợp, bên vay có thể tiếp cận nhiều khoản vay như vậy ở nhiều ngân hàng khác nhau, và do đó, có thể “lựa chọn” ngân hàng nào cho vay lãi suất thấp nhất tại từng thời điểm mà không nhất thiết phải vay từ các ngân hàng có lãi suất cao hơn.

5.3. Tài trợ khoản phải thu hay còn gọi là bao thanh toán

Đây là một hình thức cho vay tài trợ cho hoạt động mua bán hàng hoá của doanh nghiệp. Về cơ bản, đây là việc ngân hàng mua lại khoản phải thu từ hoạt động bán hàng của doanh nghiệp, tức là doanh nghiệp chuyển giao quyền thu nợ người mua hàng của mình cho ngân hàng theo một “giá” nhất định. Giá này thường sẽ thấp hơn số tiền sẽ thu được từ người mua hàng do ngân hàng đã tính vào đó lãi và chi phí giao dịch.

Số tiền này sẽ được ngân hàng thanh toán cho bên vay ngay sau khi ký hợp đồng. Người mua hàng sẽ phải thanh toán tiền hàng vào tài khoản do ngân hàng chỉ định và số tiền đó sẽ thuộc về ngân hàng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tài trợ khoản phải thu được gọi là bao thanh toán.

Loại hình này cho phép doanh nghiệp có thể nhận được tiền ngay sau khi bán hàng trong khi trên thực tế người mua sẽ chỉ thanh toán sau đó một khoảng thời gian nhất định, có thể tới vài tháng. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể phát hành các hối phiếu đòi nợ liên quan đến các hợp đồng bán hàng của mình và đem chiết khấu với ngân hàng, tức là đem bán cho ngân hàng. Hoạt động này được gọi là chiết khấu hối phiếu.

5.4. Chiết khấu hối phiếu, giấy tờ có giá

Chiết khấu hối phiếu là hình thức tài trợ hoạt động thương mại thông qua phát hành và mua bán hối phiếu (bill) hợp lệ. Các hối phiếu này chính là các hối phiếu đòi nợ được doanh nghiệp muốn đi vay ký phát và được bên mua hàng chấp nhận (hoặc ngân hàng của bên mua hàng chấp nhận). Sau khi hối phiếu được ký chấp nhận, bên vay có thể đem hối phiếu có chiết khấu tại ngân hàng của mình. Ngân hàng sẽ gửi hối phiếu cho bên mua hàng hoặc ngân hàng của bên mua hàng để thanh toán. Chiết khấu hối phiếu về cơ bản giống như là phép cộng của việc mua bán khoản phải thu, cộng với việc phát hành một hối phiếu đòi nợ (bill of exchange).

Ở các thị trường phát triển, các công ty có thể phát hành các thương phiếu (commercial paper) và đem chiết khấu hay chuyển nhượng cho ngân hàng. Thương phiếu có thể dưới dạng một hối phiếu nhận nợ (promissory note) hoặc một dạng trái phiếu ngắn hạn. Thương phiếu thường có kỳ hạn dưới một năm và có thể tự do chiết khấu hay chuyển nhượng trên thị trường.

Tại thị trường Việt Nam, một hình thức vay ngắn hạn hay gặp là chiết khấu “giấy tờ có giá”. Giấy tờ có giá có thể hiểu một cách rộng rãi là các công cụ nợ do các công ty hay tổ chức phát hành. Các doanh nghiệp trên thực tế cũng có thể đầu tư vào các giấy tờ có giá do các tổ chức khác phát hành, ví dụ chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng phát hành, hay trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu.

Khi có nhu cầu vốn ngắn hạn, doanh nghiệp có thể đem các giấy tờ có giá này chiết khấu với ngân hàng. Về cơ bản, đây giống như việc doanh nghiệp sẽ “bán” các giấy tờ có giá đó cho ngân hàng trong một thời hạn nhất định (hoặc cũng có thể bán hẳn cho ngân hàng), thường là vài tháng, và sẽ phải mua lại chính giấy tờ có giá đó sau khi hết thời hạn thỏa thuận (trong trường hợp bán hẳn thì doanh nghiệp không cần phải mua lại).

Ngân hàng sẽ tính một khoản phí tương đương với lãi suất cho vay của ngân hàng cho kỳ hạn đó. Theo quy định của pháp luật về chiết khấu giấy tờ có giá, thời hạn chiết khấu không được dài hơn thời hạn còn lại của giấy tờ có giá đó.

6. Tài trợ vốn trung, dài hạn

6.1. Khoản vay trung, dài hạn

Khoản vay trung và dài hạn thường được tài trợ cho doanh nghiệp với kỳ hạn từ 3 đến 5 năm hoặc dài hơn. Các khoản vay loại này thường được trả dần theo nhiều đợt trong suốt thời hạn cho vay. Hình thức trả có thể là trả làm nhiều lần với số tiền trả các lần bằng nhau từ đầu tới cuối (equal instalment), hoặc trả nhiều lần mỗi lần một phần nhỏ, phần lớn còn lại sẽ trả vào lúc đáo hạn (balloon payment), hoặc chỉ trả một lần toàn bộ vốn gốc khi đáo hạn (bullet payment).

Lãi suất khoản vay trung, dài hạn được tính cố định hoặc thả nổi. Lãi suất cố định là một mức lãi suất được áp dụng cố định cho toàn bộ thời hạn của khoản vay, ví dụ 8%/năm. Lãi suất sẽ được thanh toán theo kỳ (thường là cùng với kỳ trả dần tiền gốc), ví dụ, hàng tháng, hoặc hàng quý. Khi cho vay theo lãi suất cố định, các ngân hàng sẽ chịu rủi ro là lãi suất có thể tăng.

Do ngân hàng huy động vốn từ dân cư và các tổ chức để cho vay, nên nếu lãi suất tăng, ngân hàng sẽ phải trả lãi tiền gửi cao hơn. Để đảm bảo lợi nhuận, ngân hàng phải cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động.

Do đó, ngân hàng sẽ thường chỉ cho vay với lãi suất cố định nếu ngân hàng có thể huy động khoản tiền tương tự khoản tiền cho vay lãi suất cố định cho cùng khoảng thời gian đó hoặc ngân hàng có thể sử dụng những biện pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất phù hợp.

6.2. Lãi suất thả nổi

Lãi suất thả nổi là lãi suất được tính linh hoạt cho mỗi kỳ hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng (gọi là một kỳ tính lãi, thường là 1, 3 hoặc 6 tháng). Lãi suất thả nổi được tính dựa trên một căn cứ lãi suất tiêu chuẩn cụ thể nào đó, thường thì là lãi suất liên ngân hàng, ví dụ LIBOR, EURIBOR, VNIBOR. Lãi suất thả nổi được tính cố định cho mỗi kỳ tính lãi, tuy nhiên, sau khi hết một kỳ tính lãi, lãi suất cho kỳ tiếp theo sẽ được tính lại dựa trên lãi suất tiêu chuẩn theo biến động của thị trường tại thời điểm đó.

Trên thị trường ngân hàng Việt Nam, do lãi suất liên ngân hàng thường bị ảnh hưởng nhiều bởi các can thiệp hành chính từ Ngân hàng Nhà nước và thường không phản ánh đúng chi phí huy động tiền gửi của ngân hàng, căn cứ lãi suất tham chiếu phổ biến thường đang được áp dụng là chi phí vốn của ngân hàng. Chi phí vốn là chi phí mà ngân hàng đi huy động vốn trên thực tế (nhận tiền gửi từ dân cư, các tổ chức hoặc huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng). Chi phí vốn sẽ do ngân hàng tự tính và công bố tại mỗi kỳ tính lãi.

6.3. Trái phiếu

Trái phiếu giống như một hình thức cho vay hợp vốn của các nhà đầu tư trái phiếu cho công ty phát hành. Trái phiếu thông thường là loại trái phiếu không ghi danh và có thể tự do chuyển nhượng, chiết khấu hay dùng làm tài sản bảo đảm. Trái phiếu có thể được phát hành dưới dạng giấy in hoặc dưới dạng ghi số (hình thức điện tử). Trái phiếu thường được phát hành kèm theo các điều khoản, điều kiện của trái phiếu.

Trái phiếu có thể được niêm yết để thuận lợi cho việc mua bán trên thị trường thứ cấp. Các trái phiếu eurobond (trái phiếu ngoại tệ trên thị trường quốc tế) thường được niêm yết trên các sàn chứng khoán lớn như Luxembourg, London. Ở châu Á, các sàn chứng khoán Singapore hay Tokyo cũng là các sàn giao dịch phổ biến của trái phiếu eurobond. Trái phiếu có thể được phát hành ra công chúng hoặc phát hành riêng lẻ. Tại Việt Nam, trái phiếu công ty có thể được niêm yết và giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán.

Lãi suất của trái phiếu, cũng giống như khoản vay, có thể là lãi suất cố định hoặc thả nổi. Lãi suất thả nổi thường được căn cứ vào lãi suất liên ngân hàng của các thị trường lớn, ví dụ LIBOR hoặc EURIBOR. Trái phiếu phát hành bằng đồng Việt Nam hay dựa trên căn cứ lãi suất tiêu chuẩn là trung bình cộng của lãi suất huy động tiền gửi từ dân cư của một số ngân hàng quốc doanh lớn trên thị trường. Nếu có lãi suất cố định, tiền lãi trái phiếu thường được thanh toán theo năm. Nếu là lãi suất thả nổi, tiền lãi có thể được thanh toán theo nửa năm, quý, hoặc thậm chí tháng.

Kỳ hạn trái phiếu thường dài, 5 năm, 7 năm, hoặc có thể đến 10 hoặc 15 năm. Trái phiếu có thể được phát hành với một số lợi ích khác kèm theo để hấp dẫn nhà đầu tư:

  • Trái phiếu có lãi suất trả trước: trái phiếu loại này thường có lãi suất danh nghĩa bằng không và được phát hành với giá thấp hơn mệnh giá.
  • Trái phiếu chuyển đổi cho phép nhà đầu tư chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần của tổ chức phát hành.
  • Trái phiếu cũng có thể được phát hành kèm theo chứng quyền cho phép nhà đầu tư quyền mua cổ phần của tổ chức phát hành (hoặc một công ty khác).

6.4. Trái phiếu trung hạn

Một hình thức trái phiếu rất phổ biến trên thị trường tài chính quốc tế là Medium Term Note (MTN) (có thể hiểu là trái phiếu trung hạn). MTN thường được coi là một loại chứng khoán riêng để phân biệt với trái phiếu và thương phiếu (cơ sở phân biệt chủ yếu là dựa trên thời hạn).

MTN thường có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. MTN có thể được phát hành thành một đợt có thời hạn 5 năm, hoặc nhiều đợt mỗi đợt có thời hạn trên một năm. Có thể dùng tiền của đợt phát hành sau để hoàn trả cho đợt phát hành trước, tuy nhiên, nhà đầu tư cũ không có nghĩa vụ phải mua MTN của đợt phát hành mới. Cũng giống như trái phiếu, MTN thường được niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Ở Việt Nam, do quy mô thị trường còn hạn chế, hiện chưa có sự phân biệt giữa các loại chứng khoán nợ là thương phiếu, trái phiếu và trái phiếu trung hạn MTN. Trái phiếu giao dịch trên thị trường tài chính Việt Nam là loại có thời hạn từ trên 1 năm trở lên.

6.5. Tài trợ dự án (project finance)

Tài trợ dự án thường được thực hiện dưới dạng khoản vay hợp vốn của nhiều ngân hàng để tài trợ xây dựng một dự án sản xuất hoặc đầu tư của bên vay. Tài trợ dự án thường liên quan đến xây dựng dự án hạ tầng, dự án khai thác tài nguyên hoặc sản xuất lớn, chẳng hạn như dự án khai thác dầu, than, tài nguyên khoáng sản, lọc dầu, sản xuất điện, viễn thông. Ngoài ra còn có các dự án xây dựng hạ tầng như cầu, đường, hệ thống giao thông hay trường học, bệnh viện.

Theo thông lệ trên thị trường tài chính quốc tế, trái phiếu thường có kỳ hạn dài hơn 5 năm. Riêng trái phiếu chính phủ có thể có thời hạn 10-20 năm. Các công cụ nợ từ trên 1 năm tới dưới 5 năm thường được gọi là MTN. Nếu kỳ hạn dưới một năm thì gọi là thương phiếu (commercial paper).

Các dự án được tài trợ dạng này thường phải có một đặc tính cơ bản là “có thể cho vay được” (bankable), tức là phải đủ hấp dẫn để được ngân hàng xem xét cấp vốn. Một số yêu cầu cơ bản để được xem xét cấp vốn là:

  • Có khả năng tạo ra đủ nguồn tiền hoặc thu nhập để hoàn trả vốn và lãi (theo định kỳ).
  • Có đủ tài sản để đảm bảo cho nguồn tín dụng.

Thông thường tỷ lệ đi vay để tài trợ các dự án là khá cao, phổ biến từ 70% trở lên. Khả năng truy đòi của các ngân hàng cho vay cũng chỉ liên quan đến dòng tiền và tài sản của dự án, không liên quan đến các tài sản khác của bên vay (hoặc chủ đầu tư).

Khi cho vay tài trợ dự án, các ngân hàng đánh giá tín dụng chủ yếu dựa vào dòng tiền của dự án, còn các biện pháp hỗ trợ tín dụng là tài sản của dự án hoặc bảo lãnh của chủ đầu tư để bảo đảm cho khoản vay. Để đảm bảo an toàn trong hoạt động và tách biệt các nghĩa vụ liên quan tới dự án ra khỏi tài sản hiện tại của mình, chủ đầu tư thường sẽ thành lập một công ty riêng, gọi là công ty dự án, để xây dựng dự án.

Tài trợ dự án thường bao gồm:

  • Các bên tham gia, bao gồm chủ đầu tư, các bên cho vay, công ty dự án, bên cung cấp trang thiết bị, nguyên vật liệu, bên mua sản phẩm của dự án sau khi đi vào sản xuất.
  • Các loại hợp đồng: hợp đồng với chính phủ về các ưu đãi và quyền đầu tư dự án, các hợp đồng xây dựng, hợp đồng mua từ các bên cung cấp, hợp đồng bán sản phẩm cho các bên mua (các hợp đồng này có thể được xem xét và ký ngay vào thời điểm xây dựng dự án), hợp đồng vận hành dự án và các hợp đồng tài trợ vốn.
  • Các nghiên cứu khả thi liên quan đến công nghệ, xây dựng, kỹ thuật, đánh giá về tác động môi trường.
  • Các rủi ro phụ thuộc vào quy mô, độ phức tạp hay loại hình của dự án. Các rủi ro này cũng lớn hơn và phức tạp hơn so với một khoản vay hợp vốn thông thường.

6.6. Chứng khoán hóa

Một hình thức tài trợ nguồn vốn rất phổ biến trên thị trường tài chính quốc tế và ở các nước phát triển là chứng khoán hóa. Đây là một hình thức tài trợ vốn phức tạp, đòi hỏi chuyên môn và hiểu biết sâu về lĩnh vực này và hay được các thiết chế tài chính giàu kinh nghiệm sử dụng để xử lý các tài sản (thường là tài sản tài chính).

Ví dụ: các khoản phải thu từ một danh mục các khoản cho vay mua nhà) trên sổ sách của mình trước khi các tài sản này đến ngày đáo hạn. Mục đích chính của các công ty khi thực hiện chứng khoán hóa là huy động nguồn tiền, bằng cách tạo ra hoặc phát hành các tài sản tài chính mới thay vì đợi cho các tài sản hiện tại tới ngày đáo hạn để thu tiền. Một giao dịch chứng khoán hóa điển hình có thể như sau:

  • Tổ chức muốn huy động vốn bán một số tài sản tài chính (muốn chứng khoán hóa) cho một công ty con đặc biệt được thành lập cho mục đích này (gọi là công ty phương tiện). Các công ty phương tiện này do chính tổ chức muốn huy động thành lập và thường được thành lập tại các lãnh thổ có ưu đãi về thuế như British Virgin Island, Cayman Island.
  • Công ty phương tiện sẽ huy động vốn để mua tài sản từ tổ chức muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán, thường là chứng khoán nợ dưới dạng trái phiếu và bán cho các nhà đầu tư. Do công ty phương tiện này mới thành lập nên tổ chức muốn huy động vốn sẽ phát hành một bảo lãnh cho công ty này liên quan đến nghĩa vụ thanh toán trái phiếu. Bảo lãnh này làm tăng xếp hạng tín dụng của công ty phương tiện, và do đó, tăng khả năng bán được trái phiếu.
  • Tài sản mà công ty phương tiện sẽ mua từ tổ chức muốn huy động vốn sẽ được dùng làm tài sản bảo đảm cho trái phiếu được phát hành.
  • Nguồn tiền thu được từ tài sản tài chính (chứng khoán hóa) đã mua sẽ được công ty phương tiện dùng để hoàn trả cho các nghĩa vụ của mình liên quan đến trái phiếu.

Các tài sản dùng để chứng khoán hóa thường là các khoản phải thu có giá trị cao, ổn định và khả năng không thanh toán của bên có nghĩa vụ là thấp, ví dụ như:

  • Các tài sản liên quan đến bất động sản như khoản vay mua nhà.
  • Các khoản phải thu đến từ các hoạt động cho vay tiêu dùng, như nợ thẻ tín dụng.
  • Các khoản phải thu từ các hoạt động cho vay thương mại như khoản vay mua máy bay, tàu biển hay ô tô.
  • Các khoản phải thu liên quan đến danh mục khoản vay nói chung.

Phát hành chứng khoán hóa có thể dưới dạng trái phiếu có bảo đảm (covered bond) hoặc nghĩa vụ nợ có bảo đảm (collateralized debt obligation (CDO)). Hai loại hình chứng khoán này đều mới và cũng chỉ được công nhận vào khoảng đầu những năm 2000 tại các thị trường phát triển ở châu Âu và Mỹ. Tại Việt Nam, các loại chứng khoán nợ này chưa xuất hiện, chủ yếu do các hạn chế về khuôn khổ pháp lý.

Ví dụ các quy định về mua bán nợ còn hạn chế và sơ sài, các yêu cầu về điều kiện phát hành trái phiếu của doanh nghiệp khá chặt và thiếu linh hoạt, các quy định về kế toán, kiểm toán, thuế cũng có thể có nhiều cản trở.

Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước cũng có thể có quan điểm thận trọng với các công cụ tài chính dạng này, vốn bị coi là một trong những nguyên nhân làm trầm trọng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, và do vậy, không khuyến khích chúng. Quy mô hạn chế của thị trường tài chính và kinh nghiệm của các nhà đầu tư cũng làm ảnh hưởng tới việc áp dụng các công cụ tài chính mới như vậy.

6.7. Thuê tài chính

Thay vì mua đứt một tài sản để sử dụng, doanh nghiệp có thể thông qua một công ty cho thuê tài chính để thu xếp việc mua tài sản đó và cho doanh nghiệp thuê lại. Thuê tài chính mang lại nhiều lợi ích cho bên thuê. Bên thuê sẽ không phải thu xếp một khoản tiền lớn để mua tài sản mà chỉ cần hoàn trả một khoản tiền thuê nhỏ theo định kỳ.

Tại nhiều quốc gia, thuê tài chính có thể mang lại nhiều lợi ích về thuế, và do đó, làm cho chi phí thuê tài chính rẻ hơn chi phí đi vay. Vào lúc đáo hạn hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê có thể lựa chọn mua lại tài sản được thuê với giá danh nghĩa thường là rất nhỏ.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :