Home / Tài Chính / Tài sản đảm bảo là gì: lợi ích, ý nghĩa & quyền lợi truy đòi

Tài sản đảm bảo là gì: lợi ích, ý nghĩa & quyền lợi truy đòi

/

Luật pháp cho phép bên cho vay được dùng tài sản bảo đảm để thanh toán các nghĩa vụ nợ của bên vay bằng tiền bán tài sản.

Tài sản đảm bảo là gì

1. Tài sản đảm bảo là gì?

Khi một khoản vay được cấp trên cơ sở có tài sản bảo đảm, bên vay đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của mình bằng cách cấp cho bên cho vay các quyền liên quan đến tài sản của mình, gọi là tài sản bảo đảm. Các quyền này cho phép bên cho vay được dùng tài sản bảo đảm để thanh toán các nghĩa vụ nợ của bên vay bằng tiền bán tài sản. 

2. Lợi ích của tài sản đảm bảo

Các tài sản bảo đảm, do đó, cho phép bên cho vay có thêm các nguồn tiền để thanh toán các khoản cho vay của mình trong trường hợp bên vay không thanh toán được nợ:

  • Tài sản bảo đảm bổ sung cho các cam kết trả nợ quy định trong hợp đồng vay.
  • Tài sản bảo đảm thường được cấp cho bên cho vay trên cơ sở bên cho vay có thể đem bán tài sản này nếu bên vay không trả được nợ. Tuy nhiên, trên thực tế, bên cho vay thường chỉ bán tài sản bảo đảm nếu bên vay đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán hoặc phá sản.

Bên cho vay, và trong trường hợp của giao dịch phát hành trái phiếu là các tổ chức thu xếp chính thường căn cứ vào các đánh giá và xếp hạng tín dụng của bên vay để quyết định có cần tài sản bảo đảm cho giao dịch cho vay đó không.

Các bên vay không cần tài sản bảo đảm thường là các quốc gia, chính phủ hoặc các công ty có xếp hạng tín dụng rất cao, AAA và AA. Các bên vay có xếp hạng tín dụng thấp hơn thường sẽ phải chịu chi phí vay cao hơn (tức là lãi suất cao hơn) do bên cho vay phải chịu rủi ro cao hơn. Các bên vay có xếp hạng tín dụng thấp cũng thường bị yêu cầu phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay.

Việc cấp tài sản bảo đảm, cũng là một cách để bên vay có thể đàm phán giảm lãi suất cho vay. Thực tế cũng cho thấy là khoản vay càng phức tạp, có cấu trúc hay càng dài hạn thì yêu cầu về tài sản bảo đảm càng nhiều.

3. Ý nghĩa của tài sản đảm bảo trong vay vốn

Có thể hiểu được lý do bên cho vay yêu cầu có tài sản bảo đảm hay tác dụng của tài sản bảo đảm khi phân tích tình trạng của bên cho vay nếu bên vay lâm vào tình trạng phá sản.

Khi bên vay kiện phá sản hay tự nộp đơn xin phá sản, một danh sách các chủ nợ và các khoản nợ sẽ được tòa án lập ra nhằm đánh giá các khoản nợ phải trả. Có ba loại khoản nợ được tòa án phá sản xem xét: loại nợ được ưu tiên thanh toán, loại nợ không có bảo đảm và loại bị xếp thanh toán sau.

Theo quy định của Luật Phá sản 2014, loại ưu tiên thanh toán sẽ là các khoản nợ tiền lương, bảo hiểm xã hội và chi phí cho việc phá sản. Các khoản nợ không có bảo đảm sẽ chỉ được thanh toán sau khi các khoản ưu tiên đã được thanh toán xong. Các khoản nợ bị xếp thanh toán sau cùng chính là các khoản chia cổ tức, lợi nhuận hay giá trị cổ phiếu.

Các chủ nợ ưu tiên chính là các nhân viên của công ty bị phá sản, các tổ chức bảo hiểm xã hội, y tế và các chủ nợ của khoản chi phí phá sản (quản tài viên, tòa án). Các chủ nợ không có bảo đảm thường là các đối tác giao dịch làm ăn với công ty bị phá sản, hoặc đôi khi là các bên cho vay không có bảo đảm hoặc khi tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán khoản vay. Chỉ sau khi các chủ nợ đã nhận được đầy đủ tiền của mình, các cổ đông và chủ sở hữu mới nhận được phần còn lại từ tài sản bị thanh lý.

Các chủ nợ có bảo đảm không được xem là các chủ nợ ưu tiên. Tuy nhiên, tài sản bảo đảm cho phép các chủ nợ này được nhận được phần thanh toán cho khoản nợ của mình từ tiền bán các tài sản bảo đảm đó. Theo quy định của luật pháp, ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước, các tài sản bảo đảm này được tách riêng ra khỏi tài sản thanh lý lúc phá sản của bên vay, và chỉ chủ nợ có tài sản bảo đảm mới được phép hưởng lợi từ các tài sản bảo đảm đó.

Tuy vậy, luật pháp hầu hết các nước yêu cầu việc tạm dừng xử lý tài sản bảo đảm khi toà án đã thụ lý đơn và mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp. Trong trường hợp đó, chủ nợ không được phép bán hoặc thu giữ tài sản bảo đảm cho tới khi được tòa án cho phép.

Luật pháp một số nước cho phép việc xử lý tài sản không phụ thuộc vào thủ tục phá sản, hoặc thời gian tạm hoãn là tối thiểu. Chẳng hạn theo luật Anh, việc xử lý hay thu giữ tài sản bảo đảm không bị phụ thuộc vào việc tòa thụ lý đơn phá sản.

Các chủ nợ có bảo đảm theo luật Anh được xem như các chủ nợ “siêu ưu tiên” và riêng biệt và được quyền xử lý tài sản bảo đảm không phụ thuộc thủ tục phá sản, không bị tạm hoãn và tòa án hay quản tài viên không có quyền can thiệp, thu giữ hay thay thế tài sản bảo đảm của chủ nợ.

Luật Phá sản Mỹ và Pháp cũng có quy định rất thân thiện với các chủ nợ như luật Anh, với thời gian yêu cầu tạm hoãn và thu giữ tài sản bảo đảm là tối thiểu khi thủ tục phá sản được mở.

Luật Phá Sản 2014 của Việt Nam cũng công nhận quyền của chủ nợ có bảo đảm được bán tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, trong trường hợp phá sản, Luật Phá sản yêu cầu các chủ nợ có bảo đảm phải dừng việc xử lý tài sản bảo đảm để chờ quyết định của tòa án. Đây là một quy định khá bất lợi cho các chủ nợ, đặc biệt khi kinh nghiệm và cơ chế giải quyết các vụ án phá sản của tòa án còn hạn chế, có thể khiến thời gian tạm dừng việc xử lý tài sản kéo dài làm cho các tài sản dễ mất giá và ảnh hưởng tới việc thu hồi nợ kịp thời của chủ nợ. Mặc dù vậy, đây là quy định phổ biến có thể thấy trong Luật Phá sản của rất nhiều quốc gia.

Sau khi một chủ nợ có bảo đảm được thanh toán đầy đủ, chủ nợ có bảo đảm của cùng một tài sản đó, nhưng có thứ tự ưu tiên thấp hơn sẽ được nhận phần thanh toán tiếp theo (thứ tự ưu tiên này được tính trên cơ sở thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm đối với cùng một loại tài sản đó).

Phần còn thừa, nếu có, sau khi thanh toán cho các chủ nợ, được nhập vào phần tài sản chung của công ty phá sản để thanh toán cho các chủ nợ khác. Nếu tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm, các chủ nợ này sẽ trở thành các chủ nợ không có bảo đảm đối với phần tiền chưa thu hồi được trong quá trình phá sản của doanh nghiệp.

Tài sản bảo đảm có thể được giải trừ theo yêu cầu của bên vay sau khi bên vay đã thanh toán hết các khoản nợ cho bên cho vay. Về nguyên tắc, bên vay có thể yêu cầu giải trừ tài sản bất kỳ lúc nào trong suốt thời hạn khoản vay, miễn là đã hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ.

Kể cả khi đã xảy ra sự kiện vi phạm và bên cho vay đã tiến hành các thủ tục bán tài sản bảo đảm, bên vay cũng có thể yêu cầu quyền giải trừ này, với điều kiện bên vay phải thanh toán đầy đủ khoản nợ. Quyền yêu cầu giải trừ chỉ chấm dứt khi bên cho vay đã bán xong tài sản bảo đảm.

4. Quyền lợi truy đòi tài sản đảm bảo

Khi một bên vay được yêu cầu phải cung cấp tài sản bảo đảm cho khoản vay, điều đó cũng có nghĩa là bên vay không được đánh giá cao về xếp hạng tín dụng. Tài sản bảo đảm có thể do bên vay cung cấp, dùng chính tài sản của mình, hoặc cũng có thể do một bên thứ ba khác cung cấp. Khi đó, bên thứ ba này được gọi là bên cung cấp tài sản bảo đảm. Bên cho vay thường sẽ tiến hành các đánh giá về tài sản bảo đảm để chắc chắn là tài sản này có thể xử lý được khi cần. Tài sản bảo đảm phải đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Đang tồn tại (hoặc sẽ hình thành trong tương lai, với các căn cứ xác định), có thật và thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên vay (hoặc bên cung cấp tài sản bảo đảm, nếu đó không phải là bên vay).
  • Giá trị của tài sản bảo đảm không chỉ đủ để thanh toán khoản tiền gốc của khoản vay mà còn là các khoản lãi và chi phí khác liên quan.
  • Tài sản này phải không có tranh chấp và có thể bán được ngay khi cần thiết.

Tài sản dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ là các “tài sản” theo đúng định nghĩa của pháp luật dân sự. Đó có thể là các tài sản hữu hình, như nhà xưởng, máy móc, hoặc các tài sản vô hình, như các quyền: quyền tác giả, quyền sáng chế, hay quyền đòi nợ. Tài sản có thể là tài sản đã hình thành và đang tồn tại hoặc là tài sản sẽ hình thành trong tương lai. Tài sản hình thành trong tương lai, tuy vậy, không phải là các tài sản sẽ có được trong tương lai theo nghĩa rộng nhất của từ này. 

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tài sản hình thành trong tương lai chỉ bao gồm:

  • Tài sản hình thành do sử dụng tiền từ chính khoản vay tạo ra.
  • Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm và tài sản đã hình thành (nhưng chưa hoàn thành).
  • Tài sản thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.
  • Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.

Việc cấp tài sản bảo đảm cho khoản vay thường được thực hiện dưới các hình thức giao dịch bảo đảm khác nhau. 

Luật Dân Sự quy định các hình thức giao dịch bảo đảm như sau:

  • Trong giao dịch cho vay, cầm cố, thế chấp và bảo lãnh là các giao dịch bảo đảm phổ biến nhất. Bảo lãnh là một hình thức giao dịch bảo đảm theo pháp luật Việt Nam, tuy nhiên, bảo lãnh thường không đi kèm với tài sản của bên bảo lãnh. Do vậy, pháp luật nhiều nước không xem bảo lãnh là một hình thức bảo đảm bằng tài sản do bảo lãnh chỉ là một “cam kết” không có bảo đảm bằng tài sản của bên bảo lãnh. Trong trường hợp bảo lãnh có kèm theo tài sản của bên bảo lãnh, khi đó giao dịch bảo đảm có thể được cấu trúc thành giao dịch cầm cố hoặc thế chấp của bên thứ ba.

Các hình thức giao dịch bảo đảm khác rất ít gặp trong giao dịch cho vay chính vì thế sẽ không được xem xét cụ thể trong cuốn sách này. Phần sau của chương này sẽ đề cập tới các giao dịch bảo đảm liên quan đến một số loại tài sản cụ thể.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :