Home / Tài Chính / Tài chính là gì: lịch sử, bản chất, chức năng & quỹ tiền tệ

Tài chính là gì: lịch sử, bản chất, chức năng & quỹ tiền tệ

/

Tài chính ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử nhất định khi mà ở đó xuất hiện nền sản xuất hàng hóa và xuất hiện nhà nước.

thị trường tài chính

1. Khái quát sự ra đời và phát triển của tài chính

Tài chính ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử nhất định khi mà ở đó xuất hiện nền sản xuất hàng hóa và xuất hiện nhà nước. Lịch sử xã hội loài người đã cho thấy rằng khi phân công lao động xã hội phát triển, chế độ tư hữu xuất hiện, sự ra đời của sản xuất, trao đổi hàng hóa gắn liền với sự phát triển của các hình thái giá trị đã dẫn tới sự xuất hiện của tiền tệ. Điều này đã nhanh chóng thúc đẩy các hoạt động giao lưu kinh tế đồng thời làm nên cuộc cách mạng trong phân phối: từ phân phối bằng hiện vật sang phân phối bằng giá trị.

Trong nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, sản phẩm sản xuất ra để bán. Sản phẩm được biến đổi thành hàng hóa khi nó một mặt vừa có giá trị sử dụng và một mặt vừa có giá trị trao đổi. Hàng hóa khi trao đổi trên thị trường phải thông qua giá cả. Như vậy, tiền tệ được coi là thước đi giá trị của thế giới hàng hóa và khi thực hiện giá trị hàng hóa phải gắn liền với sự vận động của tiền tệ đồng thời phát sinh thu nhập cho người sản xuất hàng hóa. Các khoản thu nhập này là nguồn hình thành những quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế. Sự liên tục của quá trình sản xuất hàng hóa luôn luôn đòi hỏi các quỹ tiền tệ phải được tạo lập, phân phối, sử dụng và đây chính là xuất phát điểm làm nảy sinh các quan hệ phân phối tài chính.

Như vậy, chính trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa với việc sử dụng tiền tệ đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính.

Lịch sử phát triển của loài người cũng cho thấy rằng, cùng với chế độ tư hữu xã hội loài người bắt đầu có sự phân chia giai cấp và có sự đấu tranh giai cấp trong xã hội. Trong điều kiện đó, nhà nước đầu tiên của xã hội loài người xuất hiện, đó là nhà nước chiếm hữu nô lệ. Khi nhà nước ra đời và hoạt động, để duy trì sự tồn tại của mình, nhà nước đã dùng quyền lực chính trị buộc các tổ chức và các cá nhân trong xã hội phải đóng góp một phần thu nhập, của cải cho nhà nước nhằm tạo lập quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của quốc gia. Như vậy, sự hình thành nhà nước làm nảy sinh các quan hệ kinh tế gắn với hình thành, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, hình thành lĩnh vực tài chính nhà nước.

Cùng với sự phát triển của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ và sự phát triển của nhà nước, tài chính cũng đã phát triển từ thấp tới cao, các quan hệ tài chính ngày càng phát triển đa dạng biểu hiện dưới nhiều hình thức và bắt rễ sâu rộng trong đời sống kinh tế xã hội. Nhà nước bằng chính sách, cơ chế, luật pháp luôn luôn tác động, thúc đẩy kinh tế hàng hóa – tiền tệ phát triển, tác động tới sự vận động độc lập của tiền tệ và tạo ra môi trường thuận lợi cho sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội.

Chính trong những điều kiện đó các quan hệ tài chính nảy sinh, tồn tại và phát triển, và cũng chính vì vậy người ta cho rằng sự tồn tại của nền sản xuất hàng hóa – tiền tệ và nhà nước được coi là những tiền đề phát sinh và phát triển của tài chính.

2. Bản chất của tài chính

Trong quá trình tuần hoàn của nền kinh tế luôn diễn ra chuyển dịch các luồng giá trị đại diện cho các nguồn tài chính, do đó tạo ra mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị ở lĩnh vực phân phối của cải xã hội. Tài chính được coi như là sự vận động của các nguồn lực tài chính, là sự vận động của vốn tiền tệ và là những quỹ tiền tệ của những chủ thể trong xã hội. Tài chính được hiểu không chỉ là một khoản tiền tệ ở trạng thái tĩnh mà còn ở trạng thái động.

Sự biểu hiện bề ngoài của tài chính liên quan đến ba khu vực cơ bản: nhà nước, doanh nghiệp và dân cư. Như vậy nguồn tài chính thể hiện ở dạng tiền tệ đang vận động trong nền kinh tế. Nguồn tài chính còn được luân chuyển theo nhiều kênh bao gồm giá trị của cải xã hội, tài sản quốc gia, tổng sản phẩm quốc dân. Các nguồn tài chính hình thành, vận động và chuyển dịch xoay quanh thị trường tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo mục đích của các chủ thể trong xã hội.

Như vậy gắn liền với các hiện tượng bên ngoài của tài chính có thể thấy sự xuất hiện và vận động của tiền tệ, của các nguồn tài chính. Có thể nói tài chính thông qua sự vận động một cách độc lập tương đối của tiền tệ để tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân và một bộ phận tài sản quốc dân.

3. Chức năng của tài chính

3.1. Chức năng phân phối

Chức năng phân phối của tài chính biểu hiện bản chất của phạm trù tài chính và được vận dụng vào đời sống kinh tế xã hội để phân phối của cải vật chất thông qua tiền tệ.

Phân phối của tài chính là sự phân chia các nguồn tài chính mà chủ yếu là tổng sản phẩm quốc dân theo những tỷ lệ và xu hướng nhất định cho tiết kiệm và tiêu dùng nhằm tích tụ tập trung vốn để đầu tư phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu chung của các chủ thể trong nền kinh tế. Nhờ vào chức năng phân phối của tài chính mà các nguồn tài chính đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được bố trí cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội xác định.

Đối tượng phân đối của tài chính là các nguồn tài chính mà chủ yếu là tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Quá trình phân phối của tài chính chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị và luôn luôn gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế.

Phân phối của tài chính bao gồm quá trình phân phối lần đầu và quá trình phân phối lại trong đó phân phối lại là chủ yếu.

Phân phối lần đầu sản phẩm xã hội là sự phân phối được tiến hành trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ cho những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ. Hình thức chính của phân phối lần đầu thực hiện trong khu vực kinh doanh như sau:

  • Phần bù đắp những chi phí vật chất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh. Phần này hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định và quỹ bù đắp vốn lưu động đã ứng ra.
  • Phần hình thành quỹ tiền lương để trả lương, tiền công cho người lao động.
  • Phần đóng góp vào việc hình thành các quỹ bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp), quỹ công đoàn, quỹ khen thưởng.
  • Một phần là thu nhập cho các chủ sở hữu về vốn hay nguồn tài nguyên.

Như vậy, kết quả phân phối lần đầu các nguồn tài chính của xã hội dưới hình thức giá trị mới chỉ hình thành nên những phần thu nhập cơ bản của các chủ thể, hình thành các khoản thu cho các quỹ tiền tệ. Dừng lại ở đó chưa thể đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của toàn xã hội, do đó nảy sinh yêu cầu khách quan của xã hội đối với tái phân phối.

Phân phối lại là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản được hình thành trong phân phối lần đầu ra phạm vi toàn xã hội để đáp ứng nhu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội. Phân phối lại được thực hiện bằng hai phương pháp:

Huy động, tập trung một phần thu nhập của các tổ chức và dân cư vào các quỹ tiền tệ dưới các hình thức: thuế, các khoản vốn nhàn rỗi gửi vào hệ thống tín dụng ngân hàng, mua các loại bảo hiểm phí, các loại cổ phần, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá.

Sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội. Khi vận dụng chức năng phân phối của tài chính vào thực tiễn đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau đây:

  • Xác định quy mô, tỷ trọng của các đầu tư trong tổng sản phẩm quốc dân phù hợp với khả năng và sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi thời kỳ nhất định.
  • Đảm bảo giải quyết mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng.
  • Giải quyết thỏa đáng các quan hệ về lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia phân phối.

3.2. Chức năng giám sát

Chức năng giám sát của tài chính bắt nguồn từ sự cần thiết khách quan phải theo dõi, kiểm soát tiến trình thực hiện các quan hệ tài chính trong phân phối các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Như vậy, chức năng này là một thuộc tính vốn có của tài chính bắt nguồn từ bản chất của tài chính và có quan hệ biện chứng với chức năng phân phối.

Chức năng giám sát được thực hiện dựa vào sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân để kiểm tra việc phân phối các nguồn tài chính và tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ. Thực hiện việc giám đốc bằng tiền thông qua các chỉ tiêu tài chính, các chỉ tiêu về tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ.

Giám đốc của tài chính sử dụng chức năng thước đo giá trị và phương tiện trao đổi của đồng tiền. Sử dụng chức năng thước đo giá trị của tiền tệ để kiểm tra sự ăn khớp giữa giá trị với mức độ tiêu dùng, với mức độ lao động. Sử dụng chức năng phương tiện trao đổi khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính, thực hiện các hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh tế hoặc thực hiện các quan hệ tiền tệ. Sự vận động thực tế của tiền vốn được chuyển từ người có nghĩa vụ thanh toán đến người nhận.

Mục đích của giám sát tài chính nhằm thúc đẩy phân phối các nguồn tài chính của xã hội cân đối và hợp lý, phù hợp với các quy luật kinh tế và đòi hỏi của xã hội, thúc đẩy việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ theo mục đích đã định với hiệu quả cao.

Bên cạnh đó giám sát tài chính đảm bảo duy trì kỷ cương, pháp luật về tài chính, phát hiện, xử lý, ngăn ngừa những hiện tượng tham ô, lãng phí của cải xã hội. Từ đó, các chủ thể tài chính đưa ra các giải pháp để sửa chữa, điều chỉnh kịp thời, đảm bảo sự lành mạnh các quan hệ kinh tế.

Trong nền kinh tế yêu cầu về hiệu quả phân phối, về tính sinh lời trong sử dụng các nguồn tài chính và các quỹ tiền tệ được đặt ra một cách gay gắt và thông qua đó thúc đẩy sự phát triển các hoạt động kinh tế xã hội đặc biệt là hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Qua đó, thúc đẩy sử dụng hợp lý, tiết kiệm tất cả các yếu tố của quá trình tái sản xuất. Giám sát tài chính được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động khác nhau của tài chính.

Chức năng giám sát của tài chính có hai khía cạnh:

  • Thứ nhất là thực hiện việc kiểm tra các mặt hoạt động tài chính, mặt kiểm tra thuần túy của tài chính. Khía cạnh này cho phép nắm được một cách tổng quát kết quả thực tế của hoạt động tài chính cũng như những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả này trong một thời gian nhất định.
  • Thứ hai là trên cơ sở thực hiện kiểm tra các hoạt động của tài chính, đặc biệt trên cơ sở phân tích tài chính và thẩm tra tài chính cho phép đề ra những biện pháp cải tiến các hoạt động tài chính trong thời gian tiếp theo và như vậy sẽ tạo tiền đề cho quá trình phân phối sau diễn ra tốt hơn, phù hợp với các quy luật và đáp ứng yêu cầu xã hội.

Về phạm vi, giám sát tài chính được tiến hành từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình phân phối sản phẩm xã hội. Nó được tiến hành rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau, thông qua tất cả các khâu của hệ thống tài chính. Công tác kiểm tra tài chính có thể diễn ra đồng thời với công tác phân phối và cũng có thể diễn ra một cách độc lập tương đối không đi liền với các hoạt động phân phối. Có thể nói, ở đâu có sự vận động của tiền tệ thuộc phạm trù tài chính thì ở đó có sự giám sát tài chính.

4. Các quỹ tiền tệ cung cấp nguồn tài chính

Muốn thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội thì cần phải có nguồn tài chính. Trong thực tế, nguồn tài chính được hình thành chủ yếu từ kết quả chuyển hóa giá trị của sản phẩm. Trong điều kiện tồn tại và phát triển các quan hệ hàng hóa tiền tệ nguồn tài chính tạo lập ra trước hết được phân phối dưới hình thức giá trị và biểu hiện ở quá trình tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ.

Các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế bao gồm:

  • Quỹ tiền tệ của các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Đây là quỹ tiền tệ của khâu trực tiếp sản xuất kinh doanh.
  • Quỹ tiền tệ của các tổ chức tài chính trung gian.
  • Các quỹ tiền tệ của nhà nước, trong đó ngân sách nhà nước là tiền tệ lớn nhất và quan trọng nhất. Đây là quỹ tiền tệ mà nhà nước sử dụng một cách tập trung để giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế xã hội. quý
  • Quỹ tiền tệ của khu vực hộ gia đình và dân cư.
  • Quỹ tiền tệ của các tổ chức khác.

Sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nêu trên cho mục đích tích lũy và tiêu dùng phản ánh kết quả của các quá trình phân phối. Trong quá trình đó phát sinh hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị dựa vào sự vận động độc lập tương đối của đồng tiền trong phân phối các nguồn tài chính. 

5. Các mối quan hệ kinh tế

Quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các doanh nghiệp: quan hệ kinh tế này được phát sinh khi các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước. Quan hệ kinh tế gắn liền với hình thành nguồn thu của ngân sách nhà nước. Quan hệ kinh tế giữa nhà nước và doanh nghiệp còn được phát sinh khi nhà nước thông qua ngân sách cấp phát vốn hoặc tài trợ vốn cho các doanh nghiệp và gắn liền với việc sử dụng quỹ ngân sách nhà nước vào các quỹ tiền tệ khác của nhà nước.

– Quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các bộ máy quản lý nhà nước thông qua việc nhà nước cấp phát kinh phí hoạt động từ ngân sách duy trì bộ máy quản lý nhà nước.

Quan hệ kinh tế giữa nhà nước và dân cư: phát sinh thông qua các quá trình phân phối lại quỹ ngân sách nhà nước và quỹ tiền tệ trong khu vực dân cư.

Quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp với thị trường: được thực hiện thông qua việc cung ứng, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể tham gia trên thị trường.

Quan hệ kinh tế trong nội bộ các doanh nghiệp: phát sinh khi hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp, giữa các bộ phận thực hiện hạch toán trong doanh nghiệp; phát sinh giữa doanh nghiệp với người lao động.

– Quan hệ kinh tế giữa trong nước và nước ngoài phát sinh khi thực hiện huy động vốn cho vay, viện trợ, thanh toán quốc tế.

Từ sự phân tích nêu trên có thể xác định bản chất của tài chính như sau: tài chính phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu tích lũy hoặc tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội.

4. Sự khác nhau giữa quan điểm truyền thống và điểm hiện quan đại về bản chất của tài chính

Quan điểm truyền thống về khái niệm tài chính nhấn mạnh tới các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính. Quan điểm này nhấn mạnh rằng hoạt động tài chính thực chất là hoạt động “phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị” giữa các chủ thể kinh tế, do vậy để hoạt động tài chính được phát triển và hiệu quả thì phải giải quyết tốt mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào quá trình phân phối, những mối quan hệ được xem là cơ sở quyết định cách thức phân phối các sản phẩm xã hội.

Ví dụ: việc trả lương phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Chủ doanh nghiệp muốn trả lương thấp để có lợi nhuận cao nhưng như vậy sẽ không khuyến khích người lao động sáng tạo ra giá trị thặng dư là cái làm ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy hoạt động trả lương chỉ hiệu quả khi giải quyết tốt mối quan hệ kinh tế giữa chủ doanh nghiệp và người lao động.

Tương tự, trong mối quan hệ đóng thuế giữa doanh nghiệp đóng thuế và nhà nước, nhà nước cần cân nhắc việc đưa ra quyết định mức thuế sao cho vừa đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của mình, vừa phải đảm bảo khuyến khích doanh nghiệp phát triển sản xuất để duy trì khả năng đóng thuế lâu dài.

Như vậy, theo quan điểm truyền thống, hoạt động tài chính hiệu quả thì phải giải quyết tốt những mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nảy sinh trong việc phân chia lợi ích từ hoạt động phân phối tổng sản phẩm xã hội. Nói một cách khác, các hoạt động tài chính nào đảm bảo được sự công bằng trong phân chia quyền lợi nảy sinh từ hoạt động tài chính thì hoạt động tài chính đó sẽ hiệu quả và phát triển.

Các nhà kinh tế hiện đại lại tiếp cận khái niệm tài chính theo góc độ khác. Họ nhấn mạnh “tài chính, với tư cách là một lĩnh vực khoa học, nghiên cứu về cách thức phân bổ các nguồn lực tài chính có hạn qua thời gian với sự không chắc chắn và rủi ro”. Nói cách khác, tài chính được xem là sự quản lý quỹ tiền tệ một cách có hiệu quả xét trong điều kiện “giá trị thời gian của tiền – thay đổi sức mua tiền tệ qua thời gian”. Chẳng hạn, để quyết định đầu tư vào một dự án, doanh nghiệp phải so sánh các chi phí mà mình phải bỏ ra cho dự án đó với các khoản thu dự tính từ dự án đó.

Toàn bộ quá trình đầu tư kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định và rất khó có thể dám chắc được chính xác giá trị các khoản thu đó. Ngay cả khoản chi phí phải bỏ ra cũng thường không thể dự đoán chính xác được. Hơn nữa, khi đưa ra một quyết định tài chính, doanh nghiệp phải đánh đổi chi phí cơ hội của việc sử dụng một nguồn lực tài chính cho những ích lợi có thể thu được từ quyết định sử dụng vốn của mình.

Chính sự giới hạn về nguồn lực tài chính và sự không chắc chắn về lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài chính đòi hỏi các chủ thể kinh tế luôn phải cân nhắc giữa chi phí cơ hội và lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài chính. Do vậy, để hoạt động tài chính được hiệu quả, các chủ thể kinh tế phải đánh giá được chính xác những chi phí cơ hội và lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài chính hạn chế của mình và phải kiểm soát được những rủi ro có thể nảy sinh trong quá trình sử dụng.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :