Home / Tài Chính / Quy trình cho vay vốn tín dụng ngân hàng: thẩm định & quyết định

Quy trình cho vay vốn tín dụng ngân hàng: thẩm định & quyết định

/

Khi cấp một khoản vay vốn tín dụng cho khách hàng, ngân hàng có thể lựa chọn hai hình thức cấp vốn là cam kết, và không cam kết.

Quy trình cho vay vốn tín dụng ngân hàng

1. Khoản vay cam kết và khoản vay không cam kết

Khi cấp một khoản vay cho khách hàng, ngân hàng có thể lựa chọn hai hình thức cấp vốn: cam kết (committed), và không cam kết (uncommitted). Cam kết là phương thức cho vay mà ngân hàng sẽ có nghĩa vụ giải ngân nếu khách hàng đã hoàn thành một số điều kiện tiên quyết theo hợp đồng vay. Ngân hàng chỉ được phép đòi trước hạn khoản vay nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng.

Khoản vay không cam kết là khoản vay mà ngân hàng về cơ bản không có nghĩa vụ cho vay nếu họ không thấy phù hợp, cho dù đã ký hợp đồng và bên vay đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo yêu cầu. Ngân hàng cũng có quyền đòi lại khoản vay bất kỳ lúc nào (repayment on demand) mà không nhất thiết phải chờ đến hạn hay có sự kiện vi phạm hợp đồng. Kỳ hạn của khoản vay loại này được duy trì cho tới khi ngân hàng có thông báo đòi lại tiền hoặc hủy bỏ, hay còn gọi là “cho tới khi có thông báo” (until further notice).

Đối với bên vay, việc lựa chọn khoản vay cam kết hay không cam kết sẽ tùy thuộc yêu cầu về vốn và xếp hạng tín dụng. Do tính “lỏng lẻo” trong ràng buộc của các khoản vay không cam kết, loại hình cho vay này thường phù hợp hơn với các hình thức cho vay ngắn hạn, tài trợ vốn lưu động và bên vay sẽ cần phải chủ động hơn trong các nguồn vốn thay thế trong trường hợp ngân hàng không cho vay hay yêu cầu trả nợ trước hạn. Khoản vay không cam kết rõ ràng sẽ phù hợp hơn với bên vay có xếp hạng tín dụng tốt, có khả năng tiếp cận nhiều ngân hàng cùng một lúc để đảm bảo nguồn vốn cần thiết.

Các bên vay có nhu cầu vốn cho các dự án chắc chắn hay không có khả năng tiếp cận với nhiều ngân hàng có thể sẽ phù hợp với một khoản vay có cam kết hơn.

2. Khoản vay trung, dài hạn

Khoản vay trung, dài hạn thường là khoản vay có cam kết và do đó, bên vay sẽ đảm bảo được một khoản tiền xác định cho một thời hạn cụ thể, thông thường là đến khoảng 5 năm. Nhiều trường hợp, khoản vay loại này cũng có thể dài hơn, đặc biệt khi tài trợ cho các dự án dài hạn, ví dụ như dự án hạ tầng hay sản xuất lớn. Các hình thức tài trợ này còn được biết đến là các hình thức cho vay “tài trợ dự án

Khoản vay trung, dài hạn thường quy định cho bên vay một khoảng thời gian (được gọi là thời hạn rút vốn) để bên vay có thể yêu cầu rút vốn, thay vì phải rút vốn một lần toàn bộ khoản vay được cấp. Bên vay cũng có thể giải ngân (hoặc hoàn trả) khoản vay bằng các đồng tiền khác nhau trong toàn bộ thời gian vay. Pháp luật Việt Nam, tuy nhiên, đưa ra các quy định rất chặt chẽ cho các khoản vay bằng ngoại tệ do các ngân hàng tại Việt Nam cấp, mục đích chủ yếu nhằm chống tình trạng đô la hóa nền kinh tế và ảnh hưởng tiêu cực lên tỷ giá đồng Việt Nam.

Bên vay phải trả lãi cho các khoản vay đã được giải ngân. Lãi suất thông thường được tính trên cơ sở lãi suất thị trường của đồng tiền cho vay, đồng thời có tính đến đánh giá về tín dụng của bên vay (xếp hạng tín dụng càng thấp thì chi phí cho vay càng cao).

3. Khoản vay có đảm bảo và không đảm bảo

Một khoản vay có thể là một khoản vay có bảo đảm hoặc không có bảo đảm. Việc yêu cầu có bảo đảm hoặc không có bảo đảm phụ thuộc vào sự “đáng giá” về mặt tín dụng của bên vay và do ngân hàng toàn quyền quyết định. Nếu ngân hàng yêu cầu phải có tài sản bảo đảm, bên vay, hoặc các công ty khác trong tập đoàn của bên vay, sẽ thu xếp tài sản bảo đảm và ký các hợp đồng giao dịch bảo đảm cần thiết vì lợi ích của ngân hàng. Tài sản bảo đảm có thể là một tài sản khác của bên vay, hoặc cũng có thể là chính tài sản mà bên vay mua bằng tiền vay từ ngân hàng.

Một hình thức bảo đảm khác, là một bên thứ ba sẽ cung cấp bảo lãnh cho ngân hàng để bảo lãnh cho các nghĩa vụ của bên vay. Bên bảo lãnh cũng thường là công ty mẹ hoặc các công ty liên kết khác trong tập đoàn của bên vay.

Một khoản vay trung dài hạn có thể do một ngân hàng cung cấp, cũng có thể là một khoản vay hợp vốn từ nhiều ngân hàng. Khoản vay song phương hay hợp vốn chủ yếu phụ thuộc vào kích cỡ khoản vay. Nếu là khoản vay lớn, thông thường một ngân hàng sẽ không có khả năng tài trợ hết (do các hạn chế của chỉ số an toàn hoạt động), hoặc nếu có, cũng sẽ không chấp nhận toàn bộ rủi ro, khi đó có thể có nhiều ngân hàng cùng hợp vốn và cho vay.

4. Hoàn trả khoản vay

Lịch hoàn trả khoản vay cũng sẽ được đàm phán và thỏa thuận cho phù hợp với dòng tiền và hoạt động kinh doanh của bên vay. Thông thường, việc hoàn trả có thể ở ba dạng:

4.1. Hoàn trả dần bằng các khoản chia đều theo định kỳ (amortisation/instalment)

Nợ gốc được chia đều thành các khoản bằng nhau và hoàn trả theo định kỳ trong suốt thời hạn của khoản vay. Đôi khi, ngân hàng có thể cho bên vay một thời kỳ “ân hạn” từ vài tháng đến hai năm sau ngày giải ngân đầu tiên. Trong thời gian ân hạn, bên vay không phải hoàn trả gốc và chỉ bắt đầu hoàn trả khi đã hết thời gian ân hạn.

4.2. Hoàn trả dần một phần nhỏ và phần lớn còn lại trả một lần lúc cuối kỳ vay (balloon payment)

Một phần nhỏ của khoản vay được hoàn trả nhiều lần tương tự như cách thức đề cập bên trên, tuy nhiên, phần lớn của khoản vay (thường là dưới 90%) sẽ được hoàn trả một lần vào cuối kỳ hạn vay.

4.3. Hoàn trả một lần vào cuối kỳ (bullet payment)

Toàn bộ khoản vay được hoàn trả một lần vào cuối kỳ hạn vay. Hợp đồng vay thông thường cũng sẽ quy định cho bên vay quyền hoàn trả trước hạn trong trường hợp dòng tiền của bên vay tốt hơn so với dự tính. Hoàn trả trước hạn giúp giảm chi phí đi vay của bên vay. Ngân hàng sẽ thu một khoản phí liên quan đến việc hoàn trả trước hạn.

Phí này tính trên cơ sở chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra để đem cho vay lại khoản tiền trả trước hạn và thu nhập mà ngân hàng lẽ ra có thể kiếm được nếu vẫn tiếp tục duy trì khoản vay đó. Phí này do ngân hàng tự tính toán và yêu cầu bên vay thanh toán, hoặc có thể theo một công thức chung do các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay.

5. Vị thế của bên vay

Bên vay trước khi ký kết hợp đồng cần phải kiểm tra các quy định nội bộ và của pháp luật để xem có hạn chế nào về việc vay mượn hay không. Một số loại hình công ty có những hạn chế chặt chẽ hơn về việc vay mượn, chẳng hạn các doanh nghiệp nhà nước do Chính phủ Việt Nam sở hữu hoặc góp vốn có yêu cầu về việc đi vay với nhiều cấp phê duyệt. Trước đây, các quy định trong luật đầu tư của Việt Nam cũng hạn chế tỷ lệ đi vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với một tỷ lệ nhất định. Đối với các khoản vay nước ngoài, bên đi vay là doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ nhiều điều kiện chặt chẽ và quy trình phê duyệt, đăng ký rất mất thời gian với các cơ quan nhà nước.

Khi đi vay, bên vay phải cung cấp các thông tin một cách tự nguyện hoặc theo yêu cầu của bên cho vay. Bên vay phải đảm bảo không giấu giếm các thông tin quan trọng và rằng các thông tin mình cung cấp là đầy đủ, đúng sự thật, chính xác và không có mục đích lừa dối. Vi phạm các tiêu chí này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định của bên cho vay và trong nhiều trường hợp, có thể dẫn đến bên cho vay đòi nợ trước hạn.

Lãi suất là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng và quyết định đi vay của bên vay. Lãi suất sẽ tùy thuộc vào độ đáng giá tín dụng của bên vay cũng như thời hạn của khoản vay. Tuy nhiên, bên vay luôn phải cân bằng giữa một khoản vay rẻ (có lãi suất thấp) với sự linh hoạt của khoản vay. Nếu một khoản vay rẻ nhưng có nhiều ràng buộc chặt chẽ về hoạt động kinh doanh có thể không hẳn là một khoản vay phù hợp với nhu cầu. Bên vay nên cân nhắc những hạn chế đó và hậu quả của các hạn chế đó lên việc vận hành của công ty. Trong trường hợp cần thiết, việc lựa chọn một khoản vay đắt hơn nhưng linh hoạt và ít hạn chế có thể là giải pháp phù hợp hơn.

Sức mạnh trong đàm phán về khoản vay và hợp đồng của bên vay phụ thuộc nhiều vào xếp hạng tín dụng của bên vay, cũng như số lượng các khoản nợ hiện tại và nhu cầu huy động vốn.

Trong hầu hết các trường hợp, xem xét các khía cạnh về thuế là một yêu cầu bắt buộc trước khi quyết định hình thức vay vốn. Các khoản thuế cần được tính toán trong chi phí vay vốn để đảm bảo chi phí vay vốn ở mức chấp nhận được. Các khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu thuế khấu lưu (thuế nhà thầu) tính trên phần lãi thu được của bên cho vay. Thông thường, bên cho vay sẽ quy định trong hợp đồng nghĩa vụ trả thuế (nhà thầu) này thuộc về bên vay, tức là bên vay sẽ phải trả thêm phần thuế này cho cơ quan thuế thay mặt cho bên cho vay cùng với số lãi trả cho bên cho vay.

6. Vị thế của bên cho vay

Khi cấp một khoản vay, bên cho vay luôn tìm kiếm một lợi nhuận tối ưu trên cơ sở rủi ro ít nhất. Các ngân hàng, những người vay chủ yếu trên mọi thị trường tài chính, là những thiết chế chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của các cơ quan quản lý và những yêu cầu nghiêm ngặt của luật pháp liên quan tới các hoạt động của mình. 

Việc ra đời Hiệp ước Basel và áp dụng các quy tắc về an toàn vốn tối thiểu trong khoảng hai thập niên trở lại đây đã tạo ra rất nhiều sức ép cho các ngân hàng phải sử dụng vốn một cách hiệu quả và an toàn nhất nhằm sinh lợi cho những cổ đông và chủ sở hữu.

Trong các hoạt động cho vay thương mại, ngân hàng luôn gặp phải những thách thức trong việc thu thập được các thông tin chính xác và trung thực nhất để đưa ra quyết định cho vay của mình. Điều khó khăn là bên vay không có nghĩa vụ phải tự mình cung cấp các thông tin nếu như ngân hàng không yêu cầu. Trong hầu hết các trường hợp, ngân hàng cũng không có quyền khiếu kiện nếu như sau khi đã cho vay, ngân hàng phát hiện ra các thông tin mới bất lợi hay có thể làm thay đổi quyết định cho vay của mình. Do vậy, để đưa ra một quyết định cho vay, ngân hàng sẽ yêu cầu tiến hành các thẩm định về doanh nghiệp, đánh giá tín dụng thông qua một hội đồng tín dụng để đưa ra quyết định và yêu cầu các cam đoan, bảo đảm và cam kết của bên vay trong hợp đồng tín dụng.

Ngân hàng về bản chất hoạt động như một bên trung gian, đi vay tiền của công chúng thông qua huy động tiền gửi và cho vay lại nhằm ăn chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Tuy nhiên, hoạt động của một ngân hàng không phải hoàn toàn đơn giản như vậy. Hầu hết những người gửi tiền đều gửi ngắn hạn, trong khi đó, phần lớn các khoản vay do ngân hàng cấp sẽ là các khoản vay trung và dài hạn.

Điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng đi huy động ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Khoảng cách về kỳ hạn của nguồn vốn này sẽ được giải quyết bằng nhiều cách, thông qua sử dụng các nguồn vốn khác của ngân hàng, trong đó có việc đi vay trên thị trường liên ngân hàng, phát hành trái phiếu, hay sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất phù hợp. Mặt khác, ngân hàng không giống như cổ đông của các công ty, ngân hàng không thể kiểm soát trực tiếp bên vay, chẳng hạn như bầu hay bãi miễn hội đồng quản trị.

Thay vào đó, ngân hàng vẫn phải đảm bảo một sự kiểm soát trong chừng mực đối với bên vay. Việc này được thực hiện bằng cách yêu cầu bên vay đưa ra các cam kết trong hợp đồng vay. Việc vi phạm các cam kết trong hợp đồng vay được coi là một sự kiện vi phạm và ngân hàng có thể đưa ra quyết định trừng phạt cao nhất, đó là yêu cầu bên vay ngay lập tức phải hoàn trả khoản vay.

7. Quy trình thẩm định và quyết định cho vay vốn tín dụng ngân hàng

7.1. Thẩm định tín dụng khoản vay

Để đưa ra quyết định cho vay, ngân hàng dựa vào kết quả của việc thẩm định khoản vay và tín dụng của doanh nghiệp. Phạm vi và hình thức đánh giá, thẩm định phụ thuộc nhiều vào quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đã có quan hệ vay vốn với ngân hàng từ trước thì việc thẩm định cho một khoản vay mới sẽ đơn giản và nhanh chóng hơn rất nhiều so với việc lần đầu tiên vay vốn. Ngân hàng sẽ xem xét các nội dung sau:

  • Tính chất và mục đích khoản vay.
  • Giá trị khoản vay và các tiện ích vay.
  • Tài sản bảo đảm liên quan đến khoản vay. 

Việc thẩm định chủ yếu dựa trên các thông tin do chính doanh nghiệp cung cấp. Các nguồn thông tin hỗ trợ khác có thể là thông tin mua từ các công ty cung cấp thông tin tín dụng được cấp phép hay các tổ chức xếp hạng tín dụng.

Ở Việt Nam, Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng Nhà nước có thể cung cấp các thông tin tín dụng của bên vay trên hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, gần đây còn có thêm các công ty cung cấp thông tin tín dụng hoạt động theo giấy phép của Ngân hàng Nhà nước cấp. Các nguồn thông tin chính sẽ là các báo cáo tài chính được kiểm toán, các kế hoạch kinh doanh và tài chính (ngắn hạn, trung hạn).

Đôi khi, ngân hàng có thể yêu cầu thẩm định thêm về các tài sản liên quan đến khoản vay hoặc tài sản bảo đảm, bao gồm các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, tiến hành định giá lại tài sản. Doanh nghiệp sẽ phải chuẩn bị để cung cấp các thông tin theo yêu cầu của ngân hàng.

Doanh nghiệp có thể sẽ yêu cầu ngân hàng ký một thỏa thuận về bảo mật thông tin trước khi cung cấp các thông tin quan trọng hoặc nhạy cảm liên quan đến hoạt động kinh doanh hay tình hình tài chính cho ngân hàng. Đối với các khoản vay lớn, chẳng hạn như tài trợ dự án, các ngân hàng cho vay có thể yêu cầu tiến hành thẩm định toàn diện (due diligence) về dự án và doanh nghiệp trước khi quyết định cho vay.

Dựa trên các đánh giá, thẩm định của mình, ngân hàng xác định khả năng trả nợ của doanh nghiệp và các rủi ro mà ngân hàng có thể gặp khi cho doanh nghiệp đó vay. Rủi ro này chính là rủi ro mà doanh nghiệp đi vay không trả được nợ.

Khi đã thẩm định xong và quyết định cho vay, ngân hàng sẽ chuẩn bị gửi cho khách hàng một bản điều khoản cho vay hay các điều khoản, điều kiện dự kiến (term sheet). 

Bản điều khoản cho vay này thường gồm các nội dung chính sau:

  • Loại khoản vay, số tiền và thời hạn cho vay, lãi suất cho vay.
  • Kế hoạch và hình thức hoàn trả: hoàn trả dần nhiều lần hay một lần.
  • Các điều khoản, điều kiện quan trọng khác liên quan tới khoản vay bao gồm, các cam kết chung, cam kết về tài chính, sự kiện vi phạm, các cam đoan, bảo đảm.
  • Các tài sản bảo đảm hay biện pháp hỗ trợ tín dụng cho khoản vay.

Các điều khoản điều kiện trong đề xuất cho vay sẽ được cụ thể hóa trong hợp đồng vay. Các điều khoản, điều kiện này thường tương ứng với xếp loại về tín dụng của doanh nghiệp, xếp loại tín dụng càng thấp thì điều kiện vay càng chặt chẽ. Việc ngân hàng có yêu cầu hay không các tài sản bảo đảm và hỗ trợ tín dụng cũng phụ thuộc vào xếp hạng tín dụng. Các doanh nghiệp được cho vay không có tài sản bảo đảm thường là các doanh nghiệp có xếp hạng tín dụng cao.

7.2. Giá cho vay

Giá cho vay thể hiện yêu cầu về lợi nhuận mà ngân hàng muốn có liên quan đến khoản vay đó. Việc này được định đoạt thông qua lãi suất cho vay. Việc xác định lãi suất cho vay đôi khi là một công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều công sức và kỹ thuật, đặc biệt đối với các khoản cho vay dài hạn hay các dự án tài trợ lớn.

Ngân hàng sẽ phải xem xét nhiều yếu tố làm căn cứ cũng như có thể ảnh hưởng tới lãi suất khi tính toán. Chẳng hạn, đó có thể là các yếu tố kinh tế vĩ mô hay thị trường có thể tác động tới lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.

Lãi suất liên ngân hàng hay lợi tức trái phiếu chính phủ cùng kỳ hạn cũng sẽ là những căn cứ quan trọng. Ngoài ra, các xu hướng của thị trường, lãi suất, lĩnh vực kinh doanh của bên vay cũng sẽ được tính tới: chẳng hạn như xu hướng tăng hay giảm của lãi suất, tỷ giá của đồng tiền cho vay.

Thường thì ngân hàng sẽ định ra một mức lãi suất tối thiểu mà ngân hàng có thể cho vay. Đó thường là mức lãi suất mà ngân hàng đủ bù chi phí để cung cấp khoản vay đó, nhưng có thể không có lãi (chi phí vốn). Trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ cộng thêm một khoản lãi biên dự kiến và thỏa thuận với bên vay.

Đối với bên vay, lãi suất của khoản vay sẽ không bao gồm các khoản chi phí ngoài dự kiến. Tức là bên vay không phải chịu các chi phí ngoài dự kiến này nếu không xảy ra sự kiện phải thanh toán và bên vay chỉ thanh toán các chi phí ngoài dự kiến này khi xảy ra sự kiện phải thanh toán các chi phí đó. Các chi phí ngoài dự kiến có thể là các chi phí liên quan đến việc tăng dự phòng vốn do yêu cầu của pháp luật thay đổi. Việc tăng thuế trên khoản thu nhập của ngân hàng không phải là căn cứ để ngân hàng yêu cầu thanh toán khoản này.

7.3. Phê duyệt tín dụng

Khi đề xuất cho vay đã được hoàn tất, ngân hàng sẽ xem xét đề xuất cho vay căn cứ trên các chính sách về tín dụng của mình. Ngoài ra, ngân hàng cũng xem xét các yêu cầu về chỉ số an toàn liên quan tới khách hàng và khoản vay. Ví dụ: tổng hạn mức cho vay đối với một công ty, hay một nhóm công ty liên quan. Đây là các yêu cầu quan trọng mà luật pháp hầu hết các nước yêu cầu một ngân hàng phải tuân thủ trong hoạt động của mình.

Hội đồng phê duyệt tín dụng sẽ xem xét bản để xuất vốn vay cùng bản đánh giá tín dụng (thường được gọi là Credit Memorandum). Đối với các dự án phức tạp, ban phê duyệt tín dụng có thể sẽ yêu cầu tư vấn từ các chuyên gia trong ngành để đưa ra quyết định. Nếu một bản đề xuất khoản vay bị từ chối, các bên có thể làm lại phù hợp với yêu cầu của hội đồng đánh giá tín dụng để được chấp nhận. Khi được chấp nhận, ngân hàng sẽ chuẩn bị bản điều khoản cho vay để thảo luận với khách hàng.

7.4. Bản điều khoản cho vay

Bản điều khoản cho vay do ngân hàng chuẩn bị bao gồm một số điều khoản cơ bản về tài chính và các cam kết mà ngân hàng yêu cầu. Đây là các điều kiện cơ bản mà ngân hàng có thể chấp nhận để cho vay. Đối với một khoản vay hợp vốn, đó là các điều khoản mà bên thu xếp có thể chấp nhận để thu xếp khoản vay. Bản điều khoản cho vay không phải là hợp đồng vay và chỉ là căn cứ để ngân hàng và bên vay thảo luận. Thông thường, bản điều khoản cho vay chỉ bao gồm những nội dung căn bản và những điều kiện đặc biệt về khoản vay.

Bản điều khoản cho vay không có giá trị ràng buộc hai bên và điều này cần phải được quy định một cách rõ ràng trong văn bản này (dưới dạng một tuyên bố không ràng buộc hay miễn trừ trách nhiệm). Ngân hàng sẽ muốn quy định rõ ràng là bất kỳ khoản vay nào sẽ chỉ được cấp sau khi ngân hàng hoàn thành việc thẩm định doanh nghiệp và tín dụng cũng như sau khi các hợp đồng đã được ký kết đáp ứng yêu cầu của ngân hàng.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ngân hàng sẽ yêu cầu bên vay đưa ra một cam kết có tính ràng buộc đối với bên vay liên quan đến các khoản chi phí soạn thảo và đàm phán hợp đồng, yêu cầu bên vay phải thanh toán các khoản chi phí này nếu như hợp đồng tín dụng không được ký kết.

Bản điều khoản cho vay thường có các nội dung chính sau:

  • Mục đích của khoản vay.
  • Kỳ hạn khoản vay.
  • Kế hoạch hoàn trả.
  • Lãi suất.
  • Các điều khoản đặc biệt hay riêng biệt liên quan đến khoản vay.
  • Các điều kiện tiên quyết (trước khi được rút vốn).
  • Các cam đoan và bảo đảm.
  • Các cam kết, bao gồm cả các cam kết về tài chính; Sự kiện vi phạm.
  • Tài sản bảo đảm hay các biện pháp hỗ trợ tín dụng cho khoản vay.
  • Luật điều chỉnh hợp đồng vay và cơ chế giải quyết tranh chấp.

Đối với bên vay, bản điều khoản cho vay là căn cứ ban đầu để cân nhắc và xem xét các yêu cầu của ngân hàng. Bên vay sẽ phải xem xét các điều kiện mà ngân hàng đưa ra hoặc nếu không chấp nhận được, cân nhắc các ngân hàng khác hay những lựa chọn nguồn vốn khác. Khi xem xét bản các điều khoản cho vay, bên vay cần chắc chắn là mình hiểu rõ các điều khoản này, hoặc nếu cần, tham vấn ý kiến của luật sư.

Thậm chí, nếu bên vay có thể chấp nhận các điều kiện trong bản điều khoản cho vay, việc xem xét kỹ các câu chữ của hợp đồng trong quá trình đàm phán vẫn rất cần thiết. Tuy vậy, tại giai đoạn này, việc đàm phán các điều kiện cho vay sẽ dễ dàng hơn so với giai đoạn sau, khi các điều kiện trong bản điều khoản cho vay được chuyển thành các điều khoản của hợp đồng vay.

Một bên vay có nhiều kinh nghiệm trong việc vay mượn ngân hàng cũng sẽ có cách tiếp cận và đàm phán khác với một bên vay ít kinh nghiệm. Chẳng hạn, bên vay nhiều kinh nghiệm trước hết thường sẽ xem xét sự thống nhất giữa một hợp đồng vay mới với các hợp đồng vay hiện có của mình để đảm bảo rằng các điều kiện của khoản vay mới, nếu khác biệt với các khoản vay cũ, sẽ chỉ liên quan đến các thay đổi về độ đáng giá tín dụng của bên vay.

Thông thường, một bên đi vay có kinh nghiệm cũng sẽ đàm phán các điều kiện trong bản điều khoản cho vay liên quan đến một số nội dung quan trọng (ví dụ các cam kết) để đảm bảo tính thống nhất với các hợp đồng vay hiện đang còn hiệu lực. Điều này sẽ thuận lợi hơn cho bên vay trong việc quản lý hay báo cáo và đảm bảo rằng bên vay không phải đáp ứng quá nhiều điều kiện khác nhau từ mỗi ngân hàng liên quan tới cùng một nội dung (ví dụ các cam kết về tài chính, môi trường hay cung cấp thông tin).

Bản điều khoản cho vay mặc dù không có hiệu lực ràng buộc nhưng sẽ vẫn được các bên ký để ám chỉ một thỏa thuận về nguyên tắc. Bản điều khoản này sẽ là căn cứ để soạn thảo hợp đồng cũng như sẽ được dùng làm cơ sở để các luật sư đưa ra mức phí tư vấn.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :