Home / Tài Chính / Ngân hàng thương mại: chức năng, vai trò, cơ cấu tổ chức

Ngân hàng thương mại: chức năng, vai trò, cơ cấu tổ chức

/

Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính có mục đích là nhận tiền gửi và cung cấp các khoản vay cho khách hàng là cá nhân hoặc doanh nghiệp.

ngân hàng thương mại là gì

1. Khái niệm ngân hàng thương mại

Qua nghiên cứu sự ra đời và quá trình phát triển của NHTM nói trên cho thấy từ loại hình NHTM sơ khai ban đầu, các NHTM đã trải qua lịch không ngừng phát triển và hoàn thiện trở thành những NHTM hiện đại ngày nay.

Vì vậy, từ trước đến nay các nhà kinh tế học và nhà quản lý đã đưa ra nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại. Tùy theo phương pháp tiếp cận khác nhau, thời điểm lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, nội dung các khái niệm đó đều có những điểm cơ bản thống nhất với nhau.

Tổng hợp những điểm thống nhất chung của các khái niệm về ngân hàng thương mại, chúng ta có thể hiểu: Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính, hoạt động theo mô hình một doanh nghiệp, kinh doanh về tiền tệ, tín dụng và dịch vụ tài chính – ngân hàng, theo nguyên tắc thị trường, vì mục tiêu lợi nhuận.

2. Đặc trưng hoạt động của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh doanh, được xếp vào ngành dịch vụ tài chính. Đặc trưng nguồn vốn của NHTM phần lớn là các nguồn vốn huy động ngắn hạn. Do đó, chức năng trung gian tín dụng của NHTM chủ yếu là tài trợ tín dụng ngắn hạn, bổ sung vốn lưu động sản xuất, kinh doanh thương mại, để phù hợp với kỳ hạn nguồn vốn, hạn chế rủi ro thanh khoản.

Đặc biệt trong điều kiện các nước có thị trường tài chính chưa phát triển, các công cụ nợ còn ít, tính thanh khoản của NHTM chủ yếu dựa vào tính thanh khoản của tài sản cho vay và đầu tư, vì vậy nếu không bảo đảm cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản, mất an toàn hoạt động ngân hàng.

Hoạt động của NHTM khác với ngân hàng đầu tư đó là: NHTM là trung gian tài chính giữa tổ chức, cá nhân gửi tiền (người cho vay) và tổ chức cá nhân đi vay vốn (người đi vay) còn ngân hàng đầu tư là trung gian tài chính giữa các tổ chức phát hành chứng khoán và nhà đầu tư.

NHTM khác với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính) là: NHTM được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm cả nghiệp vụ được nhận tiền gửi cá nhân và thực hiện dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng, còn các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân và không được thực hiện các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.

Hoạt động kinh doanh của NHTM khác với các định chế tài chính phát triển là: cơ chế lãi suất, phí, tỷ giá của NHTM thực hiện theo nguyên tắc thị trường với mục tiêu kinh doanh cao nhất là lợi nhuận. Các định chế tài chính phát triển hoạt động vì mục tiêu thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, không vì lợi nhuận.

3. Chức năng của ngân hàng thương mại

3.1. Chức năng trung gian tín dụng

Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là “tổ chức trung gian” kết nối giữa tổ chức/ cá nhân có nguồn vốn chưa sử dụng/ hoặc muốn đầu tư sinh lời an toàn và tổ chức/ cá nhân có nhu cầu về sử dụng vốn để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tiêu dùng.

Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã tạo ra giá trị tăng thêm (lợi ích) cho người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, xã hội. Tổ chức/ cá nhân gửi tiền thu được lãi tiền gửi và được hưởng các dịch vụ thanh toán rất tiện lợi do Ngân hàng cung cấp. Tổ chức/ cá nhân đi vay vốn được tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán với chi phí vốn hợp lý. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng NHTM thu được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi và các phí dịch vụ liên quan khác.

Thông qua chức năng trung gian tín dụng, nguồn vốn xã hội được huy động và phân bổ hợp lý, tăng vòng quay luân chuyển vốn của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và tăng trưởng kinh tế.

Chức năng trung gian tín dụng phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay. Đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.

3.2. Chức năng trung gian thanh toán

Chức năng trung gian thanh toán của NHTM phát triển trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng do nguồn vốn để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng là tiền gửi trên tài khoản của khách hàng trước đó.

NHTM làm trung gian thanh toán khi thực hiện dịch vụ thanh toán qua tài khoản tiền gửi thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như: Chuyển tiền, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thu, chi khác theo lệnh của khách hàng. Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò là người “kế toán và thủ quỹ” cho các doanh nghiệp, cá nhân có tài khoản mở tại ngân hàng.

Việc các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán đem lại lợi ích to lớn với ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Khách hàng được sử dụng phương tiện thanh toán đa dạng với nhiều tiện ích, thuận lợi, an toàn, tiết kiệm chi phí và thời gian. NHTM thu được phí dịch vụ thanh toán và huy động thêm được các nguồn vốn trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng với chi phí thấp. Chức năng trung gian thanh toán cũng là cơ sở để thực hiện chức năng tạo tiền gửi của NHTM.

Thanh toán qua ngân hàng hỗ trợ tích cực quá trình lưu thông hàng hóa, tăng nhanh tốc độ thanh toán, vòng luân chuyển vốn, tiết kiệm nguồn lực tài chính, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc phát triển dịch vụ thanh toán qua ngân hàng sẽ thay thế phương thức thanh toán bằng tiền mặt, làm giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí in tiền, đếm nhận, bảo quản tiền.

Bên cạnh đó thanh toán qua hệ thống ngân hàng hỗ trợ các nhà quản lý kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngăn ngừa hoạt động rửa tiền của cá nhân/ doanh nghiệp.

3.3. Chức năng tạo tiền

Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo tiền ghi sổ thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Nguồn tiền tạo ra này là số dư phát sinh trên các tài khoản tiền gửi của khách hàng. Các NHTM được sử dụng nguồn tiền này làm nguồn vốn để cấp tín dụng mới và thực hiện các giao dịch thanh toán cho khách hàng.

Hệ thống NHTM có khả năng tạo lên số tiền gửi gấp nhiều lần số tiền dự trữ tăng lên ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi của hệ thống NHTM phụ thuộc vào hệ số nhân tiền gửi (hay hệ số mở rộng tiền gửi). Hệ số nhân tiền gửi phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các NHTM, tỷ lệ này càng thấp thì hệ số nhân tiền gửi càng cao. Quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM sẽ được trình bày cụ thể hơn ở chương cung cầu tiền tệ.

Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM làm tăng cung tiền và tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của các tổ chức/ cá nhân trong xã hội.

3.4. Mối quan hệ giữa các chức năng

Các chức năng của ngân hàng thương mại nói trên có mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy tạo điều kiện và cơ sở để hỗ trợ cho nhau phát triển. Trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng quan trọng nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng tạo tiền, thanh toán, tư vấn tài chính. Chức năng trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền phát triển sẽ làm tăng nguồn vốn huy động, mở rộng hoạt động tín dụng, đầu tư.

Trên cơ sở thực hiện các chức năng tín dụng, thanh toán và tạo tiền, NHTM trở thành đầu mối quan hệ giữa các tổ chức kinh tế và cá nhân với nhiều lợi thế về thông tin, nguồn nhân lực. Từ đó, các NHTM phát triển hoạt động cung ứng các dịch vụ tài chính – ngân hàng như một kết quả tất yếu.

Các dịch vụ tài chính – ngân hàng mà NHTM có khả năng cung cấp như: dịch vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành cổ phiếu/ trái phiếu, tư vấn tài chính doanh nghiệp, mua bán chứng khoán cho khách hàng, thu lãi chứng khoán cho khách hàng. Ngoài ra ngân hàng thương mại còn có lợi thế để cung cấp rất nhiều dịch vụ khác như dịch vụ thẻ, lưu trữ, bảo quản tài sản có giá trị, dịch vụ tín thác/ uỷ thác, ký quỹ.

Qua phân tích các chức năng của NHTM cho thấy NHTM đóng vai trò chủ lực trong huy động và phân bổ nguồn lực tài chính cho nền kinh tế, tạo ra đòn bẩy tài chính chủ yếu cho các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư để phát triển sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ tài chính – ngân hàng đa dạng, thúc đẩy nhanh chóng quá trình lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, NHTM còn là kênh truyền dẫn các chính sách tiền tệ đến nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô của quốc gia.

4. Phân loại ngân hàng thương mại

4.1. Phân loại theo hình thức sở hữu

Căn cứ vào hình thức sở hữu có thể phân loại ngân hàng thương mại thành: Ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng thương mại liên doanh, Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài, và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.

– Ngân hàng thương mại nhà nước là Ngân hàng thương mại do Nhà nước đầu tư vốn thành lập, sở hữu 100% của Nhà nước.

– Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế và cá nhân được tham gia cùng góp vốn thành lập theo quy định.

– Ngân hàng thương mại liên doanh là ngân hàng thương mại thành lập bằng vốn góp của nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh, có tư cách pháp nhân và hoạt động tại nước sở tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.

– Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài là ngân hàng thương mại thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân và trụ sở chính tại nước sở tại.

– Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân tại nước sở tại, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh.

4.2. Phân loại theo tính chất hoạt động

Dựa vào tính chất hoạt động của từng NHTM để phân chia thành 4 loại hình ngân hàng thương mại: NHTM đa năng, NHTM đơn năng, NHTM bán buôn và NHTM bán lẻ.

4.2.1. Ngân hàng thương mại đa năng

Ngân hàng thương mại đa năng là NHTM được cấp giấy phép hoạt động đầy đủ tất cả các dịch vụ ngân hàng, phục vụ mọi đối tượng khách hàng và mở chi nhánh hoạt động ở tất cả các địa bàn có nhu cầu phát triển dịch vụ ngân hàng hiệu quả.

Các sản phẩm dịch vụ của NHTM bán buôn rất đa dạng như: huy động tiền gửi, cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn, bảo lãnh ngắn hạn và trung dài hạn, cho vay tiêu dùng, bao thanh toán, hoạt động thanh toán quốc tế, đầu tư, kinh doanh chứng khoán… cho mọi đối tượng khách hàng, trong nước và quốc tế.

NHTM đa năng là xu hướng phát triển chủ yếu của các NHTM hiện nay, nhằm tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ngân hàng, tăng thu nhập và phân tán rủi ro. Tuy nhiên, hoạt động đa năng của các NHTM cũng đối mặt với những khó khăn thách thức như làm giảm tính chuyên môn hóa, trình độ quản trị, điều hành và nguồn nhân lực khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

4.2.2. Ngân hàng thương mại đơn năng

Ngân hàng thương mại đơn năng là NHTM được cấp giấy phép hoạt động tập trung vào một hoặc một số dịch vụ ngân hàng nhất định theo từng chuyên ngành hoặc lĩnh vực như: Đầu tư – xây dựng; nông nghiệp nông thôn; công – thương nghiệp; tiêu dùng. Các NHTM đơn năng có tính chuyên môn hoá cao, cán bộ quản trị điều hành và cán bộ nghiệp vụ thường có trình độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm.

Hạn chế của NHTM đơn năng là quy mô vốn nhỏ, tập trung rủi ro vào một số sản phẩm dịch vụ hoặc nhóm đối tượng khách hàng ngành hàng cụ thể, phạm vi hoạt động hẹp và trình độ chuyên môn tập trung vào lĩnh vực chuyên sâu hẹp.

Thuật ngữ “bán lẻ” được hiểu là những giao dịch mua bán hàng hoá trực tiếp giữa người bán hàng (tổ chức/ cá nhân) với người mua hàng là người tiêu dùng cuối cùng; còn “bán buôn” được hiểu là những giao dịch mua bán hàng hoá dịch vụ giữa người bán hàng (tổ chức/ cá nhân) với người mua hàng là tổ chức/ cá nhân trung gian để tổ chức/ cá nhân này bán lại cho người tiêu dùng cuối cùng.

Trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, ngân hàng bán buôn là ngân hàng hoạt động cho vay và đi vay thực hiện chủ yếu với các tổ chức tài chính trung gian khác (phổ biến là các tổ chức tín dụng ngân hàng) trên thị trường liên ngân hàng, bằng các hợp đồng có khối lượng lớn và giá trị lớn. Ngân hàng bán lẻ là các ngân hàng hoạt động cho vay và đi vay chủ yếu thực hiện trực tiếp với các khách hàng là tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng bằng các hợp đồng có khối lượng nhỏ và giá trị không lớn.

Tuy nhiên trên thực tế các nhà quản trị ngân hàng cho rằng: ngân hàng bán buôn là NHTM chủ yếu phục vụ đối tượng khách hàng có các hợp đồng gửi tiền hoặc vay vốn với số lượng giao dịch không nhiều nhưng giá trị giao dịch lớn. Khách hàng của ngân hàng bán buôn là những tổ chức tài chính, TCTD và các tập đoàn kinh tế lớn, tập trung ở các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp và thương mại quan trọng của nền kinh tế.

Còn ngân hàng bán lẻ là NHTM chủ yếu phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, có số lượng giao dịch nhiều nhưng giá trị giao dịch nhỏ. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ thường là: dịch vụ thẻ, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất hộ gia đình, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại như gửi tiền trực tuyến, cho vay trực tuyến, thanh toán điện tử.

5. Cơ cấu tổ chức hoạt động của ngân hàng thương mại

Mỗi một ngân hàng tùy theo cơ cấu tổ chức và tính chất hoạt động sẽ có mô hình tổ chức hoạt động khác nhau, phù hợp với điều kiện và quy mô của ngân hàng. Mô hình tổ chức phổ biến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay là mô hình tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần, thành lập dưới hình thức một công ty cổ phần. Loại hình ngân hàng thương mại cổ phần đang đóng vai trò ngày càng quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống ngân hàng.

Về cơ cấu tổ chức một ngân hàng thương mại cổ phần lớn, thường có các bộ phận chủ yếu như sau:

5.1. Đại hội đồng cổ đông

Bao gồm các cổ đông sáng lập và các cổ đông lớn của ngân hàng, là những người chủ ngân hàng. Đại hội đồng cổ đông cử ra một ban kiểm soát để kiểm tra giám sát tình hình hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng.

5.2. Hội đồng quản trị và các uỷ ban trực thuộc hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị của ngân hàng là đại diện của chủ sở hữu NHTM, có chức năng quản trị ngân hàng theo phương hướng chiến lược mà Đại hội đồng cổ đông đưa ra và chịu trách nhiệm trước hội đồng cổ đông. Ban kiểm tra kiểm toán nội bộ và các Uỷ ban Tài sản Có, Tài sản Nợ, Uỷ bản Quản lý rủi ro và các Uỷ ban khác, là bộ máy tham mưu của hội đồng quản trị và chịu sự quản lý trực tiếp của Hộ đồng quản trị.

5.3. Ban điều hành

Ban điều hành bao gồm Tổng giám đốc và các phó tổng giám đốc, chịu trách nhiệm điều hành hoạt động kinh doanh của NHTM theo định hướng chỉ đạo và các quy định của Hội đồng quản trị.

5.4. Các khối (phòng, ban) chuyên môn nghiệp vụ

Các NHTM thường thành lập các khối ở hội sở chính như: Văn phòng; Kiểm tra, kiểm toán nội bộ; tổ chức cán bộ; quản trị rủi ro; các khối khách hàng; kinh doanh đối ngoại, đầu tư; kế hoạch, kế toán tài chính… và các trung tâm thanh toán, trung tâm thẻ.

5.5. Các chi nhánh Ngân hàng và đơn vị thành viên trực thuộc

Các đơn vị thành viên 100% vốn của NHTM hạch toán độc lập như công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty bảo hiểm,công ty kinh doanh vàng bạc, công ty cho thuê tài chính; các chi nhánh ngân hàng hạch toán nội bộ như: Sở giao dịch,các chi nhánh NHTM ở các địa phương trong và ngoài nước. Mô hình tổ chức hoạt động của các chi nhánh, sở giao dịch của NHTM cũng bao gồm cả các phòng ban chuyên môn phù hợp với quy mô hoạt động và chức năng nhiệm vụ được giao.

6. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Rủi ro trong kinh doanh của NHTM có thể hiểu một cách tổng quát đó là những phát sinh xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản, tiền vốn, lãi suất, giảm sút lợi nhuận hoặc phải hao tốn thêm một khoản chi phí phải bỏ ra để khắc phục. Không có hoạt động kinh doanh nào mà không có rủi ro nhưng kinh doanh NHTM là một trong những lĩnh vực phát sinh nhiều rủi ro nhất của các loại hình kinh doanh.

NHTM là một trung gian tài chính của nền kinh tế, thuộc loại hình kinh doanh đặc biệt về tiền tệ, tín dụng, chịu ảnh hưởng lớn bởi các tác động của môi trường kinh tế, luật pháp, chính trị xã hội. Hoạt động của ngân hàng liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, tiêu dùng của các doanh nghiệp, ngành kinh tế, các tầng lớp dân cư, do đó rủi ro trong hoạt động của khách hàng cũng dẫn đến rủi ro trong hoạt động của ngân hàng.

Hoạt động của ngân hàng thương mại chứa đựng nhiều rủi ro, đặc biệt nhiều loại hình rủi ro mới phát sinh theo sự biến đổi của thị trường mà các nhà quản trị ngân hàng không thể lường trước được. Một số loại rủi ro cơ bản nhất trong hoạt động kinh doanh NHTM đó là: Rủi ro tín dụng; Rủi ro thị trường (rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro giá chứng khoán); Rủi ro thanh khoản; Rủi ro tác nghiệp; và Rủi ro đạo đức.

6.1. Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng không thực hiện trả gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Các khoản nợ quá hạn này trở thành nợ xấu, và buộc các ngân hàng thương mại phải sử dụng vốn để xóa nợ đối với các khoản nợ không có khả năng thu hồi.

6.2. Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay với lãi suất tiền gửi của ngân hàng dẫn đến làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Thông thường lãi suất tiền gửi thường là lãi suất thả nổi theo thị trường, lãi suất tiền vay là lãi suất cố định, dẫn tới bất cứ biến động tăng lên của lãi suất tiền gửi sẽ khiến lợi nhuận của ngân hàng sụt giảm khi ngân hàng phải trả lãi nhiều hơn cho tiền gửi trong khi lãi nhận được từ các khoản cho vay vẫn không đổi.

6.3. Rủi ro tỷ giá/ giá cả

Rủi ro tỷ giá/ giá cả là rủi ro xảy ra khi có sự biến động về tỷ giá giá trị thị trường của các công cụ tài chính ngân hàng đang nắm giữ.

6.4. Rủi ro tác nghiệp

Rủi ro tác nghiệp xảy ra do sai sót trong quản trị, điều hành và tác nghiệp của ngân hàng (sai sót trong cơ chế, quy chế, quy trình nghiệp vụ, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, công nghệ)

6.5. Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không có khả năng chi trả các nghĩa vụ tài chính của ngân hàng (tiền gửi, tiền vay, thanh toán).

6.6. Rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức là rủi ro hành vi phát sinh từ chính bản thân cán bộ ngân hàng hoặc khách hàng như hành vi lừa đảo, tham ô, cố ý làm sai quy định, sử dụng vốn sai mục đích.

7. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro của ngân hàng thương mại

Rủi ro của NHTM không chỉ gây ra tổn thất lớn, phá sản cho NHTM đó, mà còn có thể gây ra hậu quả nặng nề cho người gửi tiền, người vay tiền, gây nên khủng hoảng cho hệ thống NHTM, hệ thống tài chính, bất ổn kinh tế – xã hội trong nước và khu vực. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động NHTM, tùy theo cách phân tổ các nhóm nguyên nhân khác nhau. 

– Theo tính chất rủi ro, rủi ro được phân thành hai nhóm: nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan.

– Theo chủ thể gây ra rủi ro, được phân thành ba nhóm: Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng (kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phương án trả nợ, đạo đức khách hàng); Nhóm nguyên nhân từ bản thân NHTM (trình độ cán bộ quản lý và nhân viên ngân hàng, chính sách ngân hàng, công nghệ ngân hàng); và Nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh doanh (môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường chính trị xã hội).

Để tồn tại, phát triển trong môi trường cạnh tranh và đầy rẫy rủi ro, các NHTM phải xây dựng cho mình một hệ thống quản trị rủi ro toàn diện, hiệu quả kèm với hệ thống giải pháp hạn chế giảm thiểu rủi ro của tất cả các hoạt động kinh doanh.

Hiện nay để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, các NHTM đang tiếp cận theo hướng áp dụng từng bước các chuẩn mực quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel II và Basel III về quy định an toàn vốn do Ủy ban giám sát Ngân hàng Basel xây dựng và ban hành đang được phổ biến trên toàn thế giới.

8. Xu hướng phát triển của các ngân hàng thương mại trên thế giới

Hệ thống ngân hàng thương mại trên thế giới đang đứng trước một cuộc cách mạng mới do sự thay đổi nhu cầu dịch vụ của khách hàng và tiện ích các sản phẩm mới, trước những tiến bộ vượt bậc của công nghệ tin học, viễn thông, sự phát triển thương mại điện tử, tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế về kinh tế, tài chính ngày càng sâu rộng. Các NHTM đang tái cơ cấu và điều chỉnh chiến lược để thích nghi với sự thay đổi và cạnh tranh gay gắt.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia Tài chính – Ngân hàng, các xu hướng chính ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh NHTM trong thời gian tới là:

8.1. Các loại hình ngân hàng thương mại điện tử mới

Các ngân hàng thông minh “smart-banking” và ngân hàng tự động “auto- banking” với các giao dịch và dịch vụ ngân hàng “online” sẽ thay thế các chi nhánh ngân hàng truyền thống và phương thức giao dịch trực tiếp.

Ngân hàng ứng dụng phương thức giao dịch điện tử vào các kênh phân phối hiện đại để thực hiện tất cả các giao dịch với khách hàng. Mọi giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng được thực hiện chuyển ra ngoài phạm vi chi nhánh và thông qua các kênh phân phối internet banking, phone banking, sms banking, facebook banking.

Các khách hàng không cần đến chi nhánh ngân hàng để giao dịch vay vốn, thanh toán, gửi tiết kiệm, tìm hiểu các sản phẩm dịch vụ mới. Giao dịch thanh toán có thể thông qua phương thức điện tử, online trực tuyến, hoặc video cho phép khách hàng thực hiện mọi lúc mọi nơi mà không cần tới chi nhánh ngân hàng.

8.2. Xu hướng phát triển các sản phẩm dịch vụ mới

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, các ngân hàng thương mại ngày càng có xu hướng tập trung phát triển các loại hình dịch vụ trên thị trường tài chính, chủ yếu trên thị trường chứng khoán (ngân hàng thương mại thành lập các công ty chứng khoán trực thuộc và phối hợp với các công ty chứng khoán thực hiện dịch vụ cho vay cầm cố cổ phiếu, cầm cố chứng khoán để đầu tư chứng khoán, liên doanh với một số định chế tài chính nước ngoài thành lập quỹ đầu tư chứng khoán).

8.2.1. Dịch vụ bán chéo các sản phẩm phi tài chính cho các công ty bán lẻ

Ngân hàng có hầu hết những thông tin tài chính, kinh doanh, thông qua dữ liệu tài khoản tiền gửi, thanh toán, thẻ và hoạt động giao dịch. Vì vậy ngân hàng có thể hợp tác với các công ty bán lẻ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh dịch vụ phi tài chính để bán chéo sản phẩm của họ với chi phí thấp nhất và hiệu quả cao hơn so với các kênh phân phối trực tiếp truyền thống của doanh nghiệp.

Các công ty bán lẻ sẽ thông báo những sản phẩm mình có và ngân hàng chào bán cho những đối tượng có nhu cầu, đồng thời thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán cho các khách hàng này.

8.2.2. Dịch vụ ngân hàng quốc tế

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về đầu tư, thương mại và tài chính, thúc đẩy nhu cầu phát triển các dịch vụ ngân hàng quốc tế ngày càng tăng cao.

Vì vậy, các NHTM ở các nước đang phát triển và có nền kinh tế mở đứng trước cơ hội to lớn để phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Các dịch vụ ngân hàng quốc tế chủ yếu đó là tín dụng quốc tế, thanh toán quốc tế, dịch vụ quyền chọn về kinh doanh hàng hoá kỳ hạn trên thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp trong nước, các dịch vụ ngân hàng khác như bao thanh toán, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi tiền tệ/ lãi suất, quản lý vốn vay nước ngoài trên tài khoản của khách hàng.

8.2.3. Chuẩn mực quản trị ngân hàng tiên tiến và quản trị rủi ro theo các tiêu chuẩn quốc tế

Sự thay đổi nhanh chóng môi trường pháp lý và các quy định quản trị rủi ro ngân hàng để bảo đảm ổn định tài chính vĩ mô của các quốc gia và các tổ chức tài chính quốc tế ngày càng được tăng cường, buộc các NHTM các nước phải thực hiện theo các chuẩn mực quản trị ngân hàng tiên tiến và quản trị rủi ro theo các tiêu chuẩn quốc tế (như Basel II, Basel III, CAMELS) đã ảnh hưởng trực tiếp đến đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Mặc dù có sự thay đổi về hành vi giao dịch, chi nhánh, sản phẩm dịch vụ, nhưng hệ thống NHTM trong tương lai vẫn sẽ phát triển mạnh mẽ, đã và đang trở thành một ngành công nghiệp dịch vụ tài chính hiện đại, có vai trò là ngành kinh tế huyết mạch của nền kinh tế, là nền tảng của hệ thống tài chính của các quốc gia và toàn cầu.

Các ngân hàng thương mại đầu tiên của Việt nam ra đời từ việc tách một số nghiệp vụ tiền tệ tín dụng từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (hay còn gọi là Ngân hàng trung ương) thành các Ngân hàng chuyên doanh thực hiện chức năng kinh doanh tín dụng, tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26 tháng 03 năm 1998 của Hội đồng Bộ trưởng(nay là Chính phủ), bao gồm 04 Ngân hàng chuyên doanh, thuộc sở hữu 100% vốn nhà nước: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Chức năng và nhiệm vụ của các ngân hàng thương mại lúc đó được quy định trong Pháp lệnh Ngân hàng số 38-LTC/HĐNN8 ngày 24 tháng 05 năm 1990: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.

Cùng với sự ra đời của các ngân hàng thương mại nhà nước, giai đoạn những năm 1990-1997, các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, quỹ tín dụng nhân dân lần lượt được ra đời. Tuy nhiên, ở giai đoạn này các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn chi phối trên hơn hai phần ba tổng tài sản, thị phần tiền gửi, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần còn nhỏ bé, các ngân hàng nước ngoài rất ít, chưa có sự cạnh tranh đối với các hoạt động ngân hàng.

Luật tổ chức tín dụng Số: 02/1997/QH10 ra đời ngày 12 tháng 12 năm 1997 thay thế Pháp lệnh Ngân hàng 1990 đã bổ sung hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phát triển với nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng hơn. Theo đó, các ngân hàng thương mại là tổ chức hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.

Luật các Tổ chức tín dụng Số: 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 thay thế Luật TCTD 1997, đã điều chỉnh khung pháp lý cho hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam tiếp cận gần hơn với thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng theo định hướng thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng toàn diện.

Hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại được đổi mới theo hướng các NHTM hoạt động theo cơ chế thị trường, tách bạch tín dụng chính sách chuyển sang Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Số lượng ngân hàng thương mại cổ phần đến cuối 2015 là 34 ngân hàng, giảm 17 ngân hàng so với 2011 (do tái cơ cấu), tổng tài sản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đạt hơn 270 tỷ USD, khoảng hơn 135% GDP, tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 150% GDP.

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam thì hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển và hội nhập với thị trường tài chính, ngân hàng khu vực và thế giới.

Tuy nhiên có nhiều thách thức lớn đang đặt ra do năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam còn nhiều bất cập yếu kém so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là về năng lực tài chính hạn chế, quản trị yếu kém, cơ chế kế toán thống kê, thông tin chưa minh bạch, kiểm tra giám sát chưa hiệu quả.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :