Home / Tài Chính / Mẫu hợp đồng vay của LMA cho khoản vay hợp vốn trung, dài hạn

Mẫu hợp đồng vay của LMA cho khoản vay hợp vốn trung, dài hạn

/

Giới thiệu mẫu hợp đồng vay của LMA cho khoản vay trung, dài hạn hợp vốn bằng một loại tiền tệ. Các tiêu đề và tham chiếu đến điều khoản hay phụ lục là các tiêu đề, điều khoản và phụ lục trong mẫu hợp đồng LMA.

Mẫu hợp đồng vay của LMA

1. Bối cảnh/Căn cứ

Bối cảnh hay đôi khi được gọi là căn cứ là phần mở đầu hợp đồng. Trong cách soạn hợp đồng hiện nay, bối cảnh thường được dùng để ghi nhận một số thực tế của giao dịch. Trong giao dịch vay vốn, phần bối cảnh thường đề cập đến việc bên vay có yêu cầu và các bên cho vay đồng ý việc tài trợ vốn cho một dự án cụ thể của bên vay. Nếu khoản vay có tài sản bảo đảm hay bảo lãnh, phần bối cảnh cũng sẽ đề cập đến các thực tế này.

Việc soạn thảo một cách hợp lý các nội dung của phần Bối cảnh/Căn cứ có ý nghĩa quan trọng, mặc dầu trên thực tế, các luật sư có thể không chú trọng các nội dung này. Phần nội dung này cho phép các bên hiểu rõ được hoàn cảnh và bối cảnh của giao dịch, cũng như ý chí và chủ định của các bên khi thực hiện giao dịch.

Một phần bối cảnh được soạn thảo tốt (mà không nhất thiết phải quá chi tiết) có ý nghĩa quan trọng trong trường hợp xảy ra tranh chấp. Căn cứ vào nội dung này, tòa án có thể hiểu được một cách rõ ràng ý định của các bên khi diễn giải các nội dung của các điều khoản trong hợp đồng.

Một điểm quan trọng khác cũng hầu như chưa được kiểm chứng tại tòa án Việt Nam, là liệu phần bối cảnh có được xem là một phần của hợp đồng và các bên có thể dựa vào đó để công nhận các thực tế của giao dịch hay không, hay liệu các nội dung đề cập trong phần này có giá trị ràng buộc các bên hay không.

2. Định nghĩa (Điều 1)

Định nghĩa là điều khoản đầu tiên của hợp đồng, trong đó quy định các thuật ngữ hay cách hiểu, diễn giải được áp dụng trong hợp đồng. Mục đích của điều khoản định nghĩa là nhằm hạn chế việc phải lặp đi lặp lại các giải thích, do đó làm cho hợp đồng ngắn gọn và dễ đọc, dễ hiểu hơn.

Điều khoản này thường được chia thành hai phần. Phần đầu là các định nghĩa cho các thuật ngữ hay từ viết hoa được sử dụng trong hợp đồng. Các từ này được gán cho các nghĩa cụ thể và thường được viết hoa. Phần sau quy định các quy tắc diễn giải và cách hiểu đối với một số cụm từ, thuật ngữ sử dụng trong hợp đồng.

Để dễ theo dõi, phần định nghĩa nên được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái. Các từ này cũng thường được viết hoa, để trong ngoặc kép tại phần định nghĩa. Đôi khi có những từ, thuật ngữ chỉ được dùng cho một điều khoản cụ thể và không được sử dụng trong các phần khác của hợp đồng, thì theo tập quán, từ đó có thể được định nghĩa ngay trong điều khoản đó bằng cách để trong ngoặc kép trong một ngoặc đơn khác, thay vì đưa vào phần định nghĩa tại đầu hợp đồng.

Nếu hợp đồng không có điều khoản định nghĩa, thì thông thường, các thuật ngữ cần được định nghĩa theo cách đề cập bên trên ngay khi chúng vừa xuất hiện.

Các từ ngữ khác không phải là thuật ngữ và không được định nghĩa sẽ được các bên và tòa án hiểu theo nghĩa thông thường và tự nhiên của từ đó nhưng có xem xét tới bối cảnh và thực tế của giao dịch.

3. Tiện ích khoản vay (Điều 2)

Trong hợp đồng vay, thông thường các bên cho vay chỉ có một nghĩa vụ chính là nghĩa vụ cho vay (đối với khoản vay có cam kết) khi các điều kiện tiên quyết đã được đáp ứng. Nghĩa vụ cho vay của các bên cho vay được quy định ngay sau điều khoản định nghĩa. Điều khoản này quy định số tiền vay, loại khoản vay (ví dụ: vay trung, dài hạn), đồng tiền cho vay.

Đối với khoản vay hợp vốn, điều khoản này còn quy định rõ:

  • Cam kết (như định nghĩa trong điều 1 định nghĩa của hợp đồng) là số tiền mà mỗi bên cho vay sẵn sàng cho vay, thường được quy định trong phụ lục của hợp đồng vay.
  • Nghĩa vụ của mỗi bên cho vay là riêng rẽ, việc một bên cho vay không thể cho vay không làm ảnh hưởng tới nghĩa vụ của các bên cho vay khác.
  • Không bên cho vay nào có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay khác.
  • Quyền của mỗi bên cho vay là riêng rẽ và độc lập với quyền của các bên cho vay khác, và tương tự như vậy, mỗi khoản nợ của bên vay với một bên cho vay là riêng rẽ và độc lập với các bên cho vay khác.

4. Mục đích khoản vay (Điều 3)

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cũng như yêu cầu về quản lý rủi ro của các bên cho vay nói chung, hợp đồng vay phải quy định rõ mục đích sử dụng vốn. Các bên cho vay muốn chắc chắn là khoản vay không được sử dụng cho các mục đích bất hợp pháp.

Khi thảo luận và xây dựng bản điều khoản cho vay, bên cho các đánh giá tín dụng của mình trên cơ sở mục đích sử dụng vốn mà bên vay cam kết. Nếu khoản vay được sử dụng cho một mục đích khác, điều đó sẽ làm thay đổi các đánh giá và quyết định cho vay của bên cho vay. vay thực hiện

Theo quy định về cho vay của pháp luật Việt Nam, ngân hàng cho vay có thể đòi lại tiền vay nếu vốn vay được sử dụng sai mục đích. Trong nhiều trường hợp, nếu vốn vay được sử dụng cho các mục đích trái pháp luật, hợp đồng vay có thể trở thành không có giá trị ràng buộc bên cho vay, cho dù bên cho vay có thể không biết về việc sử dụng sai mục đích đó.

Quy định về cho vay của Ngân hàng Nhà nước, mặt khác yêu cầu các ngân hàng phải có trách nhiệm theo dõi việc sử dụng vốn đúng mục đích của bên vay. Do đó, việc khoản vay bị sử dụng cho các mục đích trái pháp luật có thể gây thiệt hại đáng kể cho các bên cho vay. Chẳng hạn, nếu một khoản vay được dùng để mua sắm các tài sản mà pháp luật cấm, các tài sản đó có thể bị Nhà nước thu hồi, xung công và do đó, gây thiệt hại lớn cho ngân hàng cho vay.

5. Điều kiện tiên quyết (Điều 4)

Điều kiện tiên quyết là những điều kiện mà bên vay phải hoàn thành theo yêu cầu của các bên cho vay trước khi bên vay có thể sử dụng vốn. Điều khoản này nhằm đảm bảo rằng việc được phép sử dụng khoản vay là có điều kiện chứ không phải khoản vay là khoản vay có điều kiện. Hợp đồng vay về nguyên tắc có hiệu lực ngay khi được các bên ký hợp lệ và hiệu lực hợp đồng vay không phụ thuộc vào các điều kiện khác.

Mục đích của điều kiện tiên quyết là đưa ra các bằng chứng chứng tỏ các cam đoan và bảo đảm mà bên vay đưa ra là đúng. Các cam đoan và bảo đảm đó, tương tự, là căn cứ cho các giả thiết mà các bên cho vay dựa vào khi đánh giá tín dụng và khả năng trả nợ của bên vay.

Các bên cho vay sẽ muốn các điều kiện tiên quyết được soạn thảo một cách bao quát nhất có thể và với các câu chữ, nội dung đáp ứng yêu cầu của họ. Bên vay, trái lại, sẽ muốn các điều kiện này càng cụ thể càng tốt để chắc chắn rằng mình có thể đáp ứng được các điều kiện đó và do đó, được quyền rút vốn vay. Bên vay sẽ không muốn các điều kiện này phụ thuộc vào ý chí hay đánh giá chủ quan của các bên cho vay. Trong trường hợp bên cho vay có toàn quyền quyết định một điều kiện đã thỏa mãn chưa, bên cho vay cần phải hành động một cách hợp lý. Tốt nhất là từ ngữ của các văn bản trong điều kiện tiên quyết cần được đồng ý trước khi ký, nếu không thể, thì hình thức của các văn bản này cần được đồng ý trước khi ký.

Ngoài ra, nghĩa vụ cho vay của các bên cho vay còn phụ thuộc vào việc tại thời điểm rút vốn, không có sự kiện vi phạm nào xảy ra và đang tiếp diễn với bên vay, cũng như các cam đoan và bảo đảm được coi như lặp lại và đúng tại thời điểm đó. Điều kiện này bảo vệ các bên cho vay khỏi những thay đổi bất lợi của bên vay kể từ ngày ký hợp đồng cho tới ngày rút vốn khoản vay.

6. Sử dụng vốn, rút vốn (Điều 5)

Điều khoản này quy định cơ chế cho việc yêu cầu rút vốn của bên vay. Một yêu cầu rút vốn bao gồm ngày giải ngân, số tiền và đồng tiền rút, kỳ tính lãi sẽ được áp dụng cho khoản vay đó. Thông thường, bên vay được quyền lựa chọn các chi tiết về một khoản vay trong mỗi lần rút vốn theo quy định trong hợp đồng.

Đối với các khoản vay cho phép rút vốn bằng nhiều đồng tiền khác nhau, bên vay có thể lựa chọn đồng tiền phù hợp cho khoản vay trong yêu cầu rút vốn. Cơ chế rút vốn bằng nhiều loại tiền tệ như sau:

  • Một đồng tiền được lựa chọn làm đồng tiền cơ sở (thông thường là một ngoại tệ mạnh phổ biến như đô la Mỹ hay Euro), khi đó các đồng tiền khác mà bên vay lựa chọn để rút vốn được gọi là đồng tiền thay thế (đồng tiền thay thế cũng thường là một đồng tiền tự do chuyển đổi hoặc là đồng tiền quốc gia của bên vay).
  • Trong yêu cầu rút vốn, bên vay lựa chọn hoặc đồng tiền cơ sở, hoặc đồng tiền thay thế làm loại tiền cho khoản vay và kỳ tính lãi tương ứng với khoản vay đó.
  • Các bên cho vay khi đó có thể đồng ý hoặc không đồng ý cho rút vốn bằng đồng tiền theo yêu cầu của bên vay, tùy thuộc việc các bên cho vay có sẵn loại tiền tệ đó để cho vay hay không.
  • Nếu bên vay được vay bằng một đồng tiền thay thế, số tiền vay bằng đồng tiền thay thế được tính trên cơ sở tỷ giá giao ngay (thường là tỷ giá do ngân hàng đại lý cung cấp hoặc tỷ giá phổ biến trên thị trường) giữa đồng tiền thay thế và đồng tiền cơ sở áp dụng vào khoảng hai ngày trước ngày rút vốn.
  • Khoản vay bằng đồng tiền nào sẽ được hoàn trả bằng đồng tiền đó. Cơ chế nêu trên áp dụng ngay cả khi bên vay tiếp tục vay cùng một khoản vay bằng cùng đồng tiền thay thế như khoản vay vừa hoàn trả, tức là khoản vay sẽ vẫn được tính toán dựa trên tỷ giá hối đoái giao ngay giữa hai đồng tiền hai ngày trước ngày rút vốn.
  • Trong trường hợp bên vay rút vốn bằng đồng tiền cơ sở, sẽ không có việc chuyển đổi.
  • Bên vay phải chấp nhận rủi ro liên quan đến tỷ giá giữa hai đồng tiền. Thông thường, bên vay có thể tham gia vào một giao dịch phòng ngừa rủi ro (hoán đổi tiền tệ) để hạn chế rủi ro này.

7. Hoàn trả (Điều 6)

Hoàn trả là một phần của các điều khoản thương mại trong hợp đồng vay. Một khoản vay thường được trả dần. Hình thức trả dần có thể là trả làm nhiều lần với số tiền trả các lần bằng nhau từ đầu tới cuối (instalment/amortisation), hoặc trả nhiều lần mỗi lần một phần nhỏ, phần lớn còn lại sẽ trả vào lúc đáo hạn (balloon payment). Hoàn trả theo hình thức bullet payment, tức là chỉ trả một lần khi đáo hạn khoản vay, thường không phổ biến và ít gặp hơn. Việc hoàn trả cần được quy định rõ trong hợp đồng. Đối với khoản vay trung, dài hạn, các khoản đã hoàn trả không được phép vay lại.

Bên vay cũng có thể hoàn trả khoản vay trước hạn. Điều khoản về hoàn trả thường sẽ quy định các điều kiện và cơ chế hoàn trả trước hạn. Việc hoàn trả trước hạn phải được quy định rõ ràng. Không có điều khoản hoàn trả trước ngụ ý hay ám chỉ. 

Hoàn trả trước hạn có thể xảy ra trong các trường hợp sau:

  • Nếu nghĩa vụ cho vay hay tiếp tục duy trì khoản vay của một bên cho vay bất kỳ trở nên bất hợp pháp. Chẳng hạn, do thay đổi pháp luật, hay việc áp dụng cấm vận, trừng phạt, phòng chống rửa tiền… Khi đó, bằng cách gửi thông báo trước cho bên bên cho vay, vay có thể:
  • Chấm dứt phần cam kết chưa được giải ngân.
  • Yêu cầu bên vay hoàn trả các phần vốn vay đang dư nợ tại cuối kỳ tính lãi tương ứng hoặc vào một ngày khác sớm hơn nếu có quy định.
  • Thay đổi quyền kiểm soát đối với bên vay. Thay đổi quyền kiểm soát là khi chủ sở hữu sở hữu hiện tại của bên vay bị thay đổi so với thời điểm ký hợp đồng. Hợp đồng mẫu của LMA quy định sự kiện thay đổi quyền sở hữu là một sự kiện hoàn trả trước hạn. Quyền quyết định có yêu cầu hoàn trả vay đa trước hạn hay không được quyết định bởi các bên cho số. Do thay đổi quyền kiểm soát ảnh hưởng tới đánh giá tín dụng của các bên cho vay, và mỗi bên cho vay có thể có các đánh giá khác nhau, do đó, điều khoản này cũng quy định một giải pháp linh động khác, cho phép mỗi bên cho vay có thể quyết định chấm dứt cho vay hay tiếp tục hợp đồng. Trong những trường hợp đó, ngân hàng đầu mối thu xếp phải quyết định ngay từ đầu cách thức nào là hợp lý (toàn bộ các bên cho vay cùng yêu cầu hoàn trả trước hạn hay chỉ mỗi ngân hàng có quyền tự quyết định) cho mỗi giao dịch. Từ bình diện của bên vay, quy định thay đổi quyền kiểm soát là một sự kiện hoàn trả trước hạn sẽ có lợi hơn. Trong nhiều trường hợp, các bên cho vay có thể yêu cầu thay đổi quyền kiểm soát là một sự kiện vi phạm. Việc xảy ra một sự kiện vi phạm có thể mang lại hậu quả nặng nề cho bên vay (ví dụ, châm ngòi cho việc xảy ra các sự kiện vi phạm chéo), và trong nhiều trường hợp, có thể dẫn đến phá sản.
  • Bên vay muốn giảm số tiền muốn vay trước ngày hết hạn của thời hạn rút vốn. Bên vay có thể gửi thông báo nêu rõ số tiền muốn giảm. Khi nhận được thông báo, số tiền cam kết của mỗi bên cho vay sẽ giảm tương ứng với tỷ lệ cho vay.
  • Bên vay cũng có thể muốn hoàn trả một phần hay toàn bộ khoản vay đang còn dư nợ bằng cách gửi thông báo cho các bên cho vay. Trong trường hợp này, khoản hoàn trả trước hạn thường phải thanh toán vào ngày cuối cùng của kỳ tính lãi của khoản vay đó (để tránh hoặc giảm chi phí trả trước). Các bên cũng phải thỏa thuận cách thức trả nợ trước hạn. Các bên cho vay thường yêu cầu việc trả nợ trước hạn được áp dụng theo trình tự đảo ngược dựa trên ngày đến hạn của khoản vay (ví dụ, khoản vay đến hạn sau cùng sẽ được hoàn trả trước tiên). Điều này giúp giảm bớt rủi ro về tín dụng của bên cho vay. Việc này khiến bên vay phải cân nhắc dòng tiền và có thỏa thuận hợp lý với các bên cho vay.
  • Trong một số trường hợp, bên cho vay thường yêu cầu phải hoàn trả sớm toàn bộ khoản vay nếu một phần lớn của khoản vay đó được trả nợ trước. Thường thì yêu cầu này hay được áp dụng trong các giao dịch tài trợ vốn để thâu tóm, sáp nhập.

8. Lãi suất (Điều 8)

Lãi suất thường được tính trên cơ sở số tiền đang dư nợ. Đối với khoản vay hợp vốn, lãi suất có thể là lãi suất thả nổi hoặc cố định. Lãi suất thả nổi là lãi suất được tính trên cơ sở lãi suất thực tế của thị trường tại thời điểm rút vốn cho mỗi khoản vay và mỗi kỳ tính lãi. Lãi suất thả nổi sẽ thay đổi qua từng kỳ tính lãi. Lãi suất cố định là một lãi suất không đổi áp dụng cho toàn bộ thời hạn của khoản vay.

Thông thường lãi suất thả nổi được tính trên cơ sở: lãi suất liên ngân hàng (như lãi suất cơ sở) cộng với (+) mức lãi bắt buộc (hay được gọi là lãi biên). Lãi suất liên ngân hàng, hay lãi suất cơ sở thường được áp dụng cho các khoản vay ngoại tệ là LIBOR, EURIBOR, hay ở Đông Nam Á, có thể áp dụng cho cả SIBOR.

Trong nhiều trường hợp, khi việc huy động vốn để cho vay được thực hiện ở một thị trường cụ thể hạn chế liên thông với thị trường tài chính quốc tế, bên cho vay có thể yêu cầu tính lãi suất cho vay trên cơ sở chi phí vốn (cost of fund). Lãi suất cơ sở phản ánh chi phí huy động vốn cho khoản vay của ngân hàng. Lãi suất sẽ do ngân hàng đại lý thông báo cho bên vay vào đầu mỗi kỳ tính lãi.

Lãi biên là phần ngân hàng được hưởng trong phần lãi suất cho bên vay. Lãi biên cũng phản ánh đánh giá tín dụng của ngân hàng đối với vay. Các bên vay có xếp hạng tín dụng tốt sẽ có nhiều khả năng đàm phán được giá vay thấp, và ngược lại. Thông lệ trên thị trường tài chính quốc tế là đối với công ty thuộc loại “đáng đầu tư”, lãi suất biên thường là khoảng 1%. Nếu xếp hạng tín dụng thấp hơn thì lãi suất biên cao hơn, từ 2-3%.

LIBOR, EURIBOR hay SIBOR là các lãi suất mà theo đó các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng London, châu Âu và Singapore chào giá cho vay cho các ngân hàng khác cho một đồng tiền và một thời hạn nhất định (thường là ngắn hạn). Các chỉ số lãi suất tham khảo trên thường được xác định hiển thị trên một màn hình lãi suất cụ thể (ví dụ, màn hình Reuters).

Chi phí vốn thường được tính toán trên cơ sở một công thức được xác định và quy định rõ trong hợp đồng. Chi phí vốn được tính theo tỷ lệ phần trăm một năm, là chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra để huy động đủ khoản tiền của khoản vay. Thông thường, chi phí này sẽ là lãi suất huy động khoản tiền gửi có giá trị và kỳ hạn đúng bằng khoản vay, cộng với các chi phí hành chính và vận hành liên quan.

Lãi sẽ được tính trên cơ sở cộng dồn hàng ngày, trên cơ sở của một năm có 360 hay 365 ngày (tùy thỏa thuận và tùy loại tiền tệ, ví dụ, đô la Mỹ hay euro thường là 365 ngày, đồng Việt Nam là 360 ngày). Lãi sẽ được tính từ ngày rút vốn và được thanh toán vào ngày cuối cùng của mỗi kỳ tính lãi.

Điều khoản lãi suất cũng sẽ quy định về lãi suất quá hạn, là khoản lãi phạt cho các khoản tiền trả chậm hoặc không thanh toán vào ngày đến hạn. Đối với các khoản vay ngoại tệ, lãi suất chậm trả thường được tính là khoảng 1% hoặc 2% cao hơn so với lãi suất vay. Luật Việt Nam cho phép áp dụng lãi suất chậm trả ở mức 150% của lãi suất vay.

Luật pháp nhiều nước quy định mức lãi suất phạt phải “hợp lý” và phản ánh chi phí của bên cho vay do bị chậm trả. Nếu cao hơn hoặc không được xem là hợp lý về mặt thương mại, có thể bị coi là tiền phạt và không được phép áp dụng như lãi suất.

Lãi suất chậm trả được tính toán trên cơ sở của kỳ tính lãi tiếp theo do ngân hàng đại lý hoặc các bên cho vay lựa chọn.

Lãi suất chậm trả sau khi bên vay bị tuyên bố phá sản là một vấn đề đáng quan tâm. Luật phá sản Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề này và cũng không rõ quan điểm của tòa án Việt Nam trong trường hợp xử lý lãi suất chậm trả sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Ở một số quốc gia, như Anh, khoản lãi chậm trả sau khi phá sản được xem là khoản tiền không thể chứng minh được, và do đó, được xem là không có khả năng thu hồi.

9. Kỳ tính lãi (Điều 9)

Kỳ tính lãi là căn cứ để tính toán lãi suất và trả lãi đối với khoản vay. Kỳ tính lãi được quy định để khớp với các kỳ huy động và cho vay phổ biến trên thị trường liên ngân hàng, là nơi các ngân hàng cho vay huy động vốn. Kỳ tính lãi được quy định rõ ràng trong hợp đồng vay. Mỗi kỳ tính lãi phổ biến là 1, 2, 3 hoặc 6 tháng.

Trong một số trường hợp, các bên có thể đồng ý một kỳ tính lãi dài hơn 6 tháng, nhưng luôn dưới một năm. Kỳ tính lãi dài hơn một năm sẽ tùy thuộc vào việc các bên cho vay có thể huy động tiền gửi kỳ hạn trên một năm hay không trên thị trường liên ngân hàng.

Bên vay được phép lựa chọn kỳ tính lãi cho mỗi khoản vay trong yêu cầu rút vốn gửi ngân hàng đại lý. Yêu cầu rút vốn phải gửi trước ngày kết thúc kỳ tính lãi trước và trước ngày bắt đầu của kỳ tính lãi sau. Hợp đồng luôn quy định yêu cầu rút vốn của bên vay là không thể hủy ngang, tức là không thể hủy hay rút lại yêu cầu rút vốn đó.

Về mặt thương mại, nếu lãi suất đang có xu hướng giảm, vay có thể lựa chọn kỳ tính lãi ngắn hơn, qua đó được hưởng lãi suất thấp hơn ở kỳ tính lãi sau. Ngược lại, nếu lãi suất đang tăng, bên vay sẽ lựa chọn kỳ tính lãi dài để đảm bảo lãi suất cố định càng lâu càng tốt. bên

Kỳ tính lãi sẽ không được vượt quá ngày đáo hạn của khoản vay. Hay nói cách khác, nếu kỳ tính lãi vượt quá ngày đáo hạn của khoản vay, thì kỳ tính lãi đó sẽ được tự động rút ngắn để kết thúc vào ngày đáo hạn khoản vay. Nếu khoản vay được hoàn trả dần, các kỳ tính lãi cũng được điều chỉnh hoặc quy định để trùng với các đợt hoàn trả

Điều này chủ yếu để cho tiện lợi và giảm thiểu công sức quản lý các khoản vay của bên cho vay.

Với mỗi yêu cầu rút vốn, bên vay có thể lựa chọn một kỳ tính lãi theo yêu cầu của mình và lựa chọn các kỳ tính lãi khác nhau cho các yêu cầu rút vốn khác nhau. Tuy nhiên, hợp đồng cũng quy định, để tiện quản lý cho các bên cho vay, nếu các kỳ tính lãi của các khoản vay khác nhau cùng kết thúc vào một ngày thì các khoản vay đó được gộp vào làm một khoản vay và do đó, sẽ chỉ áp dụng một kỳ tính lãi duy nhất.

10. Gián đoạn thị trường (Điều 10)

Đây là điều khoản nhằm đối phó với trường hợp khi xác định lãi suất khoản vay, lãi suất tham chiếu của các ngân hàng tham chiếu không sẵn có hoặc không xác định được (do không có hiển thị trên màn hình lãi suất, ví dụ Reuters).

Điều khoản này cũng quy định căn cứ xác định lãi suất thay thế, thường là chi phí vốn mà ngân hàng cần để huy động vốn cho khoản vay tương ứng từ bất kỳ nguồn nào mà ngân hàng lựa chọn. Trong trường hợp chi phí này không phản ánh được một cách hợp lý căn cứ tính lãi suất, các bên có 30 ngày để đàm phán lại một căn cứ tính lãi khác, theo quy định trong hợp đồng.

11. Phí hoàn trả trước hạn (break cost) (Điều 10.4)

Nếu một khoản vay được hoàn trả vào một ngày không phải là ngày cuối cùng của kỳ tính lãi tương ứng (hiểu là hoàn trả trước hạn), thì bên vay phải thanh toán cho bên cho vay một khoản phí hoàn trả trước hạn. Khoản phí này được tính toán trên cơ sở phần chênh lệch giữa khoản tiền mà ngân hàng cho vay lẽ ra nhận được nếu phần tiền hoàn trả trước vẫn được duy trì đến ngày đáo hạn tương ứng như bình thường, trừ đi lãi suất mà ngân hàng sẽ nhận được nếu đem khoản tiền hoàn trả trước gửi trên thị trường liên ngân hàng cho khoảng thời gian tương ứng còn lại từ ngày hoàn trả trước cho tới ngày đáo hạn (tức ngày cuối cùng của kỳ tính lãi tương ứng).

12. Các khoản phí (Điều 11)

Thông thường, bên vay phải thanh toán cho các bên cho vay một số khoản phí sau:

  • Phí cam kết: được bên cho vay tính trên cơ sở chi phí mà họ phải bỏ ra để duy trì một khoản tiền có sẵn tương đương với khoản vay trong suốt khoảng thời gian mà khoản chưa được bên vay giải ngân toàn bộ. vay
  • Phí thu xếp: là khoản chi phí mà ngân hàng thu xếp phải chi trả để thu xếp khoản vay cho bên cho vay.
  • Phí ngân hàng đại lý: đối với các khoản vay hợp vốn, đặc biệt các khoản vay lớn hay đòi hỏi nhiều công sức quản lý, các bên cho vay sẽ yêu cầu chi trả một khoản phí cho ngân hàng đại lý. Trên thực tế, khoản phí thu xếp và phí cho ngân hàng đại lý thường được quy định trong các thỏa thuận riêng rẽ với hợp đồng vay.

13. Các khoản thanh toán khác

Điều khoản này thường được gọi là điều khoản “bảo vệ lãi suất biên” (marginal protection). Nó cho phép các bên cho vay được bảo vệ khỏi các chi phí tiềm ẩn có thể làm suy giảm lợi nhuận mà các bên cho vay có thể thu được. Các chi phí tiềm ẩn này có thể làm tăng chi phí vốn liên quan đến khoản vay hoặc là các chi phí làm suy giảm lợi nhuận thu được từ khoản vay. Các khoản chi phí này không được bao gồm vào trong giá của khoản vay và là các chi phí mà nếu có phát sinh thì bên vay phải chịu trách nhiệm thanh toán.

14. Gộp thuế (Điều 12)

Bên vay có nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền chi trả cho ngân hàng cho vay mà không được phép khấu trừ hay khấu lưu bất kỳ khoản thuế hay lệ phí nào, trừ trường hợp pháp luật yêu cầu phải khấu trừ. Trong trường hợp có khấu trừ thuế, bên vay phải bổ sung khoản tiền thuế đó vào khoản hoàn trả cho bên cho vay, sao cho khoản tiền mà bên cho vay nhận được bằng với khoản tiền dự kiến khi không có khấu trừ thuế. Hành động này được gọi là “gộp thuế”.

Mặc dù vậy, điều khoản này đôi khi được các bên dành nhiều thời gian đàm phán nhằm thỏa mãn yêu cầu về rủi ro cụ thể của mỗi bên.

Các bên cho vay cũng yêu cầu bên vay, nếu phải khấu trừ thuế, phải thanh toán khoản tiền này trực tiếp vào tài khoản của cơ quan thuế và phải có nghĩa vụ thông báo khoản khấu trừ này cho bên cho vay (hoặc ngân hàng đại lý), nếu biết.

Hành động này nhằm đảm bảo khoản khấu trừ thuế là có thật và khoản thuế đã thực sự được thanh toán cho cơ quan thuế. Do khoản thuế khấu trừ thường đánh trên thu nhập của các bên cho vay, do đó bên cho vay sẽ muốn kiểm chứng việc nộp thuế này.

15. Bồi hoàn thuế (Điều 12.3)

Điều khoản bồi hoàn thuế quy định bên vay phải bồi hoàn và thanh toán cho bên cho vay bất kỳ chi phí, thiệt hại nào liên quan đến hợp đồng vay (và các tài liệu tín dụng khác) liên quan đến thuế. Mục đích của điều khoản này là nhằm bảo vệ các bên cho liên quan đến các vấn đề về thuế được áp dụng trực tiếp đối với bên cho vay hay ngân hàng đại lý.

Khoản bồi hoàn về thuế khác với khoản gộp thuế. Gộp thuế xử lý tình huống khi khoản thanh toán cho bên cho vay bị khấu trừ, khấu lưu thuế. Bồi hoàn thuế xử lý tình huống sau khi bên vay đã thanh toán, cơ quan thuế đánh giá lại nghĩa vụ thuế đối với các bên cho vay và yêu cầu phải thanh toán thuế.

Tuy nhiên, bên vay không có nghĩa vụ bồi hoàn thuế cho phần thu nhập hay lợi nhuận của các bên cho vay, tức là các bên cho vay phải chịu nghĩa vụ thuế liên quan đến thu nhập. Bên vay chỉ chịu trách nhiệm nếu thuế đánh trên các khoản thanh toán của bên vay.

16. Miễn thuế (Điều 12.4)

Trong trường hợp bên vay đã phải tăng khoản tiền thanh toán do vấn đề khấu trừ thuế theo điều khoản gộp thuế, thì nếu bên cho vay được hưởng các ưu đãi hay miễn trừ thuế liên quan đến khoản thanh toán này (chẳng hạn, được miễn thuế do có hiệp định chống đánh thuế hai lần), sau đó, bên cho vay phải thanh toán khoản miễn trừ thuế tương ứng đó cho bên vay.

Điều khoản này đảm bảo sự công bằng cho bên vay trong trường hợp bên cho vay được miễn trừ thuế và đảm bảo đúng nguyên tắc là bên vay chỉ phải thanh toán phần thuế thực thu. Bên cho vay có thể nhận phần hoàn thuế trực tiếp từ quan thuế.

17. Các loại thuế và phí khác (VAT) (Điều 12.5)

Bên vay chịu trách nhiệm thanh toán thuế VAT (nếu có) và các loại thuế hay lệ phí khác liên đến khoản vay. quan

18. Chi phí gia tăng (increased cost) (Điều 13)

Chi phí gia tăng là một điều khoản được soạn thảo tương đối rộng để dự liệu cho tất cả các trường hợp do thay đổi pháp luật, kể cả thay đổi trong cách hiểu và diễn giải luật, dẫn tới việc:

  • (i) Làm giảm tỷ suất thu hồi vốn của bên cho vay.
  • (ii) Tăng thêm chi phí bên cho vay phải gánh chịu.
  • (ii) Làm giảm bất kỳ khoản tiền nào mà bên vay phải thanh toán theo hợp đồng tín dụng.

Ví dụ thường gặp của việc áp dụng chi phí gia tăng là việc gia tăng các yêu cầu về dự phòng an toàn vốn hay chỉ số an toàn trong các quy định pháp luật đối với các ngân hàng. Chẳng hạn việc tăng mức dự phòng an toàn vốn tối thiểu (capital adequacy) sẽ làm tăng chi phí vốn của ngân hàng và do đó, làm giảm tỷ suất thu hồi vốn. Việc áp dụng các nguyên tắc của Basel II và III cũng có thể dẫn đến tăng chi phí vốn của ngân hàng.

19. Các khoản bồi hoàn khác (Điều 14)

Là các khoản bồi hoàn tiền tệ, bồi hoàn do không hoàn trả đúng hạn, do xảy ra sự kiện vi phạm, bồi hoàn do giảm giá trị khoản vay. 

Hợp đồng quy định hai trường hợp:

  • Bên cho vay có nghĩa vụ thực hiện các nỗ lực và hành động một cách hợp lý để giải tỏa, tránh các trường hợp dẫn đến tăng chi phí.
  • Bên vay có quyền trả nợ trước hạn nếu phải thanh toán các chi phí tăng thêm đó. Điều này cho phép bên vay không bị đội chi phí vay lên quá cao và có thể rút lui khỏi các hợp đồng vay như vậy.

20. Chi phí và phí tổn (Điều 16)

Là các chi phí mà bên cho vay yêu cầu bên vay phải trả, bao gồm: chi phí thực hiện giao dịch; chi phí sửa đổi, từ bỏ hay chấp thuận một yêu cầu hay sự kiện nào đó liên quan đến hợp đồng, chi phí xử lý, bảo vệ hay duy trì các quyền của bên cho vay theo hợp đồng hay các hợp đồng giao dịch bảo đảm đi kèm.

21. Cam đoan và bảo đảm (Điều 18)

Đây là các tuyên bố của bên vay liên quan đến tình trạng của bên vay và các thực tế liên quan đến khoản vay. Mặc dù các điều khoản này không phải là thiết yếu, nhưng là một phần quan trọng của một hợp đồng vay (và rất nhiều hợp đồng khác). Tập quán soạn hợp đồng hiện nay thường bao gồm các điều khoản về cam đoan và bảo đảm. Phạm vi của các cam đoan và bảo đảm phụ thuộc nhiều vào quy mô cũng như tính chất của mỗi giao dịch. Điều khoản này cho phép các bên tập trung vào các thực tế hay yếu tố quan trọng về mặt thực tiễn hay pháp lý cần phải được thiết lập và duy trì để đạt được yêu cầu của các bên cũng như xác lập những tiêu chuẩn và điều kiện để theo dõi và kiểm tra tình trạng về pháp lý, tài chính hay các khía cạnh khác của bên vay mà bên cho vay yêu cầu.

Cam đoan là những tuyên bố đưa ra để nhằm lôi kéo bên kia tham gia vào giao dịch. Pháp luật Việt Nam không có định nghĩa về cam đoan, do vậy, cam đoan được hiểu theo nghĩa tự nhiên thông thường của từ này. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa cam đoan là khẳng định điều mình đưa ra là đúng và chịu trách nhiệm về việc đó. Nếu hiểu theo nghĩa như trên, việc vi phạm các cam đoan có thể coi là lừa dối trong giao kết hợp đồng, và do đó, theo quy định của Bộ luật Dân sự, làm cho hợp đồng vô hiệu.

Bên cho vay và bên vay sẽ có những yêu cầu và mục đích khác nhau khi đàm phán về các cam đoan và bảo đảm trong hợp đồng.

Bảo đảm, hiểu theo nghĩa của từ này trong Từ điển tiếng Việt, là cam đoan chịu trách nhiệm. Cũng như đối với cam đoan, hiện nay chưa có nhiều quy định của pháp luật Việt Nam liên quan tới vấn đề này, về cách hiểu, áp dụng cũng như hậu quả của việc vi phạm.

21.1. Đối với bên cho vay

Việc yêu cầu bên vay đưa ra các cam đoan nhằm đảm bảo thiết lập một trạng thái của bên vay giống với khi bên cho vay thực hiện các đánh giá tín dụng. Nói cách khác, các căn cứ mà bên cho vay dựa vào khi thực hiện đánh giá bên vay và đưa ra quyết định cho vay sē được đưa vào hợp đồng dưới dạng các cam đoan và bảo đảm. Các bên cho vay thường có xu hướng yêu cầu các cam đoan và bảo đảm chung và rộng nhất có thể. Bên vay cũng được yêu cầu lặp lại các cam đoan và bảo đảm này vào từng thời điểm quan trọng hoặc trong suốt toàn bộ thời hạn khoản vay. Bên cho vay cũng yêu cầu bất kỳ vi phạm nào đối với các cam đoan và bảo đảm là một sự kiện vi phạm đối với hợp đồng vay.

21.2. Đối với bên vay

Bên vay phải lưu ý các cam đoan, bảo đảm và tính đến khả năng thực hiện cũng như hậu quả của các cam đoan và bảo đảm đó. Trước hết, bên vay cần đảm bảo là mình có thể đưa ra các cam đoan và bảo đảm một cách phù hợp, và nếu cần bảo lưu một tuyên bố thì phải được quy định rõ ràng. Bên vay sẽ cố gắng hạn chế các cam đoan và bảo đảm chung chung và thay vào đó là các tuyên bố cụ thể. Các yêu cầu về việc lặp lại các cam đoan và bảo đảm cũng cần được quan tâm để đảm bảo bên vay cảm thấy yên tâm nếu như phải lặp lại các cam đoan đó, đặc biệt để tránh các vấn đề ngoài tầm kiểm soát của mình. Bên vay phải theo dõi các cam đoan và bảo đảm đã đưa ra để đảm bảo mình đã tuân thủ một cách đầy đủ.

Cam đoan và bảo đảm thường chia làm hai nhóm:

  • Nhóm liên quan đến các vấn đề pháp lý, để đảm bảo hiệu lực của giao dịch và hợp đồng
  • Nhóm liên quan đến các vấn đề thương mại, để đảm bảo tình trạng tín dụng và các điều kiện tài chính của bên vay.

Nếu được xây dựng một cách phù hợp, các cam đoan và bảo đảm giúp đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của bên vay.

Các bên cho vay thường yêu cầu một vài cam đoan và bảo đảm được đưa ra trên cơ sở “thường trực”, tức là các cam đoan và bảo đảm đó được xem như là đưa ra và lặp lại mỗi ngày trong suốt thời gian của hợp đồng, hoặc nếu ít hơn, vào ngày mà bên vay nộp một yêu cầu rút vốn hay đầu của mỗi kỳ tính lãi. Lý do của việc này thường là do các cam đoan và bảo đảm đó là các căn cứ cơ bản của khoản vay và do vậy, quan trọng đối với các bên cho vay trong suốt thời hạn khoản vay và cần được duy trì. 

Bên vay gánh chịu các rủi ro do hoàn cảnh thay đổi, khiến các cam đoan hay bảo đảm có thể trở nên sai, cho dù các thay đổi đó có thể vượt ngoài tầm kiểm soát của bên vay. Do vậy, bên vay cần quan tâm tới mức độ thay đổi của các nội dung thương mại, cũng như mức độ của các cam đoan đó có thể dẫn tới việc vi phạm các cam đoan và bảo đảm.

22. Cam kết (Điều từ 19 – 21)

Cam kết là một lời hứa về việc sẽ thực hiện hoặc sẽ không thực hiện một hành động nào đó. Đối với các bên cho vay, nếu cam đoan và bảo đảm là nơi các bên cho vay muốn bảo đảm một tình trạng của vay giống với khi các đánh giá tín dụng và soát xét doanh nghiệp được thực hiện, thì cam kết là nơi mà bên vay sẽ phải duy trì một tình trạng của doanh nghiệp như yêu cầu của các bên cho vay trong thời hạn của khoản vay. Nói cách khác, mục đích cụ thể của các cam kết là bảo vệ khoản tiền vay bằng cách thực hiện việc kiểm soát các hoạt động của bên vay có thể làm ảnh hưởng xấu tới khả năng trả nợ trong suốt thời hạn của khoản vay.

Việc kiểm soát này có thể phân thành 03 nhóm:

  • a. Cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh.
  • b. Giới hạn đối với hoạt động.
  • c. Kiểm tra các chỉ số tài chính của doanh nghiệp.

Phạm vi của các cam kết phụ thuộc vào mức độ rủi ro mà bên cho vay phải chịu liên quan đến khoản vay. Các bên cho vay có xếp hạng tín dụng cao, chẳng hạn các công ty thuộc nhóm “đáng đầu tư” (investment grade) sẽ có ít các cam kết hơn các công ty có xếp hạng tín dụng thấp hơn. Đối với khoản vay cho một dự án dài hạn, các cam kết sẽ phức tạp và nhiều hơn, phản ảnh độ phức tạp cũng như thời hạn vay dài của dự án.

Trong quá trình đàm phán hợp đồng, không tránh khỏi sẽ có các xung đột về lợi ích giữa bên vay và các bên cho vay liên đến quan các cam kết. Các bên cho vay dĩ nhiên có lợi ích chính đáng trong việc bảo đảm khả năng hoàn trả khoản vay và do đó, sẽ tìm cách áp đặt các kiểm soát đối với một số hành động của bên vay. Ngược lại, bên vay muốn được tự do kinh doanh theo cách phù hợp nhất với mình.

Do vậy, các bên cần tìm được một điểm cân bằng để đảm bảo quyền lợi của cả hai bên. Đối với bên vay, họ cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc đàm phán các điều khoản cam kết. Chẳng hạn, cần tính tới những tác động, cản trở hay gánh nặng mà họ phải gánh chịu liên quan tới việc thực hiện các công việc kinh doanh hàng ngày, cũng như việc thực hiện chiến lược hay các kế hoạch dài hạn hơn. Bên vay cũng cần xem xét, đánh giá các hậu quả nếu vi phạm một cam kết trong hợp đồng gây ra, ví dụ: việc cấu thành sự kiện vi phạm và phải hoàn trả ngay lập tức khoản vay hay việc châm ngòi cho sự kiện vi phạm chéo. Ngoài ra, thời gian để theo dõi cũng như các nỗ lực để tuân thủ các cam kết cũng là những vấn đề quan trọng mà bên vay cần quan tâm.

Các cam kết chính của một hợp đồng vay bao gồm:

22.1. Cam kết cung cấp thông tin

liên quan Bên cho vay sẽ yêu cầu bên vay cam kết cung cấp các thông tin đến báo cáo tài chính (theo định kỳ hoặc bất thường, hợp nhất hay không hợp nhất). Báo cáo tài chính phải được chuẩn bị theo tiêu chuẩn kế toán mà bên cho vay yêu cầu (thường là tiêu chuẩn kế toán mà bên cho vay dựa vào đó để đánh giá tín dụng). Các báo cáo phải là báo cáo kiểm toán và có chứng nhận của người có thẩm quyền của bên vay. Ngoài ra, bên vay cũng có thể phải cung cấp các chứng nhận tuân thủ đối với một số cam kết tài chính nhất định mà bên cho vay yêu cầu liên quan tới các báo cáo tài chính đó.

Ngoài báo cáo tài chính, bên vay phải cung cấp các thông báo gửi cho các cổ đông, chi tiết các vụ kiện, tranh chấp có thể gây ra các ảnh hưởng bất lợi nghiêm trọng, các thông tin khác liên quan đến tình hình tài chính, kinh doanh và vận hành của bên vay mà bên cho vay có thể yêu cầu (một cách hợp lý).

Bên vay phải thông báo nếu có sự kiện vi phạm xảy ra và đang tiếp diễn. Nếu hợp đồng cho phép thời gian khắc phục sự kiện vi phạm đó, bên vay phải thông báo các hành động và biện pháp đang tiến hành để khắc phục.

22.2. Cam kết liên quan đến vận hành (của bên vay)

Các cam kết này áp đặt những yêu cầu và hạn chế lên các hoạt động của bên vay. Cụ thể:

  • Thẩm quyền: bên vay cần cam kết đã có đủ thẩm quyền và các phê chuẩn cần thiết (kể cả nội bộ hay của cơ quan có thẩm quyền bên ngoài (ví dụ, chấp thuận của các cơ quan nhà nước)) để ký kết và thực hiện giao dịch. Bên vay cũng phải cam kết là các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng là hợp pháp và có giá trị ràng buộc. Cam kết về thẩm quyền kết quan trọng đối với các bên cho vay, đặc biệt khi bên cho vay là bên nước ngoài.
  • Tuân thủ pháp luật: bên vay sẽ tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động của bên vay. Thông thường, cam kết về tuân thủ pháp luật nhấn mạnh tới các lĩnh vực luật cụ thể mà bên vay là đối tượng áp dụng, chẳng hạn luật về môi trường, luật về bảo hiểm, hay luật về hàng không.
  • Cam kết không tạo ra các biện pháp bảo đảm đối với tài sản của mình (negative pledge): đây là cam kết rất quan trọng, đặc biệt là đối với các bên cho vay không có bảo đảm. Cam kết này yêu cầu bên vay không được tạo ra các biện pháp bảo đảm trên tài sản của mình đối với các bên cho vay khác (không trong tổ hợp hợp vốn) và qua đó, bảo vệ khối tài sản của bên vay để trong trường hợp cần thiết, các bên cho vay có thể truy đòi trong trường hợp bên vay mất khả năng thanh toán, phá sản.

Một hậu quả gián tiếp của cam kết không tạo ra các tài sản bảo đảm là hạn chế việc vay nợ và tăng các khoản nợ ngân hàng của bên vay, vì hạn chế này chỉ cho phép bên vay đi vay không có bảo đảm, do đó, cũng hạn chế số lượng ngân hàng có nhu cầu cho vay kiểu này.

Đôi khi bên cho vay cũng áp đặt các điều kiện chặt chẽ hơn, chẳng hạn điều 21.3.(b) của Hợp đồng mẫu LMA còn yêu cầu bên vay không được phép huy động vốn mà bản thân việc huy động vốn đó không tạo ra thêm các tài sản bảo đảm nhưng nếu có hiệu lực tương tự như một tài sản bảo đảm thì bên vay cũng không được phép làm.

Trên thực tế, việc không được phép tạo ra các tài sản bảo đảm là việc gần như không thể thực hiện. Lý do là trong quá trình sản xuất kinh doanh thông thường của bên vay, một số hoạt động cũng đương nhiên tạo ra các tài sản bảo đảm hoặc có hiệu lực như tài sản bảo đảm. Chẳng hạn như trong các giao dịch mua bán hàng hóa trả chậm, bên bán có thể vẫn giữ quyền sở hữu đối với hàng hóa cho tới khi tiền được trả hết; hay quyền cầm giữ của bên đang cầm giữ đối với tài sản cho tới khi tiền được trả xong.

Việc áp dụng điều khoản không tạo lập tài sản bảo đảm và phạm vi áp dụng của điều khoản này phụ thuộc vào việc đàm phán và ý định của mỗi bên. Khi đàm phán điều khoản này, vay cần cân nhắc tới nhu cầu huy động vốn trong tương lai của mình. Bên cạnh đó, bên vay cũng nên tính tới khả năng vay đảo nợ đối với khoản vay hiện tại trên cơ sở có tài sản bảo đảm. bên

  • Bán, xử lý tài sản: Theo quy định này, bên vay phải cam kết không bán hay xử lý các tài sản của mình trong suốt thời hạn khoản vay (mà không có đồng ý trước của ngân hàng). Mục đích của điều khoản này cũng tương tự như điều khoản cam kết không tạo lập tài sản bảo đảm, là nhằm giữ nguyên khối tài sản của bên vay và đề phòng việc bên vay có thể tẩu tán hay giảm bớt tài sản của mình hay dùng tài sản để thỏa mãn các bên chủ nợ khác. Tương tự như trên, sẽ có một số loại trừ cho việc bán hay xử lý tài sản trong quá trình kinh doanh thông thường hay cho một số mục đích mà ngân hàng cho vay có thể chấp nhận được. Bên vay nên cân nhắc kỹ các nhu cầu của mình khi đàm phán điều khoản này để không làm ảnh hưởng tới các hoạt động sau này.
  • Sáp nhập: Các ngân hàng cho vay sẽ muốn đảm bảo xếp hạng tín dụng của bên vay không bị suy giảm do kết quả của việc sáp nhập của bên vay với các tổ chức, công ty khác. Quy định này trong mẫu của LMA là một điều khoản cấm tuyệt đối việc sáp nhập. Bên vay, tương tự như các trường hợp khác, cần cân nhắc ảnh hưởng của quy định này lên khả năng sáp nhập, hay thậm chí là tái cấu trúc trong nội bộ tập đoàn.
  • Thay đổi lĩnh vực kinh doanh: Quy định này không cho phép xảy ra bất kỳ thay đổi đáng kể nào trong lĩnh vực kinh doanh của bên vay. Việc thay đổi lĩnh vực kinh doanh thường gây ảnh hưởng tức thì tới dòng tiền của bên vay và do đó, thay đổi đáng kể đánh giá tín dụng của các bên cho vay đối với bên vay. Trong trường hợp bên vay có nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, cần tính tới việc quy định rõ khái niệm “đáng kể” (material) trong hợp đồng để đảm bảo việc tuân thủ cũng như thuận lợi cho việc tiến hành kinh doanh sau này.

22.3. Cam kết về tài chính

Các cam kết về tài chính xác định một hành lang bằng các chỉ số tài chính mà bên vay được phép hoạt động trong phạm vi đó. Các cam kết về tài chính cho phép các bên cho vay:

  • (i) Theo dõi tình hình tài chính của bên vay theo định kỳ.
  • (ii) Cung cấp một đánh giá tương đối khách quan về tình hình tài chính.
  • (iii) Báo động các bên cho vay về những khó khăn tài chính tiềm tàng của bên vay.

Các cam kết tài chính thường tập trung vào một số hạng mục chính như dòng tiền, lợi nhuận và các rủi ro về tài chính. Có nhiều cách khác nhau để kiểm tra và theo dõi các chỉ số tài chính. Mỗi bên cho vay có thể có các bộ chỉ số và phương thức kiểm tra theo yêu cầu riêng của mình. Tương tự, mỗi khoản vay, mỗi bên cho vay có thể yêu cầu các cam kết tài chính khác nhau phù hợp với hoàn cảnh của giao dịch và bên vay đó. Do vậy, Hợp đồng mẫu LMA không đưa ra các cam kết về tài chính mẫu.

Các cam kết về tài chính không nên quá chặt chẽ hay khó thực hiện vì có thể dễ dàng dẫn tới vi phạm và do đó, châm ngòi cho sự kiện vi phạm. Điểm thuận lợi của các cam kết tài chính là chúng cho phép tiến hành một kiểm tra khách quan về tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các cam kết tài chính cũng có nhiều bất lợi.

Những bất lợi của cam kết tài chính:

  • Một vi phạm về cam kết tài chính không phải lúc nào cũng có thể phát hiện ra ngay. Lý do là bởi, các báo cáo tài chính chỉ được thực hiện theo định kỳ và nhiều chỉ số về tài chính chỉ có thể có được khi đó.
  • Các phương pháp kế toán khác nhau có thể cho ra các kết quả khác nhau. Tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán của Việt Nam hiện nay về cơ bản áp dụng các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán quốc tế nhưng không áp dụng đầy đủ. Do vậy, các báo cáo tài chính theo tiêu chuẩn Việt Nam có thể đưa ra một bức tranh khác về tình hình tài chính của doanh nghiệp so với báo cáo theo tiêu chuẩn tài chính quốc tế.
  • Các thay đổi về tiêu chuẩn kế toán (hay áp dụng một tiêu chuẩn kế toán cao hơn) có thể dẫn đến những hệ quả mà các bên không mong muốn và có thể dẫn đến một sự kiện vi phạm có tính kỹ thuật của bên vay. Một sự kiện vi phạm, dù là kỹ thuật, cũng có hậu quả to lớn như một sự kiện vi phạm thực sự.

Khi kiểm tra các chỉ số tài chính đưa ra trong các cam kết tài chính, một số bài kiểm tra thường áp dụng nhất là:

  • Chỉ số tài sản ròng tối thiểu (minimum net worth ratio): là giá trị của tài sản hữu hình (không bao gồm các tài sản vô hình) sau khi trừ đi toàn bộ các nghĩa vụ nợ. Chỉ số tài sản ròng tối thiểu phải cao hơn một con số tối thiểu do ngân hàng cho vay đưa ra. Chỉ số này nhằm đo lường vốn và khả năng thanh toán. Chỉ số này đảm bảo giá trị tài sản của bên vay phải đủ để hoàn trả các nghĩa vụ nợ và nhằm hạn chế việc bán các tài sản tạo ra doanh thu để hoàn trả các khoản vay khi doanh thu thụt giảm. Chỉ số tài sản ròng tối thiểu thường bổ sung cho chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu, do đó thường được dùng để hạn chế việc vi phạm quy định về chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu.
  • Chỉ số tài sản hiện hữu (current ratio): là chỉ số giữa nghĩa vụ nợ hiện tại với tài sản hiện tại. Chỉ số này cho phép đánh giá khả năng về dòng tiền của bên vay và do đó, cho thấy liệu bên vay làm ăn có lãi hay không và có đủ nguồn lực thanh khoản để trả các khoản nợ mà không phải bán bớt đi tài sản.
  • Chỉ số vốn lưu động tối thiểu (minimum working capital): là chỉ số yêu cầu một số lượng tài sản tối thiểu phải duy trì sau khi trừ đi các nghĩa vụ nợ. Chỉ số này xác định một cách tương đối phần thanh khoản trong tài sản của bên vay và nhằm mục đích duy trì khả năng thanh khoản của công ty.
  • Chỉ số khả năng trả lãi (interest cover): là chỉ số giữa lợi nhuận thu được từ kinh doanh và tiền lãi vay phải trả. Đây là chỉ số nhằm kiểm soát tính thanh khoản và việc vay nợ của bên vay. Trong chỉ số này, lợi nhuận được tính trên cơ sở sau khi trừ đi thuế và lãi phải trả.
  • Chỉ số giữa nợ và vốn chủ sở hữu (debt equity ratio): Bài kiểm tra này nhằm so sánh giữa giá trị tài sản ròng và nghĩa vụ nợ, hoặc một nhóm nghĩa vụ nợ. Bài kiểm tra sẽ cho phép biết được giá trị của tài sản để đáp ứng khả năng trả nợ đó. Thông thường, chỉ số này sẽ giới hạn khoản nợ của bên vay so với (một cấp số nhân của) tài sản. Các khoản nợ có thể được tính không bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ trong giao dịch mua bán thông thường hay các khoản nợ ngắn hạn mà không phải là nợ ngân hàng. Vốn chủ sở hữu được tính bao gồm vốn và các khoản lợi nhuận để lại dưới dạng tài sản hữu hình. Các tài sản vô hình sẽ bị loại ra do các tài sản này hầu như không có giá trị gì khi doanh nghiệp phá sản và thanh tài sản. Cũng như các chỉ số tài chính khác, chỉ số này nhằm ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản và đảm bảo bên vay luôn có đủ tiền để trả nợ.

22.4. Những lưu ý cho bên vay

Bên vay cần lưu ý và cân nhắc cẩn thận các cam kết về tài chính để đảm bảo hiểu rõ các tác động cả về kế toán và vận hành của các cam kết này. Điều quan trọng nhất là đảm bảo các cam kết tài chính này là những bài kiểm tra phù hợp với tình hình tài chính của bên vay và có thể chấp nhận được. Một số chỉ số có thể không tạo ra các rủi ro đáng kể về mặt tín dụng, nhưng có thể tạo ra rất nhiều khó khăn cho bên vay trong quá trình tuân thủ. 

Chẳng hạn, cam kết về tài sản ròng tối thiểu: sự suy giảm về tài sản ròng ít khi làm ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng, tuy nhiên việc vi phạm cam kết này sẽ rất khó sửa chữa do tài sản đang trong xu hướng giảm. Cam kết này cũng có thể ngăn chặn việc tái cấu trúc hay chiến lược bán tài sản của bên vay.

22.5. Vi phạm cam kết

Việc vi phạm các cam kết trong hợp đồng vay có thể dẫn đến sự kiện vi phạm. Chế tài lớn nhất mà ngân hàng cho vay có thể thực hiện khi xảy ra sự kiện vi phạm là yêu cầu hoàn trả ngay lập tức các khoản vay. Sự kiện này, khi đó, có thể dẫn tới việc một loạt các chủ nợ khác tuyên bố sự kiện vi phạm chéo trong các hợp đồng vay của bên vay ký với họ.

Việc này cho thấy, cho dù doanh nghiệp có thể không bị phá sản, nhưng việc kiểm soát các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là nằm trong tay của doanh nghiệp, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện và hạn chế nghiêm ngặt do các chủ nợ áp đặt.

Mặc dù hợp đồng vay trao cho các ngân hàng quyền lực và vị thế rất lớn trong việc đàm phán với bên vay khi xảy ra sự kiện vi phạm, việc đòi lại khoản vay sẽ không giải quyết được các cam kết đã bị vi phạm (tức là không đảm bảo các chỉ số được đáp ứng và tuân thủ), hay không thể dừng một thỏa thuận mua bán, sáp nhập cũng như không làm vô hiệu một cam kết không cung cấp tài sản bảo đảm đã ký.

Việc tuyên bố sự kiện vi phạm cũng là điều mà các ngân hàng cho vay phải cân nhắc kỹ, do việc xảy ra sự kiện vi phạm có thể dẫn tới phá sản một doanh nghiệp đang hoạt động bình thường và gây khó khăn cho chính việc thu hồi lại khoản nợ.

Do đó, khi gặp khó khăn trong việc tuân thủ các cam kết, cách tốt nhất cho bên vay là yêu cầu sự chấp thuận của các ngân hàng cho vay giảm nhẹ các cam kết đó. Điều hết sức quan trọng là bên vay phải tiếp cận các ngân hàng trước khi xảy ra việc vi phạm, giải thích các khó khăn và đề xuất các hành động khắc phục hơn là để tới khi vi phạm rồi sau đó mới tìm cách khắc phục.

23. Sự kiện vi phạm (Điều 22)

23.1. Quy định

Trong hầu hết các hợp đồng giao dịch thương mại, các bên trong hợp đồng sẽ yêu cầu quyền được chấm dứt sớm hợp đồng nếu một bên:

  • (i) vi phạm hợp đồng một cách nghiêm trọng.
  • (ii) không có khả năng thực hiện hợp đồng.

Mục đích của điều khoản sự kiện vi phạm chủ yếu là để đảm bảo quyền và vị thế của các ngân hàng cho vay và cho các ngân hàng này sự linh hoạt và các lựa chọn khi xảy ra vi phạm. Điều khoản này đảm bảo bên cho vay có quyền chấm dứt hợp đồng theo chính các quy định trong hợp đồng và không phải dựa vào bất kỳ quy định nào khác của luật. Điều khoản sự kiện vi phạm không nhằm mục đích thu về các khoản bồi thường cho thiệt hại. Trên thực tế, các ngân hàng cho vay không nhất thiết phải chấm dứt hợp đồng, mà thông thường, là dùng quyền chấm dứt đó để yêu cầu bên vay phải thỏa mãn một số yêu cầu hoặc ngồi vào bàn đàm phán.

Điều khoản sự kiện vi phạm thường được soạn thảo dựa trên các yêu cầu về thương mại của giao dịch, và chỉ bao gồm các sự kiện, mà nếu xảy ra, sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng thực hiện các nghĩa vụ của bên vay trong hợp đồng; hoặc làm tăng đáng kể rủi ro về tín dụng của bên cho vay.

Trên thực tế, việc chấm dứt hợp đồng theo điều khoản vi phạm không phải là tự động khi xảy ra một sự kiện vi phạm. Điều này cho phép các bên có đủ thời gian xem xét tính nghiêm trọng của sự kiện đó. Đồng thời, ngân hàng cho vay phải gửi thông báo và quy định các hành động được phép thực hiện khi có sự kiện vi phạm. Các quyền này cũng cần được quy định cụ thể trong hợp đồng. Các ngân hàng cho vay cũng có thể lựa chọn không gửi ra một thông báo về sự kiện vi phạm, hoặc từ bỏ quyền đưa ra thông báo đó.

Trong nhiều trường hợp, các bên có thể thỏa thuận về một khoảng thời gian ân hạn nhất định để bên vay khắc phục các vi phạm nếu vi phạm đó có thể khắc phục được. Một lưu ý đối với các ngân hàng cho vay, là chấp thuận về thời gian ân hạn, hay từ bỏ liên quan đến sự kiện vi phạm, cần tuyên bố rõ việc ân hạn, hay từ bỏ đó không làm mất đi các quyền của bên cho vay hay được hiểu là sự từ bỏ của bên cho vay đối với các quyền chấm dứt hợp đồng tương tự khác mà mình có. Điều này nhằm tránh một rủi ro về mặt pháp lý là việc từ bỏ một số quyền, có thể được bên vay dùng làm căn cứ để biện luận là bên cho vay cũng từ bỏ các quyền tương tự khác.

23.2. Các lưu ý đối với bên vay khi đàm phán điều khoản này

  • Bên vay nên cố gắng loại bỏ các sự kiện nhỏ, các sự kiện ảnh hưởng tới tài sản, tình hình của các công ty con của bên vay mà không có tác động nhiều tới tình hình tín dụng của mình, hoặc các vấn đề mang tính đánh giá chủ quan (ví dụ, các sự kiện bất lợi nghiêm trọng).
  • Đảm bảo là không có quá nhiều sự kiện vi phạm.
  • Bên vay cần cân nhắc cẩn trọng các sự kiện có thể vượt ngoài tầm kiểm soát của mình.
  • Bên vay nên cố gắng đàm phán tính “đáng kể” hay “nghiêm trọng” trong các sự kiện vi phạm, chẳng hạn mỗi sự kiện vi phạm đối với các cam đoan, bảo đảm hay cam kết phải là một vi phạm “đáng kể” hay “nghiêm trọng”.
  • Đàm phán thời gian ân hạn nếu có thể. Trong nhiều trường hợp, nên đàm phán cả tính “đáng kể” và thời gian ân hạn cho sự kiện vi phạm.
  • Bên vay cần hết sức lưu ý là việc xảy ra một sự kiện vi phạm có thể châm ngòi cho các sự kiện vi phạm chéo. Điều này dẫn tới hậu quả là các nghĩa vụ của bên vay trong các hợp đồng vay khác cũng có thể bị tuyên đến hạn và phải hoàn trả ngay lập tức, và trong phần lớn các trường hợp, có thể dẫn đến phá sản.

Điều khoản sự kiện vi phạm thường quy định một số sự kiện hay tình huống dẫn đến sự kiện vi phạm như sau:

  • Không thanh toán/hoàn trả: Việc hoàn trả khoản vay phải được thực hiện bằng đồng tiền đi vay. Việc không hoàn trả đúng hạn cho thấy bên vay có thể có các vấn đề về tài chính. Đối với ngân hàng cho vay, do ngân hàng đi huy động tiết kiệm để cho vay nên nếu bên vay không hoàn trả đúng hạn, ngân hàng sẽ phải huy động tiền từ nguồn khác (thường là trên thị trường liên ngân hàng) để bù đắp khoản chậm trả đó. Đối với sự kiện không thanh toán, bên cho vay thường chỉ chấp nhận cho phép thời gian ân hạn nếu việc không thanh toán là do sự việc nằm ngoài tầm kiểm soát của bên vay.
  • Cam kết tài chính: Không tuân thủ bất kỳ cam kết tài chính nào sẽ là một sự kiện vi phạm.
  • Các nghĩa vụ khác: Việc vi phạm các nghĩa vụ khác, không phải là nghĩa vụ thanh toán cũng là một sự kiện vi phạm, trừ khi được khắc phục trong thời gian ân hạn. Thời gian ân hạn thường bắt đầu từ ngày bên cho vay đưa ra thông báo về vi phạm đó cho tới hết một thời hạn mà bên cho vay cho phép.
  • Cam đoan sai: Việc bên vay đưa ra các tuyên bố sai hoặc không chính xác sẽ là một sự kiện vi phạm. Đưa ra cam đoan sai theo quy định của pháp luật hợp đồng của Việt Nam có thể coi là sự lừa dối và do đó, dẫn đến vô hiệu hợp đồng.
  • Vi phạm chéo: Đây có thể coi là hiệu ứng domino của sự kiện vi phạm. Điều khoản này cho phép bên cho vay tuyên bố sự kiện vi phạm nếu bên vay không hoàn trả hay có một sự kiện vi phạm khác đang xảy ra trong các hợp đồng vay khác của bên vay. Điều khoản này đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ nợ của bên vay: nếu không có điều khoản này, một chủ nợ mà khoản vay chưa đến hạn hay bị vi phạm sẽ ở vào vị trí bất lợi hơn so với chủ nợ mà khoản vay bị vi phạm. Lý do của việc này là, một chủ nợ có thể cho rằng nếu bên vay không trả nợ được khoản vay với người khác thì bên vay hoàn toàn có thể không trả nợ khoản vay của mình.

Do đó, một chủ nợ có điều khoản vi phạm chéo có thể chấm dứt hợp đồng hoặc đặt ra các điều kiện cao hơn và có lợi hơn cho mình trong khi các chủ nợ không được bảo vệ bởi điều khoản này phải đợi tới khi có sự kiện vi phạm thực tế thì mới có thể hành động. Điều khoản vi phạm chéo, do đó đảm bảo các chủ nợ có thể cùng ngồi lại và bàn bạc với nhau về việc tái cấu trúc, khôi phục bên vay và các chủ nợ có thể được đối xử bình đẳng.

Khi đàm phán điều khoản này, bên vay cần chú ý và đảm bảo những nội dung sau:

Hạn chế các khoản nợ sẽ bị xem xét trong sự kiện vi phạm chéo, thường chỉ nên xem xét các khoản nợ ngân hàng.

  • Việc vi phạm phải là “đáng kể”: thường thì bằng cách đưa ra một “hạn mức” cho khoản tiền vi phạm mà nếu dưới hạn mức đó thì bên cho vay không được phép tuyên bố “sự kiện vi phạm chéo”.
  • Nếu việc vi phạm là do các tranh chấp hay tranh cãi có thiện chí (tức là không phải các tranh cãi do vi phạm hợp đồng nghiêm trọng) giữa bên vay và chủ nợ khác thì cũng cần được loại bỏ khỏi sự kiện vi phạm chéo.
  • Việc tuyên bố sự kiện vi phạm chéo chỉ được thực hiện sau khi thời gian ân hạn đã hết mà vi phạm không được khắc phục, hoặc chỉ được coi là sự kiện vi phạm nếu như khoản vay đã thực sự bị yêu cầu hoàn trả và nếu chủ nợ khác đã từ bỏ tuyên bố sự kiện vi phạm thì không được tính.
  • Đối với bên vay là một quốc gia thì sự kiện vi phạm chéo chỉ được tính cho các khoản nợ nước ngoài, mà không tính cho các khoản nợ nội địa.

Mất khả năng thanh toán hoặc đang thực hiện thủ tục phá sản:

  • Sẽ là một sự kiện vi phạm nếu bên vay không có khả năng, hoặc thừa nhận không có khả năng thanh toán một khoản nợ tới hạn; khi nợ lớn hơn tài sản hoặc bị tuyên bố mất khả năng thanh toán.
  • Trường hợp bên vay đang bị kiện phá sản, đang có thủ tục phá sản tiến hành với bên vay hay có quản tài viên, người thanh lý tài sản được chỉ định liên quan đến tài sản của bên vay cũng sẽ được xem là sự kiện vi phạm.
  • Các thủ tục do chủ nợ tiến hành: nếu các chủ nợ tiến hành thu giữ tài sản, hay thực hiện các thủ tục khác làm ảnh hưởng đến tài sản của bên vay thì cũng được coi là sự kiện vi phạm. Tương tự như sự kiện vi phạm chéo, bên vay có thể tính tới đàm phán một “hạn mức” đối với sự kiện này.
  • Thay đổi quyền kiểm soát: nếu chủ sở hữu của bên hoặc một công ty con (thường là có tài sản quan trọng của bên vay) không còn là chủ sở hữu hoặc công ty con nữa sẽ tạo thành một sự kiện vi phạm. Ngân hàng cho vay khi đánh giá tín dụng của bên vay có thể dựa vào dòng tiền hoặc tài sản của các công ty liên quan của bên vay, và do đó, những thay đổi trong sở hữu sẽ được các bên cho vay cân nhắc nếu làm ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng của khoản vay. Bên vay khi đàm phán có thể lập luận để đưa điều khoản này vào phần cam kết, thay vì sự kiện vi phạm (để tránh hậu quả rất lớn của sự kiện vi phạm chéo).
  • Bất hợp pháp: nếu luật pháp thay đổi và làm cho các bên vay (hoặc bên cho vay) không được phép thực hiện hợp đồng vay nữa. Bên cho vay có thể đàm phán để đưa sự kiện này thành sự kiện hoàn trả trước hạn bắt buộc, thay vì sự kiện vi phạm (để tránh vi phạm chéo).
  • Từ bỏ nghĩa vụ: khi bên vay từ chối, từ bỏ hoặc có ý định từ bỏ việc thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng.
  • Ảnh hưởng bất lợi nghiêm trọng: điều khoản này cho phép ngân hàng cho vay chấm dứt hợp đồng và đòi lại tiền nếu có những ảnh hưởng bất lợi nghiêm trọng đến hoạt động hoặc tình hình tài chính hay sản xuất kinh doanh của bên vay. Thế nào là một ảnh hưởng bất lợi nghiêm trọng thường là do bên cho vay giữ quyền định đoạt. Ý nghĩa rộng rãi của điều khoản này khiến nội dung quy định của điều khoản không rõ ràng và thường gây rất nhiều tranh cãi từ phía bên vay, cũng như là cho việc chứng minh thế nào là “bất lợi nghiêm trọng” trở nên rất khó khăn. Các ngân hàng cho vay, do đó, sẽ không dễ dàng dựa vào điều khoản này để tuyên bố một sự kiện vi phạm. Bên vay có thể lập luận rằng hợp đồng vay đã quy định các điều kiện rất toàn diện và chặt chẽ rồi nên điều khoản này chỉ được đưa vào trong những trường hợp đặc biệt.

24. Khắc phục sự kiện vi phạm

Khi xảy ra sự kiện vi phạm, bên cho vay được quyền gửi thông báo cho bên vay trong đó tuyên bố:

  • (i) hủy bỏ các khoản cam kết chưa sử dụng.
  • (ii) tuyên bố các khoản vay đang còn nợ sẽ được xem là đến hạn và phải hoàn trả ngay lập tức.

Quyền này của bên cho vay được gọi là quyền đòi trả nợ trước hạn. Bên cho vay phải cân nhắc quyền này một cách cẩn trọng, tính đến tình hình tài chính hiện tại và xếp hạng tín dụng của bên vay trước khi đưa ra một quyết định cụ thể. Bên cho vay có thể tính đến các hành động sau

  • (i) Bỏ qua vi phạm đó.
  • (ii) Buộc bên vay đàm phán lại các điều khoản của hợp đồng.
  • (iii) Thông báo việc có thể đòi nợ bất kỳ lúc nào.
  • (iv) Yêu cầu hoàn trả ngay lập tức.

Bỏ qua vi phạm: nếu vi phạm là nhỏ và có thể khắc phục, không phản ánh đúng tình hình tài chính của bên vay thì bên cho vay có thể bỏ qua vi phạm này. Nếu vi phạm là nghiêm trọng nhưng cũng chưa dẫn đến hậu quả đáng kể nào, bên vay cũng có thể bỏ qua. Việc từ bỏ không tuyên bố sự kiện vi phạm phải được lập bằng văn bản và đề cập cụ thể tới vi phạm. Bên cho vay, tuy nhiên, có thể yêu cầu bên vay thông báo, cập nhật thường xuyên hơn về tình hình hoạt động và các vi phạm tiềm tàng.

Đàm phán lại hợp đồng: nếu vi phạm là nghiêm trọng và làm ảnh hưởng tới xếp hạng tín dụng hay tình hình tài chính của bên vay đang xấu đi, bên cho vay có thể yêu cầu đàm phán lại hợp đồng vay. Tùy từng trường hợp cụ thể, bên cho vay có thể yêu cầu tăng lãi suất, bổ tài sản bảo đảm hoặc bổ sung bảo lãnh của bên thứ ba, gia hạn thời hạn trả nợ hoặc siết chặt hơn các cam kết, đặc biệt các cam kết về vay nợ mới hay định đoạt tài sản.

Yêu cầu thanh toán bất kỳ lúc nào: trong trường hợp ảnh hưởng của một vi phạm lên tình hình tài chính và tín dụng của bên vay là chưa rõ ràng, các ngân hàng cho vay có thể lựa chọn đặt khoản vay vào tình trạng có thể đòi yêu cầu thanh toán bất kỳ lúc nào (repayment on demand) cho tới khi các ảnh hưởng này được đánh giá rõ ràng hơn. Khi đưa khoản vay vào tình trạng này, bên cho vay có thể yêu cầu thanh toán bất kỳ lúc nào. Bên cạnh đó, sau khi đã có đánh giá đầy đủ, bên cho vay có thể lựa chọn một trong các biện pháp xử lý đề cập tại phần này: bỏ qua, đàm phán lại hoặc yêu cầu hoàn trả ngay lập tức.

Yêu cầu hoàn trả ngay lập tức: là lựa chọn cuối cùng của bên cho vay. Thường thì trừ khi tình hình tài chính của bên vay là không thể cải thiện, hoặc việc phá sản là không thể tránh khỏi, ngân hàng cho vay sẽ không sử dụng tới quyền này. Hậu quả của việc yêu cầu hoàn trả ngay lập tức là rất nặng nề và trong hầu hết các trường hợp, sẽ châm ngòi hiệu ứng vi phạm chéo và gần như chắc chắn dẫn đến sự phá sản của bên vay.

25. Thay đổi các bên trong hợp đồng vay (Điều 23)

Điều khoản này quy định các vấn đề liên quan quan đến việc thay đổi bên cho vay, các quyền và nghĩa vụ của bên vay là các bên liên quan trong trường hợp thay đổi bên cho vay. Việc thay đổi bên cho vay có thể xảy ra do ngân hàng cho vay chuyển nhượng khoản nợ cho bên thứ ba. Bên vay có thể chuyển nhượng khoản nợ (chính xác là quyền đòi nợ) bằng một hợp đồng mua bán nợ, hoặc cũng có thể chuyển nhượng toàn bộ quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng vay (nếu khoản vay còn chưa giải ngân xong) bằng một hợp đồng chuyển giao quyền và nghĩa vụ (novation). Các bên không thể chuyển nhượng các nghĩa vụ trong hợp đồng mà không có sự chấp thuận của bên có quyền.

Điều khoản này quy định các điều kiện mà bên vay có thể chuyển nhượng khoản vay và các nội dung liên quan đến việc nếu có một bên vay mới (thường là công ty con của bên vay) được thêm vào hợp đồng vay; hoặc một bên không còn là một bên cho vay; hoặc có thêm hay rút bớt các bên bảo lãnh.

26. Thỏa thuận về hợp vốn (Điều 25)

Trong hợp đồng cho vay hợp vốn sẽ có một phần riêng quy định về việc hợp vốn giữa các ngân hàng: khoản vay được hợp vốn ra sao, vai trò của ngân hàng đầu mối thu xếp, ngân hàng đại lý và nghĩa vụ của các bên.

Các nội dung sau sẽ được quy định trong phần này

  • Việc chỉ định ngân hàng đại lý.
  • Vai trò của ngân hàng đầu mối thu xếp.
  • Loại trừ nghĩa vụ của người quản lý tài sản hay chăm sóc quyền lợi (fiduciary duty) của ngân hàng đầu mối thu xếp hay ngân hàng đại lý với các ngân hàng cho vay khác.
  • Cơ chế ra quyết định của tổ hợp hợp vốn, các vấn đề sẽ được quyết định bởi ngân hàng cho vay đa số.
  • Bồi hoàn của tổ hợp cho vay cho ngân hàng đại lý.
  • Miễn trừ nghĩa vụ ngầm định của ngân hàng đại lý.
  • Cơ chế cho việc rút lui và thay thế ngân hàng đại lý.
  • Xác nhận của mỗi bên cho vay về tính “dân chủ trong hợp vốn”, tức là các bên tự chịu trách nhiệm về các đánh giá của mình, mỗi bên hành động độc lập và không bên nào chịu trách nhiệm hay bảo lãnh cho bên khác.

27. Các điều khoản chung khác

Một số điều khoản chung khác được quy định hợp đồng vay hợp vốn như sau:

  • Cơ chế thanh toán: quy định về việc thanh toán tiền và các vấn đề khác liên quan đến thanh toán. Khoản thanh toán phải bằng loại tiền tệ của nghĩa vụ thanh toán, vào ngày thanh toán và tại địa điểm thanh toán. Trong mọi trường hợp, bên nhận thanh toán tránh mọi rủi liên quan đến thanh toán bằng cách chuyển các rủi ro thanh toán cho bên phải trả tiền thông qua các quy định bên trên.
  • Các khoản thanh toán của bên vay không được có bù trừ hay khấu trừ.
  • Ngân hàng đại lý có quyền bù trừ nghĩa vụ giữa các nghĩa vụ của ngân hàng cho vay với bên vay. Ngân hàng đại lý cũng được bảo vệ bởi điều khoản “đòi lại tiền” (clawback) trong trường hợp đã dùng tiền của mình thanh toán trước cho các bên cho vay.
  • Bù trừ nghĩa vụ: đây là điều khoản quan trọng trong tất cả các hợp đồng vay.
  • Thông báo: các quy định về cách thức, phương thức và địa chỉ thông báo của các bên liên quan đến giao dịch.
  • Tính toán và chứng nhận: quy định việc tính toán các khoản tiền trong hợp đồng và bằng chứng về việc tính toán này. Thông thường, hợp đồng sẽ quy định các bằng chứng về tính toán do các bên cho vay hay ngân hàng đại lý đưa ra là chung cuộc và chính xác.
  • Vô hiệu một phần: quy định việc vô hiệu một phần không làm vô hiệu toàn bộ hợp đồng.
  • Các biện pháp chế tài và từ bỏ: quy định việc bên cho vay không thực hiện, trì hoãn một quyền hay chế tài nào đó không có nghĩa hay được hiểu là việc từ bỏ quyền hay chế tài đó. Việc từ bỏ một chế tài hay quyền cũng không được hiểu là sẽ tự động từ bỏ các quyền hay chế tài khác.
  • Sửa đổi, bổ sung: quy định các cơ chế cho việc sửa đổi hợp đồng, các sửa đổi do bên cho vay tự quyết định mà không cần bên vay đồng ý, các vấn đề sửa đổi bên cho vay đa số có thể tự quyết định và các vấn đề cần sự đồng thuận của tất cả các bên.
  • Ký nhiều bản: khi hợp đồng cho vay hợp vốn có nhiều bên cho vay tham gia và các bên không thể tụ họp tại một điểm để ký kết (ví dụ, các bên cho vay ở nước ngoài), hợp đồng cho phép mỗi bên ký riêng một bản của hợp đồng và các bản có chữ ký riêng khi gộp lại sẽ tạo thành một hợp đồng duy nhất và có hiệu lực.

Luật điều chỉnh và phương thức giải quyết tranh chấp: lựa chọn luật điều chỉnh một hợp đồng hợp vốn là một vấn đề phức tạp và đòi hỏi sự cân nhắc của các bên. Thông lệ quốc tế là dùng luật pháp Anh và trọng tài hoặc tòa án Anh cho các hợp đồng hợp vốn quốc tế. Việc lựa chọn trọng tài quốc tế sẽ có nhiều thuận lợi hơn tòa án do bản án của tòa án nước ngoài có thể phải được xét xử lại tại quốc gia của bên vay và do đó, không chắc chắn đối với bên cho vay. Hầu hết các nước cho phép công nhận và thi hành bản án trọng tài nước ngoài theo Công ước New York 1958. Việt Nam cũng là một thành viên của Công ước New York và về nguyên tắc, tòa án Việt Nam có thể công nhận và thi hành bản án trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :