Home / Tài Chính / Hệ thống tài chính là gì: vai trò, chức năng, cơ cấu tổ chức

Hệ thống tài chính là gì: vai trò, chức năng, cơ cấu tổ chức

/

Hệ thống tài chính trong một quốc gia được xác định bao gồm các tổ chức tài chính và thị trường tài chính.

hệ thống tài chính là gì

1. Hệ thống tài chính là gì?

Hệ thống tài chính trong một quốc gia được xác định bao gồm các tổ chức tài chính (ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác) và thị trường tài chính (như là các cổ phiếu, trái phiếu và công cụ tài chính phái sinh). Nó cũng bao gồm cả cơ sở hạ tầng tài chính (bao gồm,ví dụ như hệ thống chia sẻ thông tin tín dụng và hệ thống thanh toán và quyết toán).

2. Các thị trường tài chính

Nơi các chủ thể có thể chuyển dịch quỹ tiền với nhau một cách trực tiếp. Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng các tài sản tài chính ngắn hạn hoặc dài hạn thông qua các công cụ tài chính nhất định. Phân loại, đặc điểm của thị trường tài chính sẽ được trình bày đầy đủ hơn ở chương tiếp theo.

3. Các tổ chức tài chính

Là các chủ thể kinh tế đóng vai trò trung gian, giúp hỗ trợ và dịch chuyển quỹ tiền tệ một cách gián tiếp. Trung gian tài chính là những tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ. Hoạt động của các tổ chức này là thu hút, tập hợp các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính – tiền tệ cung ứng cho những nơi có nhu cầu về vốn.

4. Các loại hình trung gian tài chính

Bao gồm: Ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ trợ cấp hưu trí (bảo hiểm xã hội), quỹ đầu tư tương hỗ.

5. Tài sản, công cụ tài chính

Trong khi năng lực sản xuất của một nền kinh tế phụ thuộc vào các tài sản thực như đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị và tri thức, thì năng lực lưu chuyển vốn của hệ thống tài chính phụ thuộc vào các tài sản tài chính. Tài sản tài chính như tiền gửi ngân hàng, trái phiếu, cổ phiếu thực chất là một hợp đồng trao cho người sở hữu quyền được hưởng một dòng tiền trong tương lai do một hay nhiều tài sản thực tạo ra.

Khi tài sản tài chính được thiết kế để có thể mua đi bán lại thì nó được gọi là công cụ tài chính. Ví dụ, tài khoản tiền gửi ngân hàng trao cho chủ tài khoản quyền được hưởng tiền lãi và tiền gốc trong tương lai nên được coi là tài sản tài chính, nhưng không thể mua bán lại nên không được xem là công cụ tài chính. Cổ phiếu là công cụ tài chính vì nó trao cho cổ đông quyền được hưởng cổ tức trong tương lai và cổ đông có thể bán đi hay mua thêm cổ phiếu này tại thời điểm thích hợp

6. Cơ sở hạ tầng tài chính

Hệ thống tài chính còn chịu sự tác động bởi các cơ quan quản lý của chính phủ và các ngân hàng trung ương, các cơ quan này tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vận hành, giám sát vận hành và can thiệp khi có những thất bại của hệ thống. Cơ sở hạ tầng tài chính là khuôn khổ các luật lệ làm nền tảng để các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân lập kế hoạch và thực hiện các giao dịch tài chính với các trung gian tài chính. Cơ sở hạ tầng tài chính hỗ trợ và thúc đẩy sự hoạt động hiệu quả của hệ thống tài chính.

Các thành phần của cơ sở hạ tầng tài chính bao gồm:

  • Hệ thống luật pháp và quản lý nhà nước, bao gồm các cơ chế thực hiện hợp đồng.
  • Hệ thống giám sát tài chính.
  • Hệ thống cung cấp thông tin, ví dụ như luật và thông lệ kế toán, kiểm toán, phòng đăng ký và lưu trữ thông tin tín dụng, tổ chức xếp hạng tín dụng.
  • Hệ thống thanh toán và hỗ trợ giao dịch chứng khoán, ví dụ như dịch vụ giao dịch và niêm yết, luật giao dịch chứng khoán, cơ sở hạ tầng thông tin.
  • Hệ thống dịch vụ chứng khoán.
  • Nguồn nhân lực tài chính.

7. Cơ sở hạ tầng tài chính tài Việt Nam

Hệ thống luật pháp và quản lý của nhà nước: Tính đến thời điểm hiện tại, với bối cảnh và điều kiện thực tiễn ở Việt Nam thì hệ thống luật pháp được đánh giá là tương đối đầy đủ để hệ thống tài chính hoạt động. Hiện đã có Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm, Luật Chứng khoán.

Tuy nhiên vấn đề quản lý nhà nước chưa thực sự đồng bộ và thống nhất. Một số tổ chức có quy mô hoạt động tín dụng rất lớn nhưng không chịu sự chi phối của Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước như Quỹ Hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển địa phương. Tổng tài sản của Quỹ hỗ trợ phát triển có thể lớn hơn tổng tài sản của ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

8. Nguồn lực và thông lệ giám sát

Theo đánh giá thì nguồn lực và các thông lệ giám sát chưa đáp ứng nhu cầu cho hệ thống tài chính hoạt động lành mạnh, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

9. Cung cấp thông tin

Hiện nay các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói chung đang từng bước áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. Các quy định về kiểm toán vẫn chưa thực sự đầy đủ và được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Hiện vẫn chưa có hệ thống lưu trữ thông tin tín dụng và tổ chức xếp loại tín dụng đủ độ tin cậy. Hiện trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang đảm nhận nhiệm vụ này. Tuy nhiên để trở thành một tổ chức có độ tin cậy cao thì CIC còn rất nhiều việc phải làm.

10. Hệ thống thanh toán

Trước năm 2000, hầu hết các tổ chức tài chính ở Việt Nam sử dụng hệ thống thanh toán phân tán. Nhưng từ năm 2000 đến nay, các tổ chức tài chính, nhất là các ngân hàng thương mại đã xây dựng hệ thống thanh toán tập trung. Từ năm 2002, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Đây là một bước tiến trong việc áp dụng công nghệ thanh toán của hệ thống tài chính Việt Nam. Khi tất cả các ngân hàng xây dựng xong hệ thống này thì công nghệ thanh toán của hệ thống tài chính Việt Nam là đảm bảo.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :