Home / Tài Chính / Chứng khoán nợ: phân loại & so sánh với chứng khoán vốn

Chứng khoán nợ: phân loại & so sánh với chứng khoán vốn

/

Chứng khoán nợ bao gồm một số loại chứng khoán phổ biến như trái phiếu, kỳ phiếu, và thương phiếu ngắn hạn, trong đó trái phiếu chiếm phần chủ yếu của thị trường chứng khoán nợ.

Chứng khoán nợ

1. Chứng khoán nợ là gì?

Chứng khoán nợ bao gồm một số loại chứng khoán phổ biến như trái phiếu, kỳ phiếu, và thương phiếu ngắn hạn, trong đó trái phiếu chiếm phần chủ yếu của thị trường chứng khoán nợ. Trái phiếu, cùng với cổ phiếu tạo thành thị trường vốn. Cổ phiếu tạo thành thị trường chứng khoán và trái phiếu tạo thành thị trường chứng khoán nợ. Trái phiếu là một hình thức vay nợ, cũng tương tự như khoản vay ngân hàng.

2. Phát hành trái phiếu là gì?

Trái phiếu có thể mô tả ngắn gọn là khoản vay của tổ chức phát hành từ các nhà đầu tư của trái phiếu đó. Khoản vay này được quy định trong chứng chỉ trái phiếu do công ty đi vay phát hành cho các nhà đầu tư. Trái phiếu có thể tự do mua bán, chuyển nhượng trên thị trường trái phiếu. Phát hành trái phiếu có thể xem tương tự như một khoản vay hợp vốn của công ty phát hành với các nhà đầu tư trái phiếu.

Việc phát hành trái phiếu thường do các ngân hàng (thường là ngân hàng đầu tư) thu xếp thực hiện. Tương tự như cho vay hợp vốn, các ngân hàng thu xếp hành động dưới sự tổ chức của một ngân hàng thu xếp đầu mối. Ngân hàng thu xếp có thể ký kết hợp đồng mua trái phiếu với công ty phát hành và mua số trái phiếu phát hành đó (trong trường hợp này ngân hàng thu xếp trở thành ngân hàng bảo lãnh phát hành). Việc mua bán trái phiếu được thực hiện căn cứ trên một tài liệu gọi là bản cáo bạch (hay công bố thông tin), trong đó cung cấp các thông tin chi tiết về công ty phát hành và đợt phát hành trái phiếu.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại hạn chế việc các ngân hàng tham gia làm tổ chức thu xếp phát hành. Nghiệp vụ thu xếp phát hành theo Luật Chứng khoán được quy định như là một phần của nghiệp vụ bảo lãnh phát hành và do đó, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010 các ngân hàng không được phép tham gia (Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng 2010).

Trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu quốc tế, có thể được niêm yết trên thị trường chứng khoán để mở rộng phạm vi tiếp cận với các nhà đầu tư, ví dụ các quỹ lương hưu, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư… thường là các nhà đầu tư mà luật hoặc quy chế nội bộ chỉ cho phép đầu tư vào chứng khoán niêm yết. Tuy nhiên, một phần lớn của trái phiếu được giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC). Việc niêm yết trái phiếu, do vậy, chủ yếu là để đáp ứng yêu cầu của một số nhà đầu tư, chứ không hẳn là vì các lợi ích có được trên thị trường trái phiếu niêm yết (tính thanh khoản, minh bạch về giá).

Hiệp hội Thị trường vốn Quốc tế (International Capital Market Association) là hiệp hội chính thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn quốc tế, thông qua việc đưa ra các khuyến nghị đối với các tập quán mua bán trên thị trường hay chuẩn hóa hợp đồng.

3. Phát hành trái phiếu quốc tế và nội địa

Quy trình này về cơ bản cũng áp dụng cho việc phát hành trái phiếu nội địa. Tùy đặc điểm thị trường và quy định của pháp luật của từng quốc gia mà quy trình này có thể có các biến thể khác nhau. Một số so sánh và minh họa được cung cấp tại các phần thích hợp nhằm giúp người đọc có các hình dung rõ ràng hơn.

Các chính phủ cũng có thể phát hành trái phiếu quốc tế để vay vốn trên thị trường quốc tế. Thị trường trái phiếu quốc tế là một thị trường rất rộng lớn.

Sự khác nhau cơ bản giữa trái phiếu quốc tế với trái phiếu trong nước là:

  • Trái phiếu quốc tế thường được phát hành bằng đồng tiền ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh, tự do chuyển đổi) cho các nhà đầu tư đến từ nhiều quốc gia khác nhau, hoặc các nhà đầu tư không phải đến từ quốc gia của tổ chức phát hành.
  • Trái phiếu quốc tế thường được phát hành cho các nhà đầu tư là tổ chức (sophisticated investor), tức là các nhà đầu tư có kinh nghiệm và am hiểu, không phải cho công chúng (các cá nhân). Do vậy, việc phát hành trái phiếu quốc tế thường tránh được việc áp dụng các yêu cầu và quy định của việc phát hành chứng khoán ra công chúng, chẳng hạn như đăng ký phát hành hay các yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn (chi phí, thời gian, rủi ro).
  • Trái phiếu quốc tế thường được phát hành dưới hình thức bút toán điện tử tại các hệ thống thanh toán (clearing system). Tổ chức phát hành sẽ phát hành một trái phiếu chung (global bond) cho toàn bộ đợt phát hành cho một ngân hàng lưu ký, là ngân hàng sẽ lưu ký trái phiếu đó cho việc thanh toán bù trừ trên hệ thống thanh toán tập trung, chẳng hạn Euroclear hay Clearstream. Hệ thống thanh toán bù trừ sẽ ghi nhận quyền sở hữu của các nhà đầu tư trong trái phiếu chung đó. Việc thanh toán trái phiếu là hình thức chuyển từ tài khoản này sang tài khoản khác chứ không phải là việc phát hành các chứng chỉ giấy in.

4. Sự giống nhau và khác nhau giữa khoản vay hợp vốn và trái phiếu

Một số điểm giống và khác nhau cơ bản giữa khoản vay hợp vốn và trái phiếu được đề cập bên dưới. Sự khác biệt về hợp đồng là rất lớn. Phần này chỉ đề cập tới những vấn đề cơ bản trên cơ sở của một khoản vay hay trái phiếu không có bảo đảm và đơn giản (plain vanilla).

4.1. Khác biệt cơ bản

Một công ty, khi dự định phát hành trái phiếu, sẽ nhắm tới các nhà đầu tư, họ có thể là các ngân hàng, các thiết chế tài chính, nhưng cũng có thể là các tổ chức phi tài chính, ngân hàng.

Trái phiếu chính là một công cụ nợ có đặc tính đầu tư, tức là giá trị của trái phiếu có thể tăng hoặc giảm và các nhà đầu tư có thể thu được một khoản tiền khác với khoản tiền đầu tư ban đầu. Trái phiếu có thể được mua như một tài sản đầu tư và được mua bán một cách dễ dàng.

Khoản vay thì khác. Mặc dù thị trường thứ cấp mua bán khoản vay (trên thế giới) phát triển rất nhiều trong những thập kỷ qua nhưng nhìn chung vẫn chưa được coi là một sản phẩm đầu tư và việc mua bán cũng không dễ dàng như đối với trái phiếu.

Do đó, trái phiếu thường:

  • Sử dụng cấu trúc để đảm bảo trái phiếu có thể được mua bán một cách thuận tiện trên thị trường. Ngược lại, khoản vay, nếu cần được chuyển nhượng, sẽ được quy định thành thủ tục chuyển nhượng trong hợp đồng vay.
  • Xuất phát từ yêu cầu chuyển nhượng dễ dàng, trái phiếu thường được thanh toán thông qua hệ thống thanh toán bù trừ tập trung và Điều này cũng góp phần cơ bản làm thay đổi phương thức phát hành trái phiếu.
  • Được quảng cáo và phát hành tới một số lượng lớn các nhà đầu tư, với nhiều ngành nghề khác nhau, khác với khoản vay, được cung cấp bởi các ngân hàng. Tài liệu để các nhà đầu tư xem xét khi mua trái phiếu chính là bản cáo bạch. Khác với bản công bố thông tin trong khoản vay hợp vốn, bản cáo bạch thường chi tiết hơn, trách nhiệm của tổ chức phát hành đối với các nội dung trong bản cáo bạch cũng thường nặng nề hơn và được quy định rõ trong pháp luật về chứng khoán. 

Chúng ta xem xét cụ thể hơn bên dưới:

4.2. Bên cho vay

Bên cho vay của khoản vay hợp vốn là các ngân hàng có kinh nghiệm và được tổ chức tốt. Về cơ bản, các nhà đầu tư là bên cho vay trong trái phiếu quốc tế cũng là các tổ chức có kinh nghiệm như công ty bảo hiểm, ngân hàng, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, các công ty lớn… Tuy nhiên, các nhà đầu tư này thường dùng tiền của thành viên các quỹ này để đầu tư (quỹ đầu tư đại chúng, quỹ hưu trí). Số lượng nhà đầu tư trái phiếu cũng thường nhiều hơn so với các ngân hàng cho vay hợp vốn. Các nhà đầu tư trái phiếu cũng ít khi được bảo vệ chặt chẽ bằng các điều khoản trong hợp đồng như ngân hàng cho vay. 

Do đó, dẫn đến những hậu quả và cách xử lý khác nhau:

  • Việc đưa ra các luật và quy định để bảo vệ các nhà đầu tư trái phiếu sẽ thiết thực và có tác dụng hơn đối với các nhà đầu tư trái phiếu. Thuật ngữ quốc tế có từ “mẹ góa con côi” để chỉ tình trạng của nhà đầu tư trái phiếu trong trường hợp bên vay gặp khó khăn. Do vậy, để bảo vệ các nhà đầu tư trái phiếu, tính an toàn và hấp dẫn của thị trường vốn cũng như khả năng tiếp cận và phát hành trên thị trường này của các tổ chức phát hành, đôi khi sức ép để trả nợ đến từ công chúng còn lớn hơn rất nhiều so với các điều khoản trong hợp đồng.
  • Các nhà đầu tư trái phiếu thường không mấy thích thú với việc đàm phán lại hợp đồng hay điều khoản điều kiện của trái phiếu. Càng có nhiều nhà đầu tư thì càng khó thực hiện việc đàm phán lại và đôi khi cũng không có nguồn lực để làm việc đó, do các nhà đầu tư trái phiếu thích bán trái phiếu hơn. Việc đạt được một thỏa thuận thường phải thông qua một hội nghị người sở hữu trái phiếu mà rõ ràng là khó làm hơn rất nhiều so với việc chỉ có một vài ngân hàng.
  • Khi bên vay gặp khó khăn, các nhà đầu tư trái phiếu thường không có khả năng, cũng như thiện chí để cho vay thêm tiền. Các ngân hàng thì có thể cho vay thêm để khắc phục khó khăn.
  • Trái phiếu thường do các công ty có xếp hạng tín dụng cao hoặc tình hình tài chính và kinh doanh tốt phát hành. Trái phiếu của các công ty có xếp hạng tín dụng cao thường được gọi là trái phiếu “đáng đầu tư” (investment grade). Các công ty có xếp hạng tín dụng thấp hơn cũng có thể phát hành trái phiếu, và thường với lãi suất cao, do rủi ro tín dụng cao. Các trái phiếu loại này có thể gọi là trái phiếu “lợi tức cao” (high yield bond) và cũng để chỉ loại trái phiếu có rủi ro cao.

4.3. Bên vay

Bên vay thường giống nhau trong cả hai trường là các công ty, chính phủ hoặc ngân hàng.

  • Thông tin về nhà đầu tư: không giống như khoản vay ngân hàng (nơi bên vay biết rõ về ngân hàng mình tiếp cận ngay từ đầu), tổ chức phát hành thường không có thông tin cụ thể về nhà đầu tư cho tới khi ký kết hợp đồng mua bán trái phiếu.
  • Tài liệu chào bán: bản công bố thông tin cho khoản vay hợp vốn thường không phải tuân thủ các quy định bắt buộc về nội dung cũng như thủ tục đăng ký. Bản cáo bạch trong phát hành trái phiếu thường phải có các nội dung bắt buộc và phải công bố hay đăng ký, trừ trường hợp gửi cho một nhóm nhà đầu tư nhất định theo quy định. Đối với trái phiếu niêm yết, có nhiều yêu cầu về công bố thông tin bắt buộc phải tuân theo. Bản cáo bạch trong phát hành trái phiếu là chính thức và ràng buộc về trách nhiệm pháp lý. 

4.4. Bên thu xếp phát hành trái phiếu và ngân hàng thu xếp đầu mối

Trong cả hai trường hợp, bên thu xếp phát hành trái phiếu và ngân hàng thu xếp đầu mối đều ký kết với bên vay một hợp đồng thu xếp (mandate letter) để tiến hành công việc thu xếp.

  • Hợp đồng: đối với hợp đồng vay, tất cả các thỏa thuận liên quan đến khoản vay đều được quy định trong hợp đồng vay và mỗi bên chỉ giữ một bản hợp đồng duy nhất. Đối với trái phiếu, các thỏa thuận thường nằm rải rác, chẳng hạn, có hợp đồng đặt mua trái phiếu với nhà đầu tư, hợp đồng với tổ chức bảo lãnh phát hành, một thỏa thuận về đại lý thanh toán, đại lý quản lý tài sản bảo đảm. Mỗi người sở hữu trái phiếu có một chứng chỉ chứng nhận quyền sở hữu với các điều khoản và điều kiện của trái phiếu in trên đó. Các trái phiếu này là trái phiếu không ghi danh và tự do chuyển đổi. Ngày nay, trái phiếu được phát hành theo hình thức bút toán điện tử dưới dạng một trái phiếu chung (global bond) do tổ chức lưu ký giữ theo uỷ thác cho mục đích thanh toán bù trừ. Nói cách khác, hợp đồng bị phân tán do có nhiều bên tham gia.
  • Khả năng chuyển nhượng: Trái phiếu dễ dàng chuyển nhượng và trong hầu hết các trường hợp, có thể sử dụng để chiết khấu. Trái phiếu cũng thường được niêm yết, do vậy, việc mua bán là rất dễ dàng. Việc mua bán sẽ phức tạp hơn cả về thủ tục pháp lý (thông báo, chấp thuận của bên vay) lẫn thị trường mua bán (thị trường nhỏ hơn rất nhiều và độ thanh khoản cũng thấp hơn). Khoản nợ vay, đương nhiên không có khả năng chiết khấu, đòi hỏi nhiều giấy tờ phải ký khi chuyển nhượng trong khi trái phiếu có thể dễ dàng trao tay hoặc bằng cách gửi một thông báo cho tổ chức lưu ký, thanh toán bù trừ.
  • Rút vốn: Khoản vay được rút vốn theo yêu cầu của bên vay trong khoảng thời hạn rút vốn, có thể được rút nhiều lần, dưới nhiều hình thức (thư tín dụng chứng từ, khoản vay tuần hoàn, khoản vay trung dài hạn) và có thể linh hoạt hơn về thời gian.

4.5. Các điều kiện về thị trường

Trái phiếu thường được phát hành một đợt duy nhất. Có thể cấu trúc để phát hành thành nhiều đợt hay một chương trình phát hành trong một khoảng thời gian dài, tuy nhiên, thủ tục sẽ phức tạp và khó khăn hơn. Các điều kiện về thị trường cũng không cho phép có sự linh hoạt về thời gian.

  • Đại lý: Tổ chức phát hành sẽ chỉ định một đại lý thanh toán và (trong nhiều trường hợp) có thể kiêm đại lý lưu ký nhằm mục đích quản lý việc thu tiền và thanh toán cho các nhà đầu tư. Trong khoản vay hợp vốn, đại lý thường là bên hoạt động vì lợi ích của các ngân hàng và do các ngân hàng chỉ định.
  • Chuyển đổi đồng tiền: Khoản vay có thể được chuyển thành đồng tiền khác một cách linh hoạt. Đối với trái phiếu, việc này là ít khả thi trên thực tế.
  • Lãi suất: Đối với khoản vay, lãi suất thường thả nổi và bên vay có thể lựa chọn kỳ tính lãi phù hợp trong mỗi thời kỳ. Trái phiếu cũng có thể có lãi suất cố định hoặc thả nổi. Nếu kỳ tính lãi cố định, tổ chức phát hành sẽ không có lựa chọn về kỳ tính lãi. Khoản vay có thể có lãi phạt nhưng đối với trái phiếu, việc áp dụng lãi phạt thường ít phổ biến.
  • Hoàn trả, thanh toán: Khoản vay có thể có nhiều hình thức hoàn trả, hoặc là sự tổng hợp của nhiều hình thức này, trả dần đều, trả một lần hay trả theo định kỳ. Hình thức hoàn trả của trái phiếu ít linh hoạt hơn, thường là thanh toán gốc trái phiếu một lần vào cuối kỳ.
  • Hoàn trả trước hạn: Việc hoàn trả gốc và lãi trước hạn trong khoản vay là việc khá phổ biến. Đối với trái phiếu, việc hoàn trả trước hạn thường ít xảy ra, hoặc chỉ có thể xảy ra sau một thời gian nhất định, thường là vài năm. Đối với khoản vay hợp vốn, việc hoàn trả trước hạn được tính theo tỷ lệ của khoản vay cho mỗi bên cho vay. Đối với trái phiếu, việc mua lại trái phiếu trước hạn thường được làm theo lô hay đợt phát hành, do vậy, tùy vào việc cấu trúc đợt phát hành, nhà đầu tư sẽ được hoàn trả tiền trước hạn một cách ngẫu nhiên.
  • Bảo vệ lợi nhuận (margin protection): Hợp đồng vay thường có điều khoản về chi phí gia tăng (increased cost) nhưng trái phiếu thì không có. Cả hai trường hợp đều có điều khoản về gộp thuế (tax gross up), tuy nhiên, trong trái phiếu, điều khoản này thường nhằm bảo vệ tổ chức phát hành chứ không phải các nhà đầu tư.
  • Hợp đồng vay cũng có điều khoản về bất hợp pháp (illegality) nhưng trái phiếu thì có thể không có.
  • Thanh toán và sự bình đẳng: Việc thanh toán tiền liên quan đến khoản vay được thực hiện thông qua ngân hàng đại lý, là bên được ủy quyền của các bên cho vay. Thanh toán của trái phiếu được thực hiện trên cơ sở xuất trình chứng chỉ trái phiếu và lãi trái phiếu được thanh toán thông qua đại lý thanh toán. Đại lý thanh toán là bên ủy quyền của tổ chức phát hành. Đối với trái phiếu dưới dạng bút toán, tổ chức lưu ký sẽ xuất trình trái phiếu chung cho tổ chức thanh toán bù trừ và chỉ thị việc thanh toán cho tổ chức này.
  • Trong hợp đồng vay cũng thường có điều khoản chia theo tỷ lệ (prorated) trái phiếu thì không có. Hợp đồng vay cũng thường có điều khoản về bù trừ nghĩa vụ, trái phiếu thì ít có.
  • Cam đoan: Hợp đồng vay luôn có điều khoản quy định các cam đoan cụ thể của bên vay. Việc vi phạm các cam đoan này sẽ trở thành sự kiện vi phạm, khi đó các ngân hàng cho vay có quyền đình chỉ hay hủy bỏ các khoản rút vốn với đồng thời đòi lại trước hạn các khoản vay đang dư nợ. Các cam đoan trong hợp đồng vay thường đòi hỏi phải đúng vào mọi thời điểm, kể từ khi rút vốn lần đầu cho tới khi hoàn trả toàn bộ khoản vay. Đối với trái phiếu, các cam đoan thường chỉ xuất hiện trong hợp đồng đặt mua trái phiếu ký với tổ chức bảo lãnh phát hành hay nhà đầu tư, cho phép các tổ chức này hủy bỏ đợt phát hành hay hủy bỏ việc đặt mua nếu có vi phạm. Việc vi phạm các cam đoan trong trái phiếu thường không phải là sự kiện vi phạm và do đó, không có việc đòi nợ trước hạn.
  • Cam kết: Hợp đồng vay có nhiều ràng buộc cụ thể thông qua việc yêu cầu bên vay đưa ra các cam kết về cung cấp thông tin, cam kết không thực hiện, cam kết về đối xử ngang bằng (pari passu), không bán tài sản, hay không thay đổi quyền kiểm soát. Các cam kết về tài chính cũng rất phổ biến. Bên cạnh đó, còn có các cam kết khác về tình trạng pháp lý của bên vay và nhiều vấn đề khác.

Đối với trái phiếu, yêu cầu về cung cấp thông tin thường có tính thời điểm, chủ yếu được đề cập một lần trong bản cáo bạch. Trong trường hợp trái phiếu niêm yết, có thêm các yêu cầu về cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản hay các điều kiện về trái phiếu niêm yết. Cam kết không thực hiện thường ít xuất hiện, nhưng các cam kết về pari passu thường là yêu cầu phổ biến. Đôi khi cũng có các cam kết về không bán tài sản hay thay đổi trọng yếu về kinh doanh và vi phạm sẽ dẫn đến một sự kiện vi phạm. Trái phiếu thường không có các cam kết về tài chính, hoặc nếu có thì chỉ liên quan đến các khoản nợ cùng loại (tức là nợ trái phiếu).

Sự kiện vi phạm: Trong khoản vay, các sự kiện vi phạm thường rất cụ thể và chi tiết. Sự kiện vi phạm thường bao gồm cả thay đổi bất lợi nghiêm trọng và vi phạm các cam đoan cũng là một sự kiện vi phạm.

Đối với trái phiếu, quy định về các sự kiện vi phạm ít khắt khe hơn, có ít điều kiện vi phạm hơn và thời gian ân hạn để khắc phục sự kiện vi phạm cũng thường dài hơn. Trái phiếu có thể có điều khoản về “thay đổi quyền kiểm soát”, nếu vi phạm sẽ dẫn tới việc mua lại trái phiếu bắt buộc đối với tổ chức phát hành. Trong nhiều trường hợp, việc tụt hạng xếp hạng tín dụng của tổ chức phát hành, hoặc của trái phiếu (nếu trái phiếu có xếp hạng) cũng là sự kiện vi phạm.

Mục đích của các quy định này thường là nhằm để bảo vệ các nhà đầu tư trong trường hợp tổ chức phát hành có mua bán, sáp nhập, trong đó bên mua tổ chức phát hành thường dùng toàn bộ tài sản của tổ chức phát hành làm tài sản bảo đảm để vay tiền cho giao dịch mua bán, sáp nhập. Các quy định này có thể làm ảnh hưởng tới các nhà đầu tư trái phiếu (trong trường hợp trái phiếu không có tài sản bảo đảm).

Việc không thanh toán hay bị đòi nợ trước hạn đối với các khoản nợ tài chính khác đều là sự kiện vi phạm trong cả hợp đồng vay và trái phiếu (sự kiện vi phạm chéo). Hợp đồng vay thường quy định, một sự kiện vi phạm đối với hợp đồng tài chính khác cũng là sự kiện vi phạm của hợp đồng vay, hoặc là sự kiện vi phạm sau khi hết thời gian ân hạn. Trái phiếu ít khi có các sự kiện vi phạm rộng như vậy.

Trong khoản vay (hợp vốn), việc đòi nợ trước hạn đòi hỏi chấp thuận của bên cho vay đa số. Các ngân hàng trong hợp vốn cũng có thể đơn phương đình chỉ khoản vay khi có sự kiện vi phạm và việc thực thi quyền đòi nợ của mỗi ngân hàng được bảo lưu. Trong trái phiếu, việc thực thi quyền của từng nhà đầu tư riêng lẻ cũng phổ biến. Tuy nhiên, việc tuyên bố một sự kiện vi phạm cũng thường đòi hỏi có chấp thuận của đa số nhà đầu tư thông qua tỷ lệ biểu quyết trong cuộc họp của những người sở hữu trái phiếu. Đối với trái phiếu quốc tế, trong trường hợp có chỉ định đại lý uỷ thác (trustee), thông thường sẽ có điều khoản về “không hành động” của những người sở hữu trái phiếu. Khi đó, chỉ có đại lý ủy thác mới có quyền đòi nợ trước hạn, nhưng cũng thường theo sự kiểm soát của người sở hữu trái phiếu.

Sửa đổi hợp đồng: Việc sửa đổi hợp đồng vay đòi hỏi sự đồng thuận của tất cả các bên. Đôi khi đối với các điều khoản không liên quan tới tài chính, việc sửa đổi có thể chỉ cần các bên cho vay đa số quyết định và ký kết. Đối với trái phiếu, việc sửa đổi các điều khoản cũng yêu cầu sự đồng thuận của từng nhà đầu tư. Tuy nhiên, cũng có trường hợp thông qua bằng đa số biểu quyết tại cuộc họp những người sở hữu trái phiếu. Trên thực tế, các điều khoản này rất đa dạng trong từng trường hợp cụ thể.

5. Lý do các quy định bảo vệ trong trái phiếu thường yếu hơn so với khoản vay

Có một vài lý do khiến các trái chủ thường ít được bảo vệ trong các điều khoản của trái phiếu so với các bên cho vay trong hợp đồng vay. Cụ thể:

  • Tổ chức phát hành thường không thể hoàn trả trái phiếu trước hạn để thoát khỏi việc phải tuân thủ các cam kết đưa ra trong các điều khoản và điều kiện của trái phiếu. Bên vay trong hợp đồng vay có thể được phép hoàn trả trước hạn. Do đó, tổ chức phát hành sẽ tìm cách đàm phán các điều khoản, điều kiện của trái phiếu theo hướng giảm nhẹ các nghĩa vụ của họ.
  • Thường thì trái phiếu có thời hạn dài hơn so với khoản vay.
  • Việc yêu cầu các trái chủ cho phép không thực hiện hay từ bỏ một điều kiện hay cam kết nào cũng khó hơn so với các ngân hàng trong khoản vay.
  • Trong lịch sử, trái phiếu thường chỉ do các công ty có xếp hạng tín dụng cao phát hành, do vậy các công ty này cũng có khả năng áp đặt các điều kiện thuận lợi hơn cho mình. Điều này dần trở thành các tập quán thị trường phổ biến.
  • Yêu cầu về sự thuận tiện trong việc marketing cũng đòi hỏi sự đơn giản và chuẩn hóa của trái phiếu. Sự đơn giản và chuẩn mực hóa cũng dẫn tới giảm chi phí cho giao dịch.
  • Các trái chủ không phải là người trực tiếp đàm phán về các điều khoản của trái phiếu. Các điều khoản của trái phiếu do tổ chức thu xếp hay bảo lãnh phát hành đàm phán với tổ chức phát hành.
  • Thời gian cho việc đàm phán cũng thường bị hạn chế do yêu cầu phải phát hành kịp thời trong thời điểm thị trường có nhiều thuận lợi.
  • Các trái chủ luôn có thể bán trái phiếu trên thị trường nếu họ không yên tâm về khả năng hoàn trả của tổ chức phát hành. Việc bán khoản vay thường phức tạp hơn. Việc định giá khoản vay cũng thường kém minh bạch hơn trái phiếu, do đó, các bên cho vay thường khó giải quyết khoản nợ của mình hơn.
  • Các bên cho vay cũng có khả năng cho vay bổ sung khi tái cơ cấu khoản nợ, và cũng vì thế, các bên cho vay cũng thường bị ràng buộc về lợi ích lớn hơn.

6. Các hình thức của trái phiếu

6.1. Trái phiếu ghi danh

Là trái phiếu có ghi tên chủ sở hữu và được lưu trên sổ lưu ký trái chủ, sổ này thường do đại lý lưu ký hoặc đại lý thanh toán giữ thay mặt cho tổ chức phát hành. Mỗi trái chủ sẽ được cấp một chứng chỉ làm bằng chứng về sở hữu. Trái chủ chỉ có thể chuyển quyền sở hữu đối với trái phiếu này sau khi đã thay đổi tên người sở hữu trên sổ lưu ký của tổ chức phát hành. Việc thay đổi thường được thực hiện bằng cách trái chủ gửi một yêu cầu (theo mẫu) cho tổ chức phát hành (hoặc đại lý lưu ký) thông báo việc chuyển nhượng, yêu cầu xóa tên trái chủ cũ và ghi tên người sở hữu trái phiếu mới. Việc chuyển nhượng không có giá trị nếu chỉ chuyển giao giấy chứng nhận sở hữu trái phiếu.

6.2. Trái phiếu không ghi danh

Trái phiếu loại này không ghi tên người sở hữu và người nắm giữ trái phiếu sẽ có quyền như chủ sở hữu. Chuyển nhượng trái phiếu không ghi danh không cần phải thông báo cho tổ chức phát hành. Thậm chí, các bên có thể không cần ký kết hợp đồng về việc chuyển nhượng. Trái phiếu không ghi danh có thể được xem là một tài sản đặc định và do đó, khi chuyển nhượng hợp pháp, cho phép người nắm giữ có toàn quyền đối với tài sản đó và không phụ thuộc vào lịch sử sở hữu của chủ sở hữu trước. Hầu hết trái phiếu được phát hành là trái phiếu không ghi danh, do tính thuận tiện trong việc chuyển nhượng cũng như tính chắc chắn về quyền sở hữu của người nắm giữ. Trái phiếu dưới dạng bút toán, ghi số:

Đây là hình thức phi vật chất của trái phiếu, hay trái phiếu không có chứng chỉ giấy. Bằng chứng của việc sở hữu trái phiếu là một bút toán ghi sổ trên hệ thống lưu ký do tổ chức lưu ký chứng khoán duy trì. Trái phiếu loại này không có chứng chỉ bằng giấy. Người nắm giữ trái phiếu được cấp một xác nhận ghi nhận quyền và số trái phiếu sở hữu trên một tài khoản trái phiếu do tổ chức lưu ký chứng khoán phát hành.

Việc không có chứng chỉ do tổ chức phát hành cung cấp không làm ảnh hưởng tới quyền sở hữu của trái chủ. Hình thức bút toán, ghi sổ của trái phiếu đóng góp đáng kể vào tính thuận tiện và hỗ trợ khả năng giao dịch của trái phiếu. Trái phiếu giao dịch thông qua hệ thống thanh toán điện tử là trái phiếu ở dạng này.

7. Mua bán, chuyển nhượng, chiết khấu trái phiếu

Trái phiếu có thể được mua bán trên thị trường phi tập trung (OTC) hoặc trên thị trường niêm yết tập trung (sàn chứng khoán). Trên thực tế, phần lớn các giao dịch trái phiếu diễn ra trên thị trường OTC. Đối với trái phiếu ghi danh, việc mua bán chuyển nhượng chỉ có hiệu lực sau khi tên của người sở hữu được thay đổi trên sổ đăng ký trái chủ của tổ chức phát hành. Trái phiếu không ghi danh được chuyển nhượng sau khi các bên hoàn tất việc thanh toán và khi trái phiếu được chuyển giao cho bên mua.

Trái phiếu chuyển nhượng qua thị trường niêm yết và hệ thống thanh toán bù trừ tập trung:

Một yêu cầu quan trọng của trái phiếu là khả năng thuận tiện cho việc giao dịch mua bán. Trái phiếu không ghi danh chính là hệ quả của yêu cầu này. Trái phiếu giao dịch trên thị trường quốc tế thường được giao dịch qua các hệ thống thanh toán tập trung dưới dạng một trái phiếu chung (global bond). Toàn bộ trái phiếu của đợt phát hành được thể hiện dưới hình thức một “trái phiếu chung” do tổ chức lưu ký, thanh toán bù trừ lưu giữ (ở châu Âu, các tổ chức này là Euroclear và Clearstream, ở thị trường Mỹ là DTC). 

Mỗi trái phiếu cụ thể lưu ký trong các tổ chức này, do vậy, thường được thể hiện dưới hai dạng:

  • Một trái phiếu chung, thường không phải được đứng tên bởi một người mà theo lẽ thông thường hiểu là “trái chủ” của trái phiếu chung đó, cũng không phải đứng tên bởi các tổ chức lưu ký, thanh toán bù trừ. Thường thì trái phiếu này sẽ do một bên thứ ba, là một ngân hàng lưu ký đứng tên với tư cách là bên đại diện cho tổ chức lưu ký, thanh toán đó.
  • Một bút toán ghi sổ vào tài khoản trái phiếu của trái chủ (chính xác hơn là vào tài khoản trái phiếu của ngân hàng của trái chủ đó hoặc đại lý của trái chủ đó) trong hệ thống của tổ chức lưu ký, thanh toán nơi đại lý hoặc ngân hàng của trái chủ mở tài khoản.

Khi một chủ tài khoản tại một tổ chức lưu ký, thanh toán mua một trái phiếu, chủ tài khoản đó không thực sự sở hữu một trái phiếu theo nghĩa là một tài sản vật chất bởi không có sự chuyển giao trái phiếu hay thậm chí tên của người mua cũng không được ghi vào sổ đăng ký chủ sở hữu của trái phiếu đó. Trên thực tế, trái phiếu đó được ghi vào tài khoản trái phiếu của đại lý hoặc ngân hàng lưu ký (thường chính là đại lý thanh toán trái phiếu được tổ chức phát hành chỉ định cho đợt phát hành) của người mua đó mở trên hệ thống của tổ chức lưu ký, thanh toán. Đại lý và ngân hàng lưu ký tiếp đó mới là người lưu giữ tên người nắm giữ và số lượng trái phiếu nắm giữ trên hệ thống của mình.

8. Chiết khấu trái phiếu

Thực tiễn của thị trường yêu cầu các công cụ nợ phải có khả năng tự do chuyển nhượng và người mua phải có khả năng xác lập được quyền sở hữu một cách chắc chắn và tuyệt đối mà không cần phải điều tra lại xem quyền sở hữu của người bán có thực sự là hợp pháp.

Giả sử việc điều tra lại tính hợp pháp của quyền sở hữu là cần thiết hay quyền sở hữu của người mua có thể bị bác bỏ do các nghi ngờ về quyền sở hữu của người bán thì thị trường mua bán các công cụ nợ sẽ không thể phát triển. Khái niệm chiết khấu xuất phát từ yêu cầu này. 

Một số ví dụ về công cụ có khả năng chiết khấu có thể bao gồm: trái phiếu không ghi danh, chứng chỉ tiền gửi hay tín phiếu. Các công cụ có khả năng chiết khấu là công cụ mà quyền chuyển nhượng được xác lập tại thời điểm chuyển giao công cụ đó cho người mua (giống như việc mua bán một tài sản đặc định nào đó). Nếu không có khả năng chiết khấu, việc chuyển nhượng phải thực hiện bằng cách thay đổi tên người sở hữu trên sổ đăng ký, lưu ký do đại lý đăng ký giữ.

Điều khác biệt của khả năng chiết khấu là quyền sở hữu công cụ nợ đó của người nắm giữ không bị phụ thuộc vào các nghi ngờ hay thách thức về quyền sở hữu của người sở hữu trước đó và không bị ảnh hưởng bởi việc phá sản của người bán.

Việc ra đời và giao dịch trên hệ thống lưu ký và thanh toán tập trung trên thị trường dẫn đến việc trái phiếu không ghi danh trở thành một hình thức “hết mốt”. Yêu cầu về khả năng chiết khấu khi đó được thay thế bằng khả năng chuyển nhượng, mua bán qua tài khoản giữa các chủ tài khoản.

Tuy vậy, yêu cầu về chiết khấu vẫn là nền tảng quan trọng để đảm bảo các quyền liên quan đến trái phiếu có thể được rao bán mà không bị ảnh hưởng. Đối với các trái phiếu giao dịch trên thị trường OTC, yêu cầu về khả năng chiết khấu vẫn giữ nguyên giá trị.

Tại Việt Nam, ngoài trái phiếu chính phủ được niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, hầu hết các trái phiếu doanh nghiệp được giao dịch trên thị trường OTC. Việc niêm yết trái phiếu doanh nghiệp chưa trở thành một yêu cầu phổ biến, có lẽ do quy mô thị trường còn hạn chế và số lượng người mua trái phiếu nhỏ, chủ yếu là các thiết chế tài chính.

9. Quy định về chiết khấu theo luật Việt Nam

Khái niệm về chiết khấu và các quy định về chiết khấu chủ yếu nằm trong pháp luật về ngân hàng. Khái niệm chiết khấu được quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng 2010 theo một nghĩa hẹp như một hình thức cấp tín dụng giữa các ngân hàng, tổ chức tín dụng với người sở hữu công cụ nợ (được quy định trong luật là “giấy tờ có giá”), tức là bên cấp tín dụng trao một khoản tín dụng do bên sở hữu công cụ nợ và vì là hình thức cấp tín dụng, nên bên cấp tín dụng có quyền truy đòi.

Trên cơ sở này, chiết khấu được quy định như một hình thức mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi. Việc bảo lưu quyền truy đòi cho phép ngân hàng được quyền đòi lại tiền từ bên chiết khấu trong trường hợp tổ chức phát hành công cụ nợ không thể thanh toán khoản nợ cho ngân hàng đã mua công cụ nợ đó.

Điều này rõ ràng hạn chế đáng kể tính hấp dẫn của việc chiết khấu và làm cho việc chiết khấu có hiệu quả giống như một hình thức vay có bảo đảm bằng chính giấy tờ có giá được chiết khấu.

Ngoài các quy định về chiết khấu theo Luật Các tổ chức tín dụng kể trên, pháp luật không có quy định nào khác về chiết khấu. Việc mua bán trái phiếu giữa các trái chủ không liên quan tới tổ chức tín dụng được hiểu là các giao dịch dân sự thông thường.

10. Quảng cáo chào bán và phân phối trái phiếu

Việc lựa chọn hình thức chào bán và phân phối trái phiếu nào phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu của tổ chức phát hành và tình hình thị trường. Thông thường, có một số hình thức chào bán chủ yếu thường được áp dụng. Cụ thể:

Chào bán ra công chúng. Pháp luật của mỗi nước có thể có các quy định và yêu cầu khác nhau cho hình thức chào bán này. Pháp luật Việt Nam quy định chào bán chứng khoán ra công chúng là hình thức chào bán cho 100 nhà đầu tư trở lên, không bao gồm các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc chào bán qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua internet, hoặc chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.

Thông thường, việc chào bán ra công chúng có các điều kiện khắt khe hơn do số lượng nhà đầu tư có thể lớn, có thể có các nhà đầu tư cá nhân và yêu cầu được bảo vệ cao hơn. Chào bán ra công chúng đòi hỏi bản cáo bạch, công bố thông tin phải được đăng ký với cơ quan quản lý trước khi cung cấp cho nhà đầu tư.

Chào bán riêng lẻ. Một hoặc một nhóm nhà đầu tư đặt mua toàn bộ đợt phát hành, sau đó đem bán tiếp cho một hoặc một số nhà đầu tư khác.

Theo quy định của pháp luật chứng khoán Việt Nam, chào bán riêng lẻ là chào bán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng và internet.

Chào bán cho các nhà đầu tư đủ tiêu chuẩn hoặc các nhà đầu tư lớn. Trên thị trường trái phiếu quốc tế, đây là hình thức khá phổ biến. Theo hình thức này, tổ chức thu xếp sẽ mua toàn bộ đợt phát hành và sau đó đem phân phối lại cho các nhà đầu tư khác. Hình thức này đôi khi còn được gọi là “bought deal”.

Trái phiếu sau khi được phát hành có thể được mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp. Việc mua bán trên thị trường thứ cấp có thể được thực hiện qua OTC hoặc trên thị trường niêm yết tập trung (nếu trái phiếu được niêm yết).

11. Hệ thống thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán

Đối với các trái phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán, việc mua bán phải thực hiện qua các hệ thống thanh toán bù trừ tập trung. Các tổ chức cung cấp dịch vụ này thường là các trung tâm lưu ký chứng khoán trung ương. Ở Việt Nam, đó là Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD).

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán sẽ mở và duy trì các tài khoản chứng khoán cho các chủ tài khoản. Các trái chủ có tài khoản lưu ký trái phiếu tại các trung tâm lưu ký có thể thực hiện giao dịch mua bán bằng cách ghi có hay ghi nợ vào tài khoản chứng khoán và tài khoản tiền tương ứng của mình trên hệ thống của trung tâm lưu ký.

Trên thị trường trái phiếu quốc tế, các trung tâm lưu ký, thanh toán bù trừ lớn là Clearstream và Euroclear của châu Âu và DTC của Mỹ. Clearstream và Euroclear là các trung tâm lưu ký, thanh toán bù trừ lớn do các ngân hàng thành lập, với mục đích ban đầu là để giải quyết những bất tiện của việc giao dịch trái phiếu (giấy) không ghi danh, các chứng khoán nợ khác và các thương phiếu.

Cả hai trung tâm này đều cung cấp dịch vụ lưu ký, nhờ thu và hỗ trợ việc giao dịch mua bán chứng khoán. Dịch vụ mà hai trung tâm này cung cấp cho các khách hàng cũng bao gồm cả tài khoản tiền (mua bán chứng khoán) và tài khoản chứng khoán.

Clearstream và Euroclear cũng cung cấp dịch vụ cho vay chứng khoán cho các khách hàng. Nếu chứng khoán được chuyển giao giữa các trung tâm lưu ký khác nhau thì mỗi trung tâm cũng hoạt động như một cầu nối, theo đó mỗi trung tâm sẽ mở và duy trì tài khoản ở trung tâm khác và việc chuyển giao chứng khoán được thực hiện thông qua ghi nợ hay ghi có các tài khoản đó.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :