Home / Tài Chính / Chế độ tiền tệ là gì: yếu tố liên quan & lịch sử phát triển

Chế độ tiền tệ là gì: yếu tố liên quan & lịch sử phát triển

/

Chế độ tiền tệ là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một quốc gia, được quy định bằng luật pháp dựa trên một bản vị tiền tệ nhất định.

chế độ tiền tệ là gì

1. Chế độ tiền tệ là gì?

Chế độ tiền tệ là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một quốc gia, được quy định bằng luật pháp dựa trên một bản vị tiền tệ nhất định. Bản vị tiền tệ là những tiêu chuẩn chung mà mỗi nước chọn làm căn bản cho đơn vị tiền tệ, là căn cứ để người ta định giá trị của đơn vị tiền tệ.

Lịch sử phát triển của tiền tệ cho thấy bản vị tiền tệ có thể là hàng hóa, bạc, vàng hay ngoại tệ. Việc chọn hàng hóa phi kim loại làm bản vị tiền tệ có từ ngày đầu xuất hiện tiền tệ. Ví dụ như vào thế kỷ 13 ở Anh, đồng penny được định nghĩa có giá trị tương đương với 32 hạt lúa mì. Tuy nhiên, về sau này khi nghiên cứu bản vị các nhà kinh tế học chỉ chủ yếu nhắc tới chế độ bản vị bạc, vàng, và ngoại tệ.

2. Các yếu tố của chế độ tiền tệ

Chế độ tiền tệ bao gồm các yếu tố:

Bản vị tiền tệ: tức cái gì được dùng làm cơ sở định giá đồng tiền quốc gia.

Đơn vị tiền tệ: mỗi quốc gia đều có đơn vị tiền tệ của riêng mình và được quy định bằng pháp luật. Đơn vị tiền tệ của Việt Nam là “đồng”, ký hiệu quốc tế là “VND” ; đơn vị tiền tệ của Mỹ là “đô la” ký hiệu quốc tế là “USD”; đơn vị tiền tệ của Nhật Bản là “yên”, ký hiệu quốc tế là “JPY”.

Công cụ trao đổi: tức là những công cụ được sử dụng để thực hiện mua bán hàng hóa, dịch vụ, thanh toán các khoản nợ như tiền giấy, tiền polymer, tiền xu, tiền ghi sổ.

3. Chế độ song bản vị

Chế độ song bản vị là chế độ tiền tệ mà vàng và bạc đều được sử dụng với tư cách là tiền tệ. Vàng và bạc đều là vật ngang giá cùng thực hiện chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông với quyền lực ngang nhau. Trong chế độ này tiền đúc bằng vàng và bạc đều được đúc tự do và thanh toán không hạn chế.

Bao gồm 2 chế độ:

3.1. Chế độ song bản vị song song

Là bản vị mà theo đó tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị trường theo giá thực tế của nó. Nhà nước không can thiệp, làm xuất hiện hai thước đo giá trị và do đó có hai hệ thống giá cả.

3.2. Chế độ song bản vị kép

Là song bản vị, nhưng tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị trường theo tỷ giá đã được nhà nước quy định, tỷ giá giữa vàng và bạc do nhà nước quy định gọi là tỷ giá pháp định, có hiệu lực trong cả nước. Việc quy định tỷ giá xác định rõ ràng là nhằm khắc phục những rối loạn 

Chẳng hạn trước năm 1914, Pháp định nghĩa đồng franc vừa theo vàng, vừa theo bạc như sau:

1 franc vàng = 322,5mg vàng chuẩn độ 0,900.

1 franc bạc = 5 gram bạc chuẩn độ 0,900.

Tương tự năm 1792 ở Mỹ đồng dollar cũng được định nghĩa theo vàng và theo bạc như sau

1 dollar vàng = 1.603,80mg vàng ròng.

1 dollar bạc = 24,06 gram bạc ròng.

Đặc điểm chính của chế độ song bản vị là:

Dân chúng được tự do đem vàng hay bạc đến sở đúc tiền để đổi lấy tiền đúc theo định nghĩa chính thức.

Tiền được tự do lưu thông trong nước hoặc giữa các quốc gia với nhau. Chính vì vậy, chế độ tiền tệ này đã góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế diễn ra nhanh chóng.

Cả tiền vàng lẫn tiền bạc đều có giá trị thanh toán như nhau, nghĩa là trong mua bán hay trả nợ người ta có thể sử dụng tiền bạc hoặc tiền vàng để thanh toán theo tỷ lệ tương ứng.

Thực tế lưu thông tiền tệ cho thấy chế độ song bản vị đã từng là nguyên nhân gây ra những xáo trộn trong đời sống kinh tế và lưu thông tiền tệ do nạn đầu cơ tiền vàng hay tiền bạc tùy theo sự thăng trầm của giá bạc và giá vàng trên thị trường.

Ví dụ nếu giá vàng trên thị trường cao hơn so với chính thức thì người ta có xu hướng tích lũy tiền và và đưa tiền bạc ra lưu thông thay thế cho tiền vàng. Điều này đưa đến kết quả là chỉ có tiền bạc xuất hiện trong lưu thông trong khi tiền vàng dần dà biến mất khỏi lưu thông. Sự kiện này được phát biểu thành quy luật Gresham “tiền xấu trục xuất tiền tốt ra khỏi lưu thông” như sau: Trong một quốc gia khi nào hai thứ tiền tệ cùng được pháp luật công nhận theo một giá đổi chính thức, đồng tiền xấu sẽ dần dần đuổi đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông.

4. Chế độ bản vị tiền vàng

Vàng đã từng đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống tiền tệ quốc tế trước những năm 1930. Dưới chế độ tiền vàng cổ điển, các nước thường sử dụng tiền vàng khiến cho vàng chiếm vị trí độc tôn trong thanh toán quốc tế.

Nước nào bị thâm hụt thương mại tức là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, cung tiền của nước đó sẽ tự động thu hẹp làm giá cả trong nước giảm xuống. Do giá giảm nên hàng xuất khẩu của nước này trở nên hấp dẫn đối với các nước khác trong khi hàng nhập khẩu đắt đỏ hơn, vì thế thâm hụt thương mại sẽ nhanh chóng biến mất.

Tham gia vào hệ thống tiền vàng các nước thành viên phải cam kết giữ vững giá trị đồng tiền so với vàng bằng cách mua vào hoặc bán vàng ra cho bất cứ ai theo giá đã công bố.

Hệ thống tiền vàng cổ điển (1821 -1914) tồn tại ở Anh sau đó nhiều nước khác cũng gia nhập vào hệ thống đó. Thời kỳ 1880 – 1914 là thời kỳ có nhiều biến chuyển trong lịch sử kinh tế thế giới: sự mở rộng nhanh chóng của mậu dịch quốc tế tự do, sự ổn định của giá cả và tỷ giá hối đoái, sự dịch chuyển của các luồng vốn và lao động qua lại giữa các nước và kết quả là sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Nhưng không lâu sau đó thì chi chiến tranh thế giới thứ I nổ ra và hệ thống tiền vàng bị sụp đổ.

5. Chế độ bản vị vàng thỏi

Chế độ bản vị vàng thỏi cũng quy định cho đơn vị tiền tệ quốc gia một trọng lượng vàng cố định. Nhưng vàng được đúc thành thỏi mà không đúc thành tiền. Chế độ bản vị này còn gọi là tiền tệ hoán đổi ra vàng (1925 – 1931). Vàng không lưu thông trong nền kinh tế, mà chỉ dự trữ để làm phương tiện thanh toán quốc tế và chuyển dịch tài sản ra nước ngoài. Tiền giấy quốc gia được đổi ra vàng theo luật định, nhưng phải một số lượng tiền giấy nhất định, ít nhất phải tương đương 1 thỏi vàng.

Sau một thời gian, chế độ bản vị vàng chấm dứt, các nước chuyển sang thời kỳ sử dụng ngoại tệ trong hệ thống tiền tệ quốc tế. 

Điều này xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

Khối lượng hàng hóa sản xuất và khối lượng mậu dịch ngày càng tăng đòi hỏi khối lượng phương tiện thanh toán quốc tế cũng ngày càng tăng, trong khi khối lượng vàng sản xuất ra lại phụ thuộc vào các nước có mỏ vàng lớn như Nam Phi và Liên Xô (cũ).

Nếu sử dụng vàng trong thanh toán quốc tế thì các nước phải tích lũy vàng để có phương tiện thanh toán, nhưng dự trữ vàng không sinh lợi trong khi dự trữ ngoại tệ lại có thể sinh lợi dễ dàng nếu mua trái phiếu hay gửi tiền vào ngân hàng Trung ương.

Việc dùng vàng trong thanh toán quốc tế rất bất tiện do phải vận chuyển, bảo quản tốn kém nhiều chi phí. Sự xuất hiện của các khu vực tiền tệ cũng góp phần đưa các nước đến chỗ sử dụng ngoại tệ thay cho vàng trong các giao dịch quốc tế.

6. Chế độ bản vị ngoại tệ

Chế độ bản vị ngoại tệ là chế độ tiền tệ trong đó đơn vị tiền tệ của một quốc gia nào đó được định nghĩa theo một ngoại tệ nhất định, thường là ngoại tệ mạnh. Ngoại tệ mạnh được dùng làm bản vị có thể hoặc không được chuyển đổi ra vàng.

Các nước theo chế độ bản vị ngoại tệ thường tích lũy ngoại tệ được chọn làm bản vị và ký gửi ở ngân hàng trung ương của quốc gia phát hành ngoại tệ đó nhằm đảm bảo giá trị cho đồng tiền của mình. Lịch sử cho thấy những ngoại tệ mạnh như bảng Anh, dollar Mỹ, franc Pháp… đã từng được chọn làm bản vị cho nhiều đồng tiền của nhiều nước trên thế giới.

6.1. Chế độ bản vị hối đoái bảng Anh

Sau chiến tranh thế giới thứ I, việc khôi phục lại nền kinh tế ở các nước châu Âu trở nên cấp thiết. Nhu cầu thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng, tiền tệ quốc tế nhằm nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế bị tổn thất trong chiến tranh trở nên vô cùng cấp thiết đối với các quốc gia ở châu Âu. Thực tế này đòi hỏi phải có những thỏa thuận thống nhất giữa các nước để thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng và tiền tệ quốc tế.

Trong chế độ này các nước đã thỏa thuận những nội dung chủ yếu sau đây:

  • Một là, các nước chính thức thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của đồng bảng Anh (GBP) trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tín dụng quốc tế. Họ thừa nhận đồng bảng Anh là phương tiện thanh toán và phương tiện dự trữ quốc tế, đánh giá nó ngang với vàng, coi đồng bảng Anh là đồng tiền chủ chốt. Vì vậy, thực chất của chế độ tiền tệ này là chế độ bản vị bảng Anh, một đồng tiền quốc gia do Ngân hàng Anh phát hành.
  • Hai là, việc sử dụng đồng bảng Anh trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ kinh tế quốc tế khác không hạn chế. Các nước muốn có bảng Anh thì phải chuyển vàng đổi lấy bảng Anh của nước Anh.

Đồng tiền một quốc gia nào đó muốn trở thành đồng tiền quốc tế được các nước khác sử dụng trong giao dịch quốc tế đòi hỏi phải có các điều kiện sau:

  • Thứ nhất, quốc gia đó phải chiếm tỷ trọng lớn trong mậu dịch quốc tế.
  • Thứ hai, quốc gia đó phải có thị trường tài chính phát triển để các nước khác tham gia.
  • Thứ ba, đồng tiền của quốc gia đó phải có sức mua ổn định và tỷ giá hối đoái tương đối bền vững lâu dài.

Với ba lý do này, có thể lý giải được vì sao đồng bảng Anh được sử dụng như là đồng tiền quốc tế độc tôn trước chiến tranh thế giới thứ II. Sau Thế chiến, do nền kinh tế Anh bị kiệt quệ, tỷ trọng mậu dịch quốc tế giảm sút nghiêm trọng, thị trường tài chính và thị trường hối đoái sụp đổ nên đồng bảng Anh đã bị thay thế.

6.2. Chế độ bản vị hối đoái dollar Mỹ

Sau Thế chiến 2, Mỹ là nước hầu như không bị ảnh hưởng của hậu quả chiến tranh mà còn được hưởng lợi từ cuộc chiến, nhất là trong công cuộc tái thiết lại châu Âu sau chiến tranh, cho nên trở thành nước chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại thế giới.

Ngoài ra, để ổn định sức mua đồng tiền của mình, Mỹ đã bán vàng với giá ổn định trong suốt 34 năm từ 1934 tới 1968 với giá là 35 USD/ounce. Nhờ vậy, đồng dollar Mỹ đã thay thế đồng bảng Anh và chiếm vị trí độc tôn trong tiền tệ quốc tế.

Theo thỏa ước Bretton Woods (1946 -1971), chính phủ các nước thành viên cam kết duy trì tỷ giá cố định của đồng tiền nước mình so với dollar Mỹ (USD) và vàng. Dựa trên cơ sở giá vàng được cố định ở mức 35 USD/ounce, các nước có thể thiết lập tỷ giá đồng tiền của nước mình so với dollar Mỹ.

Chẳng hạn, giá trị của đồng mark Đức (DEM) được thiết lập là 1/140 ounce vàng, điều này có nghĩa là giá trị của mark Đức là 35 USD/140 hay 1 USD = 4 DEM. Tỷ giá hối đoái của những đồng tiền khác so với USD chỉ được phép thay đổi trong phạm vị biên độ 1% so với mệnh giá công bố.

Tỷ giá cố định này được duy trì bằng sự can thiệp chính thức trên thị trường ngoại hối bằng cách ngân hàng trung ương tham gia mua hoặc bán USD tùy theo quan hệ cung cầu trên thị trường. Hệ thống tiền tệ Bretton Woods mang lại sự ổn định tỷ giá và điều này có ý nghĩa quan trọng vì nó loại bỏ được sự bất ổn đối với các giao dịch buôn bán và đầu tư quốc tế. Nhờ vậy thúc đẩy sự tăng trưởng và đem lại lợi ích cho tất cả các nước thành viên.

Tuy nhiên hơn 25 năm dưới chế độ tỷ giá cố định theo thỏa ước Bretton Woods, hầu hết chính phủ của các quốc gia thành viên đều không muốn gắn chính sách tiền tệ của mình với việc duy trì sức mua đồng tiền như cam kết. Sự ngần ngại của chính phủ trong việc điều chỉnh sức mưa đồng tiền hoặc điều chỉnh chính sách kinh tế nhằm duy trì tỷ giá ổn định như đã cam kết cuối cùng đưa đến sự khủng hoảng tỷ giá. Những trận chiến tỷ giá đã xảy ra giữa các ngân hàng trung ương nhưng kết quả sự thắng lợi lại thuộc về thị trường. Thật ra, hệ thống tỷ giá Bretton Woods chỉ là hệ thống tỷ giá cố định trên danh nghĩa mà thôi.

Trong số 21 nước công nghiệp chủ chốt chỉ có Mỹ và Nhật Bản là giữ được giá trị đồng tiền của mình ổn định suốt thời kỳ 1946 – 1971, 12 nước phải phá giá đồng tiền trên 30% so với dollar Mỹ, 4 nước nâng giá đồng tiền và 4 nước phải thả nổi tỷ giá vào giữa năm 1971 khi hệ thống tiền tệ Bretton Woods sụp đổ.

Trong chế độ tiền tệ Bretton Woods, trách nhiệm của Mỹ là duy trì sự ổn định của giá cả và đồng tiền của các nước khác phải chịu ảnh hưởng của lạm phát đồng dollar Mỹ. Do vậy, nếu Mỹ giữ giá vàng ổn định ở mức 35 USD/ounce thì giá cả thế giới sẽ ổn định. 

Nhưng Mỹ không giữ được giá vàng ổn định ở mức này vì những lý do sau:

  • Thứ nhất, do Chính phủ phải chi tiêu quá lớn vào những năm 1960 cho chiến tranh ở Việt Nam và cho những chương trình xã hội rất tốn kém bằng việc in tiền thay vì tăng thuế. Kết quả là Mỹ khó lòng giữ được giá vàng như đã cam kết.
  • Thứ hai, là sau khi kinh tế châu Âu và Nhật Bản được phục hồi, các nước đó bắt đầu gia tăng xuất khẩu và thu về đồng dollar Mỹ cho nên dự trữ ngoại tệ (USD) của các nước này ngày càng gia tăng. Trong thời gian này, Mỹ cam kết bán vàng với giá cố định 35 USD/ounce, vì thế, các nước châu Âu và Nhật Bản sử dụng dự trữ ngoại tệ của mình để tấn công vào kho vàng của Mỹ khiến cho dự trữ vàng của Mỹ cạn dần. Kết quả là Mỹ phải ngừng việc chuyển đổi dollar ra vàng theo giá chính thức vào năm 1968 và thả nổi giá vàng vào năm 1973.
  • Thứ ba, là các nước Đức, Nhật và Thụy Sĩ từ chối sự áp đặt tỷ lệ lạm phát của Mỹ lên đồng tiền của họ theo cơ chế tỷ giá cố định, kết quả là dollar giảm giá mạnh so với đồng tiền các nước này.

7. Chế độ tiền tệ tập thể

7.1. Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Right – SDR)

Vào cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970 do sức mua đồng dollar Mỹ đã có những bước thăng trầm khiến cho các nước bắt đầu mất niềm tin vào việc dự trữ đồng dollar. Đứng trước tình hình đó, tháng 9/1967 Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) lập ra một loại dự trữ quốc tế mới gọi là Quyền rút vốn đặc biệt viết tắt là SDR. Giá trị chính thức của SDR được căn cứ vào bản vị tổng hợp của các đồng tiền mạnh của nhiều nước, chứ không phải chỉ dựa vào dollar Mỹ.

SDR là một loại bút tệ được sử dụng như là một đơn vị tiền tệ quốc tế, làm dự trữ quốc tế có khả năng chuyển đổi ra ngoại tệ mạnh. Giá trị của SDR được ấn định là 0,888671 gram vàng, tương đương với hàm lượng vàng của USD lúc đó. Việc phân phối quyền sử dụng SDR tùy thuộc vào tỷ lệ góp vốn của các thành viên tham gia và tổng SDR mà IMF phát hành. Ví dụ Mỹ là thành viên đóng góp 24,4%, nếu phát hành 1 tỷ SDR thì Mỹ được phân phối sử dụng 244 triệu SDR.

7.2. Đồng tiền chung châu Âu

Một trong những yếu tố cần thiết để một đồng tiền được các nước khác sử dụng như đồng tiền quốc tế là quốc gia đó phải chiếm tỷ trọng lớn trong mậu dịch quốc tế. Lý do này thúc đẩy Liên minh châu Âu đi đến quyết định tạo lập đơn vị tiền tệ châu Âu (European Currency Unit – ECU).

ECU không những đóng vai trò tiền tệ là tiền ghi sổ chung của khối mà còn đóng vai trò là phương tiện dự trữ coi như ngoại hối của các nước thành viên. Theo Hiệp định Tiền tệ châu Âu (FECOM) – FECOM là cơ quan phát hành ECU, để có ECU các nước thành viên phải ký gửi vào FECOM 20% quỹ dự trữ của mình bằng vàng và 20% tổng quỹ dự trữ bằng dollar Mỹ.

Các nước thành viên sử dụng ECU để thanh toán nợ cho nhau, nhưng món nợ nào đó đã đến hạn thanh toán, nước mắc nợ sẽ thanh toán cho chủ nợ bằng chính đồng tiền của nước chủ nợ.

Tuy nhiên, ECU mới chỉ đóng vai trò là một chỉ số nhằm hạn chế biến động của tỷ giá trong khu vực. Mục đích hướng tới là một thị trường Châu Âu thống nhất được khẳng định trong đạo luật châu Âu hợp nhất, đó là cơ sở để xóa bỏ ranh giới giữa các đồng tiền và ranh giới chính sách tiền tệ giữa các quốc gia, từ đó thị trường châu Âu thống nhất và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1993, đồng tiền chung châu Âu (EURO) và liên minh Kinh tế Tiền tệ mới chính thức ra đời theo hiệp ước Maastricht.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :