Home / Tài Chính / Các nguồn thu nhập và chi phí của ngân hàng thương mại

Các nguồn thu nhập và chi phí của ngân hàng thương mại

/

Các ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh phải tự chủ về tài chính, lấy thu bù chi có lãi, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ và các cam kết của mình với khách hàng và tuân thủ những quy định của pháp luật có liên quan.

nguồn thu nhập và chi phí của ngân hàng thương mại

1. Thu nhập của ngân hàng thương mại

Thu nhập từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm nhiều khoản thu trong đó có hai loại thu nhập chủ yếu là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi.

1.1. Thu nhập lãi

Thu nhập lãi là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn thu của NHTM và được tạo ra từ các tài sản sinh lời như cho vay, đầu tư. Mức độ thu nhập từ lãi phụ thuộc vào sự biến động của lãi suất thị trường và mức độ rủi ro tín dụng, đầu tư. Các khoản thu nhập từ lãi chủ yếu như: Thu lãi cho vay khách hàng; Thu lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác và thu lãi cho vay các tổ chức tín dụng khác; Thu lãi từ kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ; Thu lãi từ hoạt động cho thuê tài chính.

1.2. Thu nhập ngoài lãi

Bao gồm thu nhập từ thu phí của các sản phẩm dịch vụ; Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối; Thu nhập từ kinh doanh chứng khoán; Thu nhập từ góp vốn mua cổ phần. Thu nhập ngoài lãi phụ thuộc vào số lượng và chất lượng cạnh tranh các sản phẩm dịch vụ của NHTM. Tỷ trọng thu nhập ngoài lãi thường thấp hơn nhiều so với nguồn thu nhập từ lãi.

Tuy nhiên, tỷ trọng thu nhập ngoài lãi của các NHTM đang có xu hướng ngày một tăng cao do trong nền kinh tế thị trường đầy biến động, hoạt động tín dụng, đầu tư tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, hoạt động dịch vụ thu phí chịu ít tác động của thị trường hơn và có mức độ rủi ro thấp hơn nhiều so với rủi ro tín dụng và đầu tư. Vì vậy các NHTM đang điều chỉnh chiến lược phát triển mạnh mẽ các sản phẩm dịch vụ mới để tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng và hạn chế rủi ro.

2. Chi phí của ngân hàng thương mại

Các khoản chi phí chủ yếu phát sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm: Chi phí lãi và chi phí ngoài lãi.

2.1. Các khoản chi phí lãi

Gồm có Chi trả lãi tiền gửi; Chi trả lãi tiền vay; Chi trả lãi phát hành chứng khoán nợ; Chi phí khác liên quan đến hoạt động huy động vốn. Chi phí lãi là chi phí chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của NHTM. Mức độ chi phí lãi phụ thuộc vào biến động của tỷ giá, lãi suất tiền gửi, tiền vay trên thị trường và uy tín, thương hiệu của NHTM.

2.2. Các khoản chi phí ngoài lãi 

Gồm có Chi phí cho các hoạt động dịch vụ thu phí; Chi phí cho hoạt động kinh doanh ngoại hối; Chi phí hoạt động (chi cho nhân viên, chi khấu hao tài sản, chi phí bảo hiểm tiền gửi,..); Chi phí dự phòng rủi ro; Các chi phí quản lý khác. Chi phí ngoài lãi tuy chiếm tỷ trọng không lớn bằng chi phí lãi nhưng có tính chất quyết định hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của NHTM về chi phí đầu vào của NHTM ở mức thấp hay cao.

Chi phí này phản ánh năng suất lao động, trình độ quản trị điều hành, đặc biệt là trình độ quản trị rủi ro ngân hàng. Một NHTM có tỷ lệ nợ xấu cao thì chi phí trích lập dự phòng rủi ro cao và ngược lại sẽ làm tăng hoặc giảm chi phí ngoài lãi và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng.

3. Lợi nhuận của ngân hàng thương mại

Lợi nhuận của ngân hàng thương mại được tính theo công thức sau đây:

Lợi nhuận trước thuế = (Tổng thu nhập) – (Tổng chi phí hợp lý)

Lợi nhuận sau thuế = (Lợi nhuận trước thuế) – (Thuế thu nhập doanh nghiệp)

Ngân hàng thương mại muốn tăng lợi nhuận cần phải tìm biện pháp tăng thu nhập bằng cách mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả tài sản có, đặc biệt là cấp tín dụng, đầu tư, phát triển các hoạt động dịch vụ thu phí và giảm các khoản chi phí không phù hợp, quản lý tốt tài sản nợ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh về các sản phẩm dịch vụ.

4. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Do NHTM là một tổ chức tài chính trung gian,hoạt động của nó có tác động rất lớn đến nền kinh tế và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Vì vậy quan điểm đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM không chỉ là đánh giá hiệu quả đối với bản thân chủ thể ngân hàng vì lợi ích của các chủ sở hữu ngân hàng và cán bộ nhân viên mà còn phải đánh giá đến hiệu quả của nền kinh tế.

Hiệu quả hoạt động NHTM với nền kinh tế được đánh giá thông qua các chỉ tiêu chủ yếu như: huy động và phân bổ nguồn vốn tín dụng phù hợp với chi phí thấp, quản trị rủi ro tốt và các dịch vụ ngân hàng đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế…

Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, người ta thường sử dụng một số các chỉ tiêu chính sau đây:

4.1. Tỷ suất sinh lời tài sản

Chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận thuần với tổng Tài sản Có bình quân: ROA (Return on Asset)

ROA = (Lợi nhuận thuần (lợi nhuận sau thuế) : Tổng tài sản có bình quân) x 100

Chỉ tiêu này cho biết: Khả năng sinh lời trên tài sản có bình quân của NHTM. Chỉ tiêu này đánh giá chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý Tài sản có. Nếu chỉ số này cao phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản cao và ngược lại. Theo các nghiên cứu tổng kết từ thực tế, tỷ lệ ROA bình quân của các NHTM được đánh giá là tốt nằm trong khoảng 1,5% < ROA < 3%; nếu ROA > 3% quá cao và ROA < 1% là quá thấp.

4.2. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận thuần với vốn chủ sở hữu bình quân của ngân hàng: ROE (Return on Equity)

ROE = (Lợi nhuận thuần (Lợi nhuận sau thuế) : Vốn chủ sở hữu bình quân) x 100

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân. Nếu chỉ tiêu trên tăng cao thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được nâng cao và ngược lại. Theo nghiên cứu của IMF: Tỷ lệ ROE bình quân của các NHTM tốt nhất trên thế giới (2003-2008) tốt nhất nằm trong khoảng 10% < ROE < 20%.

4.3. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên hay chênh lệch lãi ròng (NIM: Net Interest Margin)

NIM = ((Thu nhập lãi) – (Chi phí lãi)) : Tổng tài sản sinh lời bình quân) x 100

Chỉ tiêu này đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi cho vay, đầu tư so với chi phí trả lãi huy động vốn của ngân hàng. Tỷ lệ NIM cao nghĩa là hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng đạt hiệu quả cao và ngược lại. Theo đánh giá của S&P: tỷ lệ NIM của các NHTM tốt nhất thường nằm trong khoảng 3% < NIM < 5%; tỷ lệ NIM < 3% là thấp và NIM > 5% được xem là quá cao.

4.4. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên hay chênh lệch lãi ròng ngoài lãi (NNIM: Net Non-interest margin)

NNIM = ((Doanh thu ngoài lãi) – (Chi phí ngoài lãi)) : Tổng tài sản có sinh lời bình quân) x 100

Chỉ tiêu này đo lường mức chênh lệch giữa thu ngoài lãi (chủ yếu là thu phí hoạt động dịch vụ) so với chi phí ngoài lãi của ngân hàng. Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh các sản phẩm dịch vụ của NHTM. Tỷ lệ NIM càng cao thể hiện lĩnh vực hoạt động dịch vụ của ngân hàng có hiệu quả cao và ngược lại.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :