Home / Tài Chính / Các loại tổ chức tài chính trung gian ở Việt Nam & thế giới

Các loại tổ chức tài chính trung gian ở Việt Nam & thế giới

/

Các loại tổ chức tài chính trung gian (Financial intermediaries) có vai trò rất quan trọng trong hoạt động lưu chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn của nền kinh tế.

tổ chức tài chính trung gian

1. Các tổ chức tài chính trung gian nhận tiền gửi

Các tổ chức nhận tiền gửi là những tổ chức trung gian tài chính (financial intermediaries) chủ yếu của nền kinh tế. Hoạt động chủ yếu của các tổ chức này là huy động tiền nhàn rỗi từ các chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời và cung cấp vốn cho các chủ thể có nhu cầu dưới hình thức cho vay. Hoạt động của những tổ chức tài chính này có tác động trực tiếp đến quá trình cung ứng tiền cho nền kinh tế.

1.1. Ngân hàng thương mại

1.1.1. Ngân hàng thương mại là gì?

Hiện tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại tùy theo phương pháp tiếp cận, thời điểm tiếp cận và theo luật của mỗi quốc gia. Với cách tiếp cận theo chức năng và tính chất hoạt động, Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính mang tính tổng hợp, hoạt động theo mô hình một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ tài chính, ngân hàng, theo nguyên tắc t thị trường, vì mục tiêu lợi nhuận.

Hệ thống tổ chức tài chính việt nam
Hệ thống tổ chức tài chính việt nam

1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Huy động vốn: Các ngân hàng thương mại huy động vốn, tạo nguồn vốn kinh doanh từ các nguồn sau:

  • Nguồn vốn chủ sở hữu. Nguồn vốn này bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của ngân hàng trung ương. Vốn chủ sở hữu thường chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó phản ánh thực lực tài chính của ngân hàng, quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng và là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh, thu hút các nguồn vốn khác và cho vay.
  • Nguồn vốn tiền gửi. Đây là nguồn vốn quan trọng nhất, thể hiện rõ bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay. Nguồn vốn này chủ yếu dưới dạng tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác.
  • Nguồn vốn đi vay. Các ngân hàng thương mại có thể vay vốn từ ngân hàng trung ương, các tổ chức tín dụng hoặc từ thị trường tài chính trong và ngoài nước.
  • Các nguồn vốn khác như vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác đầu tư để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng, tiền gửi của ngân hàng khác nhờ thanh toán hộ.

Sử dụng vốn:

  • Cho vay. Đây là hoạt động sinh lợi chính của các ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay rất đa dạng. Theo thời hạn bao gồm: cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Theo đối tượng khách hàng bao gồm: cho vay doanh nghiệp, cho vay hộ gia đình, cho vay cá nhân. Theo đối tượng bao gồm: cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay đầu tư, cho vay tiêu dùng.
  • Đầu tư chứng khoán. Tham gia vào hoạt động đầu tư chứng khoán giúp các ngân hàng thương mại sử dụng và khai thác tối đa các ngồn vốn đã huy động, tăng khả năng thanh khoản và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
  • Góp vốn liên doanh, liên kết là nghiệp vụ ngân hàng bỏ vốn để thực hiện liên doanh liên kết với các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hoặc các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất, thương mại dịch vụ để tăng phần vốn góp, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng và nền kinh tế.

Một số hoạt động dịch vụ ngân hàng khác: Một số sản phẩm dịch vụ ngân hàng khác bao gồm thanh toán séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, hối phiếu, lệnh phiếu, thẻ thanh toán. Các ngân hàng thương mại không chỉ cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong nước mà còn phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế đáp ứng nhu cầu giao thương giữa các tổ chức, các nhân trong nước với các đối tác, khách hàng nước ngoài.

1.2. Ngân hàng phát triển

1.2.1. Ngân hàng phát triển là gì?

Ngân hàng phát triển là ngân hàng thường hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu mà phục vụ một số đối tượng khách hàng theo chính sách ưu tiên của nhà nước. Về cơ bản, các ngân hàng phát triển được quản lý, nắm quyền và phần lớn góp vốn bởi chính phủ. Chính vì vậy, chính phủ có quyền đưa ra chiến lược phát triển cũng như chỉ định bộ máy quản lý đối với các ngân hàng phát triển.

1.2.2. Một số đặc trưng của ngân hàng phát triển

– Phục vụ các đối tượng ưu tiên của nhà nước tùy theo từng thời điểm, ngành nghề và vùng miền khác nhau.

– Nguồn vốn chủ yếu là vốn từ ngân sách nhà nước cấp, tiếp nhận vốn từ các dự án tài trợ không hoàn lại hay vay nợ của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.

1.2.3. Một số hoạt động cơ bản của ngân hàng phát triển

Huy động vốn. Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, ngân hàng phát triển hoạt động bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cấp là chủ yếu. Ngoài ra, ngân hàng phát triển còn huy động vốn từ xã hội, bằng các hình thức phát hành chứng khoán, huy động tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, tiếp nhận vốn từ các dự án tài trợ không hoàn lại hay vay nợ của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.

Sử dụng vốn. Hoạt động của ngân hàng phát triển đảm bảo nguyên tắc bảo toàn vốn đầu tư ban đầu, bù đắp chi phí và phát triển vốn. Hoạt động chủ yếu là cho vay các đối tượng chính sách như người nghèo, sinh viên, các lĩnh vực ưu tiên. Thủ tục và điều kiện cho vay đơn giản hơn cho vay thương mại và linh hoạt theo từng đối tượng khách hàng vay.

1.3. Hiệp hội cho vay và tiết kiệm (S&Ls)

1.3.1. Hiệp hội cho vay và tiết kiệm (S&Ls) là gì?

S&Ls có nguồn gốc từ các “Liên hiệp xây dựng” (Building Society) ở Anh, một hình thức hiệp hội tiết kiệm với mục đích giúp các thành viên có được nguồn tài chính để mua được nhà ở. Định kỳ, các thành viên sẽ đóng góp một khoản tiền nhất định và hiệp hội sẽ thu xếp cho vay để định kỳ sẽ có một thành viên có thể mua được nhà. Thành viên được vay sẽ trả từng phần theo định kỳ cho đến khi trả hết nợ. Hiệp hội sẽ tự động giải thể khi tất cả các thành viên đều mua được nhà. Ngày nay, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay còn chấp nhận cả những thành viên tham gia không với mục đích mua nhà mà chỉ để hưởng lãi.

1.3.2. Một số đặc trưng của hiệp hội

– Hiệp hội hoạt động phi lợi nhuận.

– Mục đích của hiệp hội là hỗ trợ tài chính cho các thành viên

1.3.3. Một số hoạt động cơ bản của hiệp hội

Huy động vốn. Hiệp hội huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm (thường còn gọi là các cổ phần), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi viết séc được.

Sử dụng vốn. Theo truyền thống, tiền vốn huy động được dùng để cho vay thế chấp mua bất động sản. Tại Mỹ, những hiệp hội này là nhóm tổ chức trung gian tài chính lớn thứ hai sau nhóm ngân hàng thương mại, gồm khoảng 2.500 hiệp hội.

1.4. Các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (Mutual Savings Bank)

1.4.1. Các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ là gì?

Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ là tổ chức tín dụng chuyên huy động tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân và sử dụng vốn này để đầu tư chứng khoán, chủ yếu là trái phiếu kho bạc, cho vay sản xuất và tiêu dùng dựa trên cơ sở thế chấp và cầm cố tài sản của khách hàng.

1.4.2. Một số đặc trưng của ngân hàng tiết kiệm tương hỗ

– Phương thức hoạt động của các ngân hàng tiết kiệm mang tính chất tương trợ là chủ yếu mà không nhằm vào mục tiêu kinh doanh như các ngân hàng thương mại.

– Thành viên của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ cũng chính là những người tiết kiệm. Ban đầu, ngân hàng do một nhóm người đứng ra khởi xướng thành lập. Sau khi đủ số thành viên, họ đứng ra thành lập ngân hàng dưới dạng cổ phần có vốn góp từ các thành viên tham gia.

Sau đó, mỗi khi có thêm khoản tiền tiết kiệm mới, các thành viên tiếp tục gửi vào ngân hàng và khi cần tiền cho hoạt động kinh doanh hoặc tiêu dùng họ có quyền vay tiền của chính ngân hàng đó. Điều đặc biệt của ngân hàng loại này là không mở rộng thêm cổ đông.

Cấu trúc tổ chức công ty của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ hoạt động như một “hợp tác xã” trong đó những người gửi tiền chính là các chủ sở hữu ngân hàng. Lợi tức hàng năm của ngân hàng nếu không để tăng vốn kinh doanh thì sẽ được chia cho những người gửi tiền tiết kiệm và sáng lập ngân hàng.

1.4.3. Một số hoạt động cơ bản của ngân hàng tiết kiệm tương hỗ

Huy động vốn. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng tiết kiệm là tiền gửi của dân chúng hoặc đóng góp của các nhà hảo tâm với mục đích hỗ trợ người nghèo hơn là mục tiêu lợi nhuận. Các ngân hàng này không phát hành các công cụ nợ để vay vốn của công chúng và của ngân hàng trung ương trừ trường hợp đặc biệt. Các tổ chức này nhận tiền gửi tiết kiệm của các hộ gia đình và trả lãi tiền gửi giống như các ngân hàng.

Sử dụng vốn. Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các hộ gia đình, chủ yếu là các khoản cho vay cầm cố thế chấp bằng nhà cửa, tài sản hoặc chứng khoán, đầu tư vào chứng khoán hoặc cho các ngân hàng thương mại vay. Như vậy, đây cũng chính là các tổ chức cạnh tranh với ngân hàng thương mại. Tùy theo mỗi nước mà các quỹ này có nhiệm vụ và tên gọi khác nhau.

1.5. Liên hiệp tín dụng (Credit Union)

Đây là các tổ chức cho vay rất nhỏ có tính chất hợp tác xã được tổ chức xung quanh một nhóm xã hội đặc biệt. Các thành viên của một liên hiệp là những người làm công ăn lương của một công ty nào đó. Họ đồng thời vừa là chủ sở hữu vừa là khách hàng của liên hiệp tín dụng. Do vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu của liên hiệp tín dụng. Mục tiêu của liên hiệp tín dụng là hỗ trợ các thành viên.

Tại Mỹ, hiện có khoảng 15.000 liên hiệp tín dụng. Họ thu nhận vốn từ các khoản tiền gửi và thực hiện các khoản cho vay. Với đạo luật ban hành về hoạt động ngân hàng năm 1980, tại Mỹ, các liên hiệp tín dụng cũng được phép phát hành các khoản gửi có thể viết séc và có thể thực hiện các khoản cho vay thế chấp mua bất động sản bên cạnh các khoản cho vay tiêu dùng.

1.6. Quỹ tiết kiệm

Quy tiết kiệm là một tổ chức tín dụng thuộc một ngân hàng thương mại nào đó; chuyên thu hút tiền gửi tiết kiệm để chuyển cho ngân hàng mẹ sử dụng. Ở Việt Nam không có ngân hàng tiết kiệm riêng biệt nhưng hầu như tất cả các ngân hàng thương mại đều có các bàn tiết kiệm/phòng giao dịch để thực hiện huy động vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư nhằm hình thành nguồn vốn chung của ngân hàng thương mại.

1.7. Ngân hàng đầu tư

1.7.1. Ngân hàng đầu tư là gì?

Ngân hàng đầu tư là ngân hàng với đối tượng đầu tư chủ yếu là chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến phát hành bảo lãnh chứng khoán. Ngân hàng đầu tư có thể là ngân hàng đầu tư nhà nước, ngân hàng cổ phần hoặc ngân hàng tư nhân. Phần lớn ngân hàng đầu tư chịu sự quản lý về nghiệp vụ của ngân hàng trung ương.

1.7.2. Một số đặc trưng của ngân hàng đầu tư

– Chức năng chủ yếu của các ngân hàng đầu tư là giúp cho các doanh nghiệp, chính phủ hoặc các tổ chức khác phát hành chứng khoán để huy động số vốn cần thiết cho mục tiêu phát triển của mình.

– Các ngân hàng đầu tư còn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc mua lại công ty hoặc hợp nhất công ty với tư cách là người tư vấn hoặc được ủy quyền thực hiện.

– Các ngân hàng đầu tư thường đóng vai trò bảo lãnh cho việc phát hành chứng khoán thông qua việc tư vấn cho các công ty phát hành, đứng ra bảo lãnh cho đợt phát hành, tức là cam kết sẽ mua các chứng khoán với một mức giá nhất định trong trường hợp không thể bán tất cả chứng khoán đã phát hành trên thị trường.

1.7.3. Một số hoạt động cơ bản của ngân hàng đầu tư

Huy động vốn. Các ngân hàng đầu tư là ngân hàng bán buôn, nhận tiền gửi với số lượng lớn, hầu hết là có kỳ hạn của các định chế tài chính, doanh nghiệp và cá nhân. Nó cũng được quyền phát hành chứng khoán khi thiếu vốn. Ngoài ra, ngân hàng đầu tư cũng có thể vay các định chế tài chính khác.

Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Nghiệp vụ này có cùng tên gọi “ngân hàng đầu tư”, có thể vì đây là một nghiệp vụ truyền thống lâu đời nhất và là lý do hình thành nên ngân hàng đầu tư. Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư truyền thống bao gồm dịch vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán cho khách hàng, do đó có thể coi là nghiệp vụ trên thị trường sơ cấp. Các loại chứng khoán bao gồm chứng khoán nợ (trái phiếu) và chứng khoán vốn (cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi). Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư dần được mở rộng ra bao gồm tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A), tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp. Dịch vụ tư vấn M&A bao gồm tư vấn mua bán, sáp nhập, thành lập liên doanh, liên minh chiến lược, thoái vốn đầu tư và tư vấn chiến lược chống lại các cuộc thôn tính thù nghịch. Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư thường mang về các khoản phí tư vấn và bảo lãnh phát hành khổng lồ cho các ngân hàng đầu tư và tạo cơ sở bàn đạp để bán chéo các sản phẩm khác. Các khách hàng của mảng dịch vụ này chủ yếu bao gồm doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư có tổ chức, chính phủ và chính quyền địa phương.

Nghiệp vụ đầu tư. Nếu nghiệp vụ ngân hàng đầu tư diễn ra chủ yếu trên thị trường sơ cấp thì nghiệp vụ đầu tư chủ yếu diễn ra trên thị trường thứ cấp. Nghiệp vụ đầu tư bao gồm môi giới và đầu tư. Nghiệp vụ môi giới chủ yếu được áp dụng cho các sản phẩm chứng khoán niêm yết (bao gồm cả các sản phẩm phái sinh niêm yết như hợp đồng tương lai hay quyền chọn), trong đó ngân hàng đầu tư đóng vai trò trung gian nhận lệnh và khớp lệnh cho các khách hàng. Đầu tư bao gồm nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng với chức năng tạo thanh khoản thị trường mà ở đó ngân hàng đầu tư đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường và nghiệp vụ tự doanh với mục tiêu đầu cơ biến động giá chứng khoán. Nghiệp vụ đầu tư là hoạt động có rủi ro của ngân hàng đầu tư.

Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn. Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn là một loại nghiệp vụ đầu tư song có đối tượng chủ yếu là các sản phẩm thay thế. Các sản phẩm thay thế được hiểu là các sản phẩm đầu tư không phải là các sản phẩm truyền thống (cổ phiếu và trái phiếu), bao gồm đầu tư bất động sản, cho vay sú dụng đòn bẩy tài chính, các thỏa thuận tín dụng lớn như cho vay đồng tài trợ và tài trợ dự án. Một mảng quan trọng của ngân hàng bán buôn thuộc dòng sản phẩm chứng khoán vốn là đầu tư vốn tư nhân (private equity). Bản chất của nghiệp vụ này là việc ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp chưa niêm yết có tiềm năng để phát triển làm tăng giá trị thông qua tái cơ cấu tài chính và hoạt động. Sau quá trình phát triển và tái cơ cấu lại, ngân hàng sẽ thoái vốn đầu tư theo cách thông thường là tái niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn là một hoạt động tự doanh mang tính rủi ro cao. Với đối tượng đầu tư là các sản phẩm thay thế, thời hạn nắm giữ sản phẩm thường dài hơn so với nghiệp vụ đầu tư các sản phẩm chứng khoán truyền thống.

Nghiệp vụ quản lý đầu tư. Quản lý đầu tư ngày càng trở thành một mảng kinh doanh quan trọng của ngân hàng đầu tư nhờ mức độ rủi ro thấp và thu nhập ổn định. Quản lý đầu tư có thể phân thành nghiệp vụ quản lý tài sản và nghiệp vụ quản lý gia sản. Quản lý tài sản bao gồm quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư cho các khách hàng tổ chức. Quản lý gia sản hay dịch vụ ngân hàng cá nhân (private banking) là một khái niệm mới hình thành trong vài thập kỷ qua với dịch vụ tư vấn và quản lý tài sản cho các khách hàng là những cá nhân và gia đình giàu có. Sự gia tăng về thu nhập của nhiều tầng lớp dân cư tại nhiều quốc gia nhờ toàn cầu hóa đã hình thành nên một tầng lớp người giàu, làm cơ sở phát triển dịch vụ quản lý gia sản. Mảng kinh doanh này mang lại nguồn thu nhập ổn định cho các ngân hàng trong mọi điều kiện biến động của thị trường.

Ngoài ra, ngân hàng đầu tư còn có một số nghiệp vụ khác: nghiệp vụ nghiên cứu, nghiệp vụ môi giới. Ở các nước châu Âu, phạm vi hoạt động của ngân hàng đầu tư còn lấn sân sang lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, khi phân biệt giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại người ta thường căn cứ vào hoạt động chủ yếu của chúng. Ở rất nhiều nước, các ngân hàng thương mại cũng có thể thực hiện các hoạt động của ngân hàng đầu tư. Ở Mỹ, theo luật Glass Steagall Act năm 1993, các ngân hàng thương mại bị cấm không được tham gia bảo lãnh phát hành chứng khoán. Ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại cũng không trực tiếp tham gia vào hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán nhưng được thành lập các công ty chứng khoán hoạt động độc lập để thực hiện hoạt động như các ngân hàng đầu tư.

Hiện nay, trên thế giới, cải cách hệ thống tài chính đang diễn ra ở hầu hết các nước theo xu hướng đa năng hóa các ngân hàng thương mại theo đó các ngân hàng thương mại tham gia cả lĩnh vực hoạt động của ngân hàng đầu tư hoặc có sự sáp nhập giữa ngân hàng đầu tư với ngân hàng thương mại và hình thành các tổ hợp tài chính lớn.

Ở Việt Nam, một số công ty chứng khoán đang phát triển theo mô hình ngân hàng đầu tư. Ngoài ra, một số ngân hàng thương mại cũng đang phát triển nghiệp vụ ngân hàng đầu tư.

2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng

Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng, như công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư chung là những tổ chức trung gian tài chính, theo đó, vốn được huy động định kỳ trên cơ sở hợp đồng. Các tổ chức này nhận được các khoản đóng góp theo định kỳ và thực hiện chi trả cho những người sở hữu hợp đồng trong trường hợp các sự kiện trong hợp đồng xảy ra.

2.1. Công ty bảo hiểm

2.1.1. Công ty bảo hiểm là gì

Công ty bảo hiểm là tổ chức tài chính có nhiệm vụ cung cấp các hợp đồng bảo hiểm cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình nhằm giảm bớt các rủi ro ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và đời sống của họ. Các hợp đồng bảo hiểm chính là các phương tiện đảm bảo tài chính cho những người tham gia bảo hiểm, những người lo ngại có thể gặp phải một số biến cố xấu trong cuộc sống gây ra tổn thất đối với họ. Hợp đồng bảo hiểm chính là các tài sản có đối với hộ gia đình và các doanh nghiệp ký hợp đồng và là tài sản nợ đối với người bán các hợp đồng bảo hiểm.

2.1.2. Một số đặc trưng của công ty bảo hiểm

Hoạt động kinh doanh dựa trên rủi ro. Dựa vào nguyên tắc phân tán rủi ro, các tổ chức bảo hiểm có khả năng bù đắp các rủi ro tài chính cho các khách hàng của mình. Do hoạt động kinh doanh dựa trên rủi ro, các doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải có dự phòng.

Chu kỳ kinh doanh đảo ngược. Sản phẩm được bán ra trước, doanh thu được thực hiện sau.

– Bên cạnh đó, từ việc bán ra các hợp đồng bảo hiểm, họ đã tập trung được một khối lượng lớn các nguồn vốn tiết kiệm trong dân chúng. Ngoài ra việc dùng để bù đắp tổn thất cho những người có rủi ro, nguồn vốn này được dùng để đầu tư hoặc cho vay. Trên thế giới, khi nói tới vai trò trung gian của các tổ chức tài chính, bên cạnh các ngân hàng thương mại, người ta thường nhắc tới các công ty bảo hiểm do số vốn huy động khổng lồ của chúng.

2.1.3. Các loại hình công ty bảo hiểm

– Theo hình thức sở hữu, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm có thể là các doanh nghiệp nhà nước, các công ty cổ phần, các công ty bảo hiểm tương hỗ, công ty liên doanh, các chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nước ngoài, các công ty 100% vốn nước ngoài.

– Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm có thể là công ty bảo hiểm nhân thọ và công ty bảo hiểm phi nhân thọ.

2.1.4. Một số hoạt động của công ty bảo hiểm

Nghiệp vụ tạo nguồn vốn:

  • Phí bảo hiểm. Đây là nguồn vốn huy động quan trọng nhất của các doanh nghiệp bảo hiểm. Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm trả cho người bảo hiểm để nhận được sự bảo đảm trước những rủi ro. Nói một cách khác, trên thị trường bảo hiểm, phí bảo hiểm chính là giá cả của sản phẩm bảo hiểm. Vì vậy, việc xác định mức phí bảo hiểm hợp lý, có khả năng cạnh tranh cao sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm.
  • Thu nhập từ đầu tư. Ngoài thu nhập từ hoạt động bảo hiểm, nguồn thu từ hoạt động đầu tư là nhân tố quan trọng làm gia tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong các nền kinh tế phát triển, bảo hiểm là nhà đầu tư quan trọng, một công ty tài chính thực thụ, một tụ điểm tài chính quan trọng giữ một bộ phận tài sản lớn của xã hội. Nguồn thu từ các hoạt động đầu tư này có tác dụng to lớn trong việc bảo toàn và phát triển vốn để bổ sung, tăng cường quỹ dự trữ bồi thường, đồng thời có điều kiện để giảm bớt phí bảo hiểm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm. Nguồn thu này bao gồm các khoản lãi tiền gửi ngân hàng, thu từ lợi tức cổ phần, lãi từ đầu tư trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, thu từ kinh doanh bất động sản.

Hoạt động sử dụng và phân phối nguồn vốn:

  • Ký quỹ tại ngân hàng. Các doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải thực hiện ký quỹ tại ngân hàng và hưởng lãi trên số tiền ký quỹ. Trong trường hợp khó khăn về khả năng thanh toán, doanh nghiệp bảo hiểm được tạm thời sử dụng số tiền ký quỹ và phải bổ sung chúng trong một thời gian nhất định kể từ ngày sử dụng. Đây là công cụ quan trọng để nhà nước kiểm tra khả năng thanh toán của doanh nghiệp để thực hiện các cam kết của mình đối với người được bảo hiểm.
  • Trả tiền bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi đến hạn hợp đồng hoặc khi sự cố bảo hiểm xảy ra. Việc tính toán số tiền bảo hiểm chi trả cho các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đơn giản hơn nhiều so với các loại bảo hiểm khác. Trong đó, số tiền sẽ phải thanh toán cũng như các nghĩa vụ phát sinh của các bên đã được quy định trước trong hợp đồng. Số tiền chi trả có thể được xác định dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh có tính đến chế độ bảo trợ xã hội hoặc trên cơ sở số tiền bảo hiểm được ấn định trên hợp đồng. Tuy nhiên, số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm không bao giờ vượt quá giá trị thiệt hại thực tế nhằm tránh việc lợi dụng bất chính của người tham gia bảo hiểm. Người được bảo hiểm chỉ được bồi thường hoặc được trả tiền bảo hiểm khi đã thanh toán phí và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng đã ký kết. Ngược lại, điều bắt buộc đối với công ty bảo hiểm là phải thanh toán tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm vào bất cứ lúc nào khi sự cố bảo hiểm xảy ra. Như vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm luôn luôn là con nợ của người được bảo hiểm. Do đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn ước lượng được các cam kết của mình vào bất cứ thời điểm nào đối với các chủ nợ, trong đó quan trọng nhất là những người được bảo hiểm. Bên cạnh việc lập các quỹ dự phòng kỹ thuật, các doanh nghiệp bảo hiểm phải có các tài sản có giá trị tương đương làm đảm bảo như các khoản đầu tư, các khoản tiền gửi, các khoản cho vay có khả năng thanh khoản cao và có khả năng sinh lời. Đối với các rủi ro lớn vượt quá khả năng tài chính của mình, các nhà bảo hiểm thường sử dụng các kỹ thuật đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm để phân chia, san sẻ rủi ro.

Hoạt động đầu tư. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình để tham gia vào các hoạt động đầu tư. Các nguồn vốn có thể được đầu tư là vốn đầu tư, các quỹ dự trữ bắt buộc, các khoản dự phòng nghiệp vụ…Trong đó, phần chủ yếu là các khoản dự phòng nghiệp vụ. Tuy nhiên việc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nếu không thận trọng sẽ rất hiểm cho những người được bảo hiểm. Nhà nước đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện các cam kết của mình bằng các tài sản có thể hiện trên bảng tổng kết tài sản. Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, khi sử dụng phí của những người được bảo hiểm để đầu tư bắt buộc phải tuân theo những nguyên tắc nhất định bao gồm: an toàn, sinh lời và đảm bảo khả năng thanh khoản. Chính nguy vì lý do này mà nhà nước quy định danh mục các hoạt động mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể đầu tư và tỷ lệ đầu tư cho mỗi loại.

Mặt khác, nhà nước còn bắt buộc các công ty bảo hiểm phải đánh giá và thể hiện tài sản có của mình trong bảng tổng kết tài sản. Trong chiến lược đầu tư vốn của mình, các công ty bảo hiểm nhân thọ dành phần lớn vốn cho đầu tư dài hạn, vì thực chất khoản bồi thường của bảo hiểm nhân thọ thường phải chờ thời gian dài. Đa số người mua bảo hiểm muốn có hợp đồng bảo hiểm từ lúc còn trẻ và thường nhận tiền bảo hiểm sau nhiều năm hoặc khi về hưu. Đặc điểm này cho phép công ty bảo hiểm có thể dự đoán khá chính xác mức tiền chi trả cho từng thời gian.

Đối với các công ty bảo hiểm phi nhân thọ, khó khăn lớn của tổ chức này là rất khó dự đoán mức bồi thường và thời điểm bồi thường. Từ nguồn vốn huy động phí bảo hiểm, thu nhập từ các công ty bảo hiểm này dành một phần lớn cho vốn lưu động, còn lại dùng vào các hoạt động đầu tư.

Do tính chất bất định của các yêu cầu bồi thường nên công ty bảo hiểm phải có dự trữ một phần chứng khoán loại an toàn, khả năng thanh khoản cao, như trái phiếu chính phủ. Bên cạnh đó, loại chứng khoán cũng chiếm vị trí quan trọng là trái phiếu do các công ty tư nhân phát hành với khả năng mang lại thu nhập cao và ổn định cho các doanh nghiệp bảo hiểm. 

Ngoài ra, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ còn đầu tư một phần vốn vào các hoạt động cho vay thế chấp. Do yêu cầu tối quan trọng đối với các công ty bảo hiểm phi nhân thọ là tính kịp thời trong việc chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm mà khối lượng chi trả khó dự đoán trước một cách chính xác nên hoạt động đầu tư của họ chủ yếu là đầu tư ngắn hạn, đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao.

2.2. Quỹ lương hưu (tư nhân) và các quỹ hưu trí của chính quyền

Quỹ hưu trí là một định chế tài chính phổ biến ở các nước phát triển. Hoạt động của nó một mặt đảm bảo tài chính cho người lao động khi mất sức lao động vĩnh viễn, mặt khác góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế.

Vốn được nhận từ sự đóng góp của những người sử dụng lao động hoặc của những người lao động làm thuê nào có phương thức đóng góp trích từ lương một cách tự động hoặc là tình nguyện đóng góp. Tài sản có chủ yếu của quỹ lương hưu là trái phiếu công ty và cổ phiếu.

Sự ra đời và vận hành của các quỹ trợ cấp hoặc hưu trí và cơ chế quản lý quỹ hưu trí của từng nước là rất khác nhau. Trên thế giới, có thể phân biệt hai loại cơ chế quản lý quỹ hưu trí: quản lý theo kỹ thuật phân chia và theo kỹ thuật tồn tích.

Nguyên tắc của kỹ thuật phân chia là người làm công ăn lương trong độ tuổi làm việc sẽ tài trợ cho việc thanh toán trợ cấp hưu trí cho những người không còn trong độ tuổi lao động nữa. Quỹ trợ cấp này được quản lý bởi chính phủ. Với quỹ này, người lao động tại các cơ quan, đơn vị, các doanh nghiệp đều phải tham gia và sẽ được trợ cấp khi nghỉ hưu.

Nguồn hình thành quỹ từ sự đóng góp định kỳ của người lao động theo một tỷ lệ nhất định trên mức lương của họ khi còn làm việc, đóng góp của người sử dụng lao động và các nguồn khác. Quỹ sẽ được sử dụng để trợ cấp hưu trí, thanh toán chi phí y tế và trợ cấp mất sức lao động. Quỹ này được gọi là quỹ bảo hiểm xã hội.

Hệ thống này mặc dù hiện đang rất phổ biến ở các nước châu Âu nhưng cũng thể hiện những hạn chế nhất định. Từ nhiều năm nay, người ta nhận thấy dân số ở độ tuổi nghỉ hưu tăng mạnh hơn dân số đang làm việc.

Do đó, làm cho quỹ dễ lâm vào tình trạng thâm hụt nếu quản lý và đầu tư sử dụng quỹ không tốt. Điều này đòi hỏi chính phủ cần thiết phải quan tâm qua đó nhằm thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội của nhà nước và đảm bảo quyền, lợi ích cho những người lao động khi tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động.

Một hệ thống khác đã phát triển từ rất lâu ở Mỹ với cơ chế hoạt động là các cá nhân đều đặn bỏ ra một số tiền tiết kiệm trong suốt cuộc đời mình và dùng chúng để đầu tư vào các quỹ do các công ty lập ra. Quỹ này được quản lý bởi một công ty bảo hiểm nhân thọ hoặc bộ phận quản lý chuyên trách để đầu tư thu lãi. Hoạt động của quỹ với mục đích là thực hiện trợ cấp cho người lao động khi họ đủ thời gian lao động tối thiểu trong công ty. Trường hợp không đủ thời gian làm việc theo quy định, tự ý ra đi hoặc bị sa thải đều không được hưởng quyền được trợ cấp.

Quỹ này được hình thành từ nguồn trích từ thu nhập của công ty hàng năm, cho nên có thể không đủ để thực hiện trợ cấp. Nó luôn có nguy cơ thâm hụt. Điều này được khắc phục bởi quỹ trợ cấp được quản lý bởi chính phủ.

Hai hệ thống này không có cùng cơ chế trợ cấp hưu trí: hệ thống ban đầu dựa vào số năm làm việc của người lao động và tiền lương của họ vào thời điểm trước khi nghỉ hưu. Trong khi đó, hệ thống thứ hai tính tiền trợ cấp tùy thuộc vào số tiền mà người lao động đã đầu tư và thời gian đầu tư của họ. Ở Pháp, hiện nay vẫn chủ yếu thực hiện quản lý quỹ hưu trí theo cơ chế phân chia do chính các quỹ hưu trí chịu trách nhiệm tập trung quản lý các khoản phí bảo hiểm. Các quỹ này sẽ ký thác việc đầu tư vốn nhàn rỗi của mình cho quỹ tiền gửi và ký thác. Quỹ tiền gửi và ký thác là một tổ chức của nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý các quỹ bảo hiểm của xã hội và quỹ hưu trí. Đây là một trong những tổ chức tài chính lớn nhất của Pháp.

Ở Mỹ, hệ thống quản lý quỹ hưu trí theo kỹ thuật phân chia đã phát triển từ nhiều năm dưới hình thức quỹ trợ cấp. Thông thường, đó là các tổ chức tư nhân thực hiện việc tập trung các nguồn tiết kiệm của các hộ gia đình và đầu tư chúng trên thị trường. Quy mô tài chính của loại quỹ này cũng rất lớn. Tại Việt Nam, quỹ bảo hiểm xã hội đang vận hành theo nguyên tắc kỹ thuật phân chia.

Nhìn chung, các quỹ hưu trí được thành lập với mục đích hỗ trợ cho người lao động khi về hưu có một mức thu nhập ổn định. Để đạt mục đích này, các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động, người lao động và các tổ chức công đoàn, chính phủ cùng nhau xây dựng kế hoạch lương hưu trí, trong đó quy định tỷ lệ đóng góp định kỳ của những người tham gia trong thời gian người lao động còn đang làm việc. Sau đó, quỹ này dùng chi trả cho người về hưu có thể dưới hình thức trả một lần hoặc trả đều đặn theo định kỳ. Dù dưới hình thức nào, khả năng dự đoán chính xác mức và thời gian trả rất cao nên nguồn vốn của quỹ này thường được đầu tư vào các công cụ đầu tư dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay.

Ngoài ra, quỹ này còn đầu tư vào các tài sản có tính an toàn cao như gửi ngân hàng, vào các loại kỳ phiếu do ngân hàng phát hành. Do vậy, hoạt động của các quỹ hưu trí không những đảm bảo thu nhập thường xuyên ổn định cho những người lao động về hưu mà còn là một trung gian tài chính di chuyển vốn nhàn rỗi đến tay các chủ thể đầu tư, người cần vốn trong nền kinh tế.

3. Các trung gian đầu tư

Nhóm những tổ chức trung gian tài chính này bao gồm các công ty tài chính, các quỹ đầu tư chung và các quỹ đầu tư thị trường tiền tệ.

3.1. Công ty tài chính

Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng với chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính.

3.1.1. Công ty tài chính bán hàng

Các công ty tài chính này gián tiếp cấp tín dụng cho người tiêu dùng để mua hàng hóa từ một nhà phân phối hoặc một nhà sản xuất nào đó. Tín dụng được cấp dưới hình thức các doanh nghiệp bán hàng trả góp cho khách hàng theo hợp đồng mẫu do công ty tài chính loại này cung cấp. Sau đó, hợp đồng được bán lại cho công ty tài chính.

Như vậy, khoản nợ của khách hàng với nhà sản xuất hoặc nhà phân phối đã chuyển thành khoản nợ của khách hàng đối với công ty tài chính. Các công ty tài chính loại này thường do các công ty sản xuất hay các nhà phân phối thành lập nhằm hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng hàng hóa của mình.

Trước đây, các công ty tài chính loại này rất phát triển. Trong thời gian gần đây, do khủng hoảng kinh tế, hoạt động của các công ty tài chính này đang dần bị thu hẹp.

3.1.2. Công ty tài chính tiêu dùng

Công ty tài chính loại này cung cấp phần nguồn vốn của mình cho các gia đình và các cá nhân vay vào mục đích mua sắm hàng hóa tiêu dùng như các sản phẩm điện tử gia dụng, các đồ đạc nội thất hoặc sửa chữa nhà cửa.

Đa số các khoản cho vay đều thực hiện theo phương thức trả góp định kỳ hoặc cho vay dưới hình thức cấp thẻ tín dụng cho khách hàng được phép mua sắm ở các cửa hàng bán lẻ. Do các khoản cho vay này rủi ro khá cao nên các công ty tài chính tiêu dùng thường cho vay với số tiền nhỏ và lãi suất cao hơn lãi suất thị trường.

Những khách hàng tìm đến các dịch vụ này thường là những người không có khả năng tìm được nguồn vốn vay khác nên phải chấp nhận lựa chọn dịch vụ này. Hiện nay, các công ty tài chính này đang rất phát triển.

3.1.3. Công ty tài chính thương mại

Các công ty này chuyên cung cấp tín dụng bằng cách mua lại hoặc chiết khấu các khoản phải thu của doanh nghiệp. Ngoài ra, công ty còn cung cấp cho khách hàng các hợp đồng cho thuê tài chính và một số lợi dịch vụ khác.

3.1.4. Một số hoạt động của công ty tài chính

+ Huy động vốn. Công ty tài chính có thể huy động vốn thông qua việc phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu từ các tổ chức. Ngoài ra, họ còn có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức tài chính khác. Trong một số trường hợp, công ty tài chính có thể vay tái cấp vốn từ ngân hàng trung ương.

+ Sử dụng vốn. Công ty tài chính có thể cung cấp một số dịch vụ tín dụng, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng.

+ Cho thuê tài chính. Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là các công ty tài chính thuê mua với khách hàng đi thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng. Bên đi thuê có trách nhiệm sử dụng, bảo quản thiết bị và trả tiền thuê cho đến khi mãn hạn hợp đồng và không được dùng tài sản thuê để cầm cố, thế chấp hoặc để bảo đảm cho bất kỳ một nghĩa vụ tài chính nào.

+ Cho thuê vận hành. Ngoài hình thức cho thuê tài chính, các công ty tài chính còn cung cấp hình thức cho thuê vận hành với thời hạn ngắn. Trong hình thức này, trách nhiệm duy tu, bảo dưỡng và cung cấp mọi vật liệu cần thiết để máy móc, thiết bị vận hành tốt thuộc về công ty tài chính. Khách hàng chỉ phải trả tiền thuê.

3.2. Quỹ đầu tư chung và quỹ đầu tư tương hỗ

Những tổ chức trung gian tài chính này nhận vốn bằng cách bán các cổ phần do quỹ phát hành cho nhiều cá nhân rồi dùng tiền thu được để mua cổ phiếu và trái phiếu các loại.

Quỹ đầu tư chung cho phép cổ đông tập trung các nguồn vốn của mình để có thể mua được những lô lớn cổ phiếu hoặc trái phiếu có chi phí giao dịch nhỏ. Ngoài ra, các quỹ đầu tư chung cho phép những cổ đông được giữ nhiều danh mục đầu tư đa dạng hơn. Cổ đông có thể bán (mua lại) cổ phần vào bất cứ thời điểm nào.

Tuy nhiên, giá trị của những cổ phần này được xác định theo giá trị của những chứng khoán của quỹ đầu tư chung. Vì những biến động lớn của giá, giá trị cổ phần của quỹ đầu tư chung cũng biến động nhiều. Do đó, việc đầu tư vào quỹ tương trợ có thể là một hoạt động rủi ro.

Quỹ đầu tư tương hỗ hay còn gọi là công ty ủy thác đầu tư là tổ chức tài chính trung gian thực hiện huy động vốn từ các nhà đầu tư riêng lẻ, ít am hiểu về thị trường chứng khoán và đầu tư vốn của họ trong một danh mục chứng khoán theo nguyên tắc phân tán đầu tư.

Thực chất, đây là hình thức góp vốn chung giữa các nhà đầu tư và tổ chức nhằm tăng tính chuyên nghiệp của việc đầu tư, tạo điều kiện giảm thiểu rủi ro và các chi phí liên quan đến quá trình đầu tư. Nhờ vào tính chuyên nghiệp cao, các công ty đầu tư luôn tìm cách phân tán rủi ro, đa dạng hóa danh mục đầu tư, lựa chọn các loại chứng khoán phù hợp nhằm tăng giá trị thị trường của mỗi cổ phần đảm bảo lợi ích cho các cổ đông.

Một số loại hình quỹ đầu tư tương hỗ:

3.2.1. Căn cứ vào quy mô của vốn góp

Các quỹ đầu tư tương hỗ có thể chia thành các quỹ đầu tư tư nhân và quỹ đầu tư tập thể. Quỹ đầu tư tư nhân được hình thành do một số tổ chức và cá nhân góp vốn nhằm đầu tư vốn của mình có lợi nhất. Quỹ đầu tư tập thể là loại quỹ mà người góp vốn đông hơn, các chứng chỉ góp vốn được mua bán trên thị trường. Mỗi một nhà đầu tư có quyền tương ứng với số phần vốn góp của họ và có thể nhượng lại phần vốn của mình ở mọi thời điểm theo mức giá hiện hành của thị trường.

3.2.2. Căn cứ vào cách thức và tính chất góp vốn

Có thể phân biệt quỹ đầu tư dạng mở và quỹ đầu tư dạng đóng. Quỹ đầu tư dạng mở luôn phát hành các chứng chỉ quỹ đầu tư mới để tăng thêm vốn hoặc sẵn sàng mua lại những chứng chỉ đã phát hành ở mọi thời điểm theo giá thị trường.

Trong một quỹ đầu tư dạng mở, số lượng phần vốn góp luôn thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào việc mua lại số vốn góp đã phát hành hoặc phát hành thêm phần vốn góp mới.

Ngược lại, quỹ đầu tư dạng đóng có số lượng phần vốn góp cố định. Họ không phát hành thêm phần vốn góp mới và cũng không mua lại số phần vốn góp đã phát hành từ tay những người góp vốn cũ. Các phần vốn góp này được chuyển nhượng, mua bán trên thị trường giống như cổ phiếu. Như vậy, giá của từng phần vốn góp có thể sẽ khác với giá trị của chúng.

3.3. Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ

Đây là những tổ chức tài chính tương đối mới. Chúng có các đặc tính của quỹ đầu tư chung nói trên, nhưng cũng mở rộng phạm vi hoạt động như là một tổ chức gửi tiền bởi vì, thực tế các quỹ này chào mời một kiểu gửi tiền. 

Giống hầu hết các quỹ đầu tư chung các quỹ đầu tư thị trường tiền tệ bán cổ phần để huy động vốn, sau đó dùng để mua các công cụ thị trường tiền tệ. Các công cụ này an toàn hơn và rất dễ chuyển đổi ra tiền mặt.

Lợi nhuận do những tài sản có này mang lại, sau đó được đem thanh toán hết cho các cổ đông. Một đặc điểm then chốt của các quỹ này ở chỗ, các cổ đông có thể viết séc ứng với giá trị phần tài sản cổ phần của họ.

4. Các tổ chức trung gian tài chính tại Việt Nam

4.1. Tổng quan hệ thống tài chính Việt Nam

Giống như các nước trên thế giới, hệ thống tài chính Việt Nam cơ bản được vận hành theo cơ chế thị trường. Chủ thể tham gia thị trường tài chính ngày càng đa dạng và đầy đủ hơn. Theo nghiên cứu “Vai trò của Nhà nước trong phát triển Hệ thống tài chính Việt Nam” năm 2016 của Học viện Chính sách và Phát triển, Việt Nam hiện có gần 350 tổ chức tài chính, trong đó trên 140 tổ chức tín dụng 151 tổ chức kinh doanh chứng khoán, và 58 tổ chức bảo hiểm. Hệ thống các tổ chức tài chính của Việt nam có thể được mô tả theo sơ đồ dưới đây.

Ở tất cả các khu vực đều có sự góp mặt đầy đủ của các thành phần gồm: nhà nước hoặc nhà nước nắm cổ phần chi phối, cổ phần, tư nhân, liên doanh, chi nhánh và đầu tư 100% vốn nước ngoài.

Hiện nay, thế giới chưa có một mô hình cấu trúc tài chính nào là chuẩn mực hay tối ưu áp dụng chung cho tất cả các nước. Mỗi nước có một mô hình cấu trúc tài chính khác nhau, phù hợp với trình độ phát triển của thị trường tài chính và kinh tế, cũng như truyền thống lịch sử, văn hóa của nước đó. 

Về cơ bản, thế giới đang tồn tại hai hệ thống cấu trúc tài chính phổ biến:

  • (i) hệ thống cấu trúc tài chính dựa vào hệ thống ngân hàng (điển hình như Đức, Nhật Bản).
  • (ii) hệ thống cấu trúc tài chính dựa vào các thị trường tài chính (điển hình như Hoa Kỳ).

Việt Nam hiện đang tồn tại hệ thống cấu trúc tài chính dựa vào ngân hàng. Cũng theo Nghiên cứu của Học viện Chính sách và Phát triển, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam chiếm trên 86% tổng tài sản của các định chế tài chính. Cả hai khu vực còn lại là Chứng khoán và Bảo hiểm tuy có tốc độ tăng trưởng cao trong những năm gần đây song chỉ chiếm chưa đến 14% tổng tài sản của hệ thống tài chính.

4.2. Các tổ chức trung gian tài chính tại Việt Nam

Giống như các nước trên thế giới, các tổ chức trung gian tài chính Việt Nam bao gồm 3 nhóm: các tổ chức nhận tiền gửi; Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng; và các tổ chức trung gian đầu tư.

Các tổ chức nhận tiền gửi được chia ra hai loại: ngân hàng và các tổ chức tín dụng hợp tác. Phân theo hình thức sở hữu, các ngân hàng được chia thành

4.2.1. Các ngân hàng 100% vốn sở hữu nhà nước hay Nhà nước nắm cổ phần chi phối

Việt Nam hiện có 7 ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước, điển hình như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).

4.2.2. Các ngân hàng cổ phần tư nhân

Đến cuối năm 2015, Việt Nam có 27 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, điển hình như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á châu (ACB), Ngân hàng xuất nhập khẩu (EXIMBANK), Ngân hàng Tiên phong (Tienphong Bank), Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank), Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank), Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank).

4.2.3. Các ngân hàng nước ngoài

Việt Nam hiện có 04 ngân hàng liên doanh, 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 49 chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, điển hình như Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ Việt Nam, Ngân hàng Citibank Việt Nam, Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC Việt Nam, Ngân hàng Hong Leong Việt Nam.

4.2.4. Phân theo tính chất hoạt động

Các ngân hàng Việt Nam chia thành hai loại: Ngân hàng chính sách (Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam) và các Ngân hàng thương mại hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Hiện tại, Việt Nam chưa có ngân hàng đầu tư.

Các tổ chức tín dụng hợp tác tại Việt Nam gồm có Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opbank) và gần 1.200 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở hoạt động ở khắp các tỉnh, thành phố trên toàn quốc.

Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng bao gồm chủ yếu là các công ty bảo hiểm và các quỹ hưu trí. Đến cuối năm 2014, Việt Nam có 61 tổ chức bảo hiểm bao gồm: 30 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 17 công ty bảo hiểm nhân thọ, 2 công ty tái bảo hiểm và 12 công ty môi giới bảo hiểm.

4.2.5. Các tổ chức trung gian đầu tư gồm

Gần 20 công ty tài chính, gần 15 công ty cho thuê tài chính, trên 80 công ty chứng khoán.

Tóm lại, giống như các nước trên thế giới, Việt Nam có đầy đủ loại hình các tổ chức trung gian tài chính. Tuy nhiên, quy mô của các tổ chức trung gian tài chính của Việt Nam còn khá nhỏ so với các nước trong khu vực. Theo Nghiên cứu của Học viện Chính sách và Phát triển, trong hệ thống tài chính Việt Nam, các ngân hàng thương mại có quy mô tổng tài sản lớn nhất so với các loại hình trung gian tài chính khác, tuy nhiên, tổng tài sản 4 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam chỉ đạt chưa đến 110 tỷ USD, bằng 72% tổng tài sản MayBank, Malaysia – một trong 5 ngân hàng hàng lớn nhất của khu vực Đông Nam Á, có vốn chủ sở hữu khoảng 16 tỷ USD, tổng tài sản hơn 150 tỷ USD.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :