Home / Tài Chính / 19 loại tài sản tài chính trên thị trường vốn & tiền tệ

19 loại tài sản tài chính trên thị trường vốn & tiền tệ

/

Mục dưới đây phân tích cụ thể hơn về các loại tài sản tài chính chủ yếu trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn và thị trường phái sinh nhằm làm rõ những cách thức mà dòng vốn trên thị trường tài chính được dẫn từ người cho vay tới người vay trên các thị trường này.

các loại tài sản tài chính

1. Các loại tài sản tài chính trên thị trường tiền tệ

1.1. Tín phiếu kho bạc

Tín phiếu kho bạc là loại công cụ vay nợ ngắn hạn này của chính phủ, do chính phủ phát hành có kỳ hạn dưới một năm để bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN và là một trong những công cụ quan trọng để NHTW tác động vào cung tiền nhằm điều hành chính sách tiền tệ. Các kỳ hạn thường thấy của tín phiếu kho bạc là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng với một hay nhiều mệnh giá.

Tín phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro phá sản. Thông thường, tín phiếu kho bạc được quy định mức lãi suất cố định và được hoàn trả vốn khi đến hạn thanh toán. Hoặc, lãi được thanh toán thông qua việc bán lần đầu có giảm giá, tức là, với mức giá bán thấp hơn so với khoản tiền đã xác định sẽ được thanh toán khi hết hạn. Ví dụ, bạn có thể mua một tín phiếu kho bạc kỳ hạn 1 năm trong tháng 5/2014 với số tiền 9 triệu đồng, tín phiếu này có thể được thanh toán 10 triệu đồng vào tháng 5/2015.

Tín phiếu kho bạc là loại lỏng nhất trong tất cả các công cụ trên thị trường tiền tệ, do vậy, chúng được mua bán nhiều nhất. Chúng cũng là loại công cụ an toàn nhất trong tất cả các loại công cụ ở thị trường tiền tệ, vì Chính phủ luôn đáp ứng được các món nợ phải trả bằng cách tăng thuế hoặc phát hành giấy bạc. Tín phiếu kho bạc chủ yếu do các ngân hàng nắm giữ, cũng có một lượng nhỏ các hộ gia đình, các công ty và các trung gian tài chính khác nắm giữ.

Tại Mỹ, tín phiếu kho bạc được phát hành với thời hạn ban đầu là 4, 13, 26 hay 52 tuần. Các cá nhân có thể mua tín phiếu trực tiếp từ kho bạc hay mua trên thị trường thứ cấp từ một nhà buôn chứng khoán chính phủ. Thu nhập nhận được từ tín phiếu kho bạc phải chịu thuế ở cấp độ liên bang nhưng thu nhập này được miễn thuế tiểu bang và địa phương, đây cũng là một đặc điểm khác biệt giữa tín phiếu kho bạc và các công cụ thị trường tiền tệ khác.

1.2. Tín phiếu Ngân hàng nhà nước

Tín phiếu Ngân hàng nhà nước là giấy tờ có giá ngắn hạn do Ngân hàng nhà nước (NHNN) phát hành, để tạo ra công cụ trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Đối tượng mua tín phiếu NHNN là các tổ chức tín dụng. Tín phiếu NHNN được tự do mua bán, chuyển nhượng, cầm cố giữa các tổ chức tín dụng, được cầm cố để vay vốn hoặc chiết khấu tại NHNN.

1.3. Chứng chỉ tiền gửi

Chứng chỉ tiền gửi hay còn gọi là giấy chứng nhận tiền gửi (Certificate of deposit – CD) là công cụ vay nợ do NHTM phát hành cho người gửi tiền. Người gửi tiền được ngân hàng trả một khoản lãi theo tỷ lệ nhất định và được hoàn trả lượng vốn gốc theo giá mua ban đầu vào cuối kỳ hạn cố định của chứng chỉ tiền gửi. Người gửi tiền không được phép rút khoản tiền trước hạn, hoặc được phép rút tiền trước hạn nhưng phải chịu một khoản phạt lãi suất nhất định.

Trước năm 1961, CD là không thể bán lại được, tức là chúng không thể bán lại được hoặc không được hoàn trả trước kỳ hạn nếu không chịu một khoản phạt đáng kể. Năm 1966, nhằm làm che CD lỏng và hấp dẫn những người đầu tư hơn, Citibank đã lần đầu phát hành CD bán lại được đối với những loại có mệnh giá cao (trên 100.000 đô la). CD có thể được bán lại ở thị trường cấp hai.

Hiện nay, công cụ này được hầu hết các ngân hàng thương mại lớn phát hành và thu được thành công to lớn, với tổng số dư gần đây vượt quá tổng số dư của tín phiếu kho bạc. Chúng là nguồn vốn đặc biệt quan trọng mà những ngân hàng thương mại thu hút được từ các công ty, các quỹ tương trợ thị trường tiền tệ, các tổ chức từ thiện và các cơ quan của chính phủ.

1.4. Thương phiếu

Thương phiếu là công cụ vay nợ do các công ty lớn nổi tiếng phát hành nhằm huy động nguồn vốn ngắn hạn, thay vì vay trực tiếp từ ngân hàng. Thương phiếu thường được bảo đảm bằng một hạn mức tín dụng do ngân hàng cấp cho công ty phát hành. Công ty phát hành có thể sử dụng hạn mức này (nếu cần) để thanh toán cho người mua thương phiếu khi đến hạn thanh toán. Thương phiếu có tính an toàn tương đối cao, vì thông thường tình hình tài chính của công ty phát hành có thể được theo dõi và dự đoán trong thời hạn ngắn.

Thời hạn của thương phiếu tại Mỹ thường không quá 270 ngày, phổ biến nhất là dưới 1 đến 2 tháng với mệnh giá là bội số của 100,000 USD. Các công ty tại Mỹ hầu như không phát hành thương phiếu có kỳ hạn dài hơn 270 ngày, do kỳ hạn này đòi hỏi phải đăng ký với Uỷ ban thị trường chứng khoán (Security and Exchange Commission – SEC). Các thương phiếu thường được xếp hạng bởi một hoặc một số các công ty xếp hạng tín nhiệm như S&P Moody’s, Duff & Phelps.

1.5. Hối phiếu được ngân hàng chấp nhận

Hối phiếu là một yêu cầu do khách hàng của một ngân hàng gửi tới ngân hàng đó, yêu cầu ngân hàng thanh toán một khoản tiền cho người cầm hối phiếu vào một ngày trong tương lai, thông thường trong vòng 6 tháng. Nếu được ngân hàng ký hậu “chấp nhận thanh toán”, hối phiếu này có thể được mua bán trên thị trường thứ cấp. Giá bán hối phiếu được ngân hàng chấp nhận thấp hơn số tiền được ghi trên hối phiếu, tương tự như tín phiếu kho bạc được bán với giá thấp hơn mệnh giá.

1.6. Đô la ngoại biên (Eurodollars)

Đô la ngoại biên (Eurodollars) là tiền gửi bằng đô la ở các ngân hàng nước ngoài hay chi nhánh của ngân hàng Mỹ ở nước ngoài. Vì không nằm trong lãnh thổ của Mỹ, các ngân hàng này không phải tuân theo các quy định của Ủy ban dự trữ liên bang.

Chứng chỉ tiền gửi đô la ngoại biên cũng tương tự như chứng chỉ tiền gửi đô la trong nước, chỉ khác rằng nó là nghĩa vụ nợ của một ngân hàng nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng Mỹ ở nước ngoài. Chứng chỉ tiền gửi đô la ngoại biên được xem là kém thanh khoản hơn và rủi ro hơn chứng chỉ tiền gửi trong nước (Mỹ), vì thế có lợi suất cao hơn.

1.7. Hợp đồng mua lại chứng khoán (Repurchase agreement – repo)

Hợp đồng mua lại chứng khoán là một hình thức vay nợ ngắn hạn, theo đó ngân hàng hoặc công ty chứng khoán bán một lượng chứng khoán cho nhà đầu tư, kèm theo điều khoản mua lại số chứng khoán đó sau một vài ngày hay một vài tuần với mức giá cao hơn. Về bản chất. đây là một công cụ để người kinh doanh chứng khoán vay tiền từ ngân hàng và công ty chứng khoán, sử dụng một loại chứng khoán làm vật thế chấp, mức giá chênh lệch lúc bán và mua lại chứng khoán chính là lãi của khoản vay.

Hợp đồng mua lại nghịch đảo là một thỏa thuận ngược lại với repo, theo đó nhà buôn chứng khoán thỏa thuận mua chứng khoán từ một nhà đầu tư kèm theo điều khoản sẽ bán lại chứng khoán đó với mức giá định trước cao hơn vào một vài ngày hoặc một vài tuần sau đó.

1.8. Vay liên ngân hàng

Vay liên ngân hàng là việc các ngân hàng có dư vốn sẽ cho các ngân hàng thiếu vốn vay trên thị trường vay liên ngân hàng. Những khoản vay này được gọi là giao dịch qua đêm, lãi suất của các khoản vay này là lãi suất liên ngân hàng. Lãi suất vay liên ngân hàng là lãi suất làm căn cứ cho các lãi suất thị trường tiền tệ. Lãi suất liên ngân hàng thường cao hơn lãi suất repo vì việc vay mượn trên thị trường liên ngân hàng là vay mượn không có tài sản bảo đảm.

2. Các loại tài sản tài chính trên thị trường vốn

Hàng hoá trên thị trường vốn là các công cụ nợ và cổ phiếu, với kỳ hạn trên một năm hay vô hạn. Khác với các công cụ trên thị trường tiền tệ, các công cụ trên thị trường vốn có biên độ lệch tiêu chuẩn lớn hơn nhiều, do vậy mức độ rủi ro lớn và lợi tức thường cao.

2.1. Cổ phiếu

Cổ phiếu là trái quyền về vốn đối với thu nhập ròng và tài sản của một công ty; tức là nó chứng thực quyền sở hữu một phần của công ty và quyền được chia cổ tức.

Giá trị của cổ phiếu được thể hiện trên 3 phương diện sau:

Mệnh giá: là số tiền ghi trên bề mặt cổ phiếu. Mệnh giá thường được ghi bằng nội tệ, tuân theo quy định của luật chứng khoán và điều lệ của công ty.

Giá trị ghi sổ: là giá trị của mỗi cổ phần căn cứ vào giá trị tài sản ròng của công ty trên bảng tổng kết tài sản. Ví dụ: Một công ty có 100.000 cổ phiếu, mệnh giá 10.000 VNĐ/cổ phiếu. Sau 5 năm hoạt động, giá trị tài sản ròng của công ty theo sổ sách kế toán tăng lên 4 tỷ đồng. Khi đó giá trị của mỗi cổ phần theo sổ sách sẽ là 40.000 VNĐ, do đó giá trị ghi sổ của cổ phiếu công ty bây giờ là 40.000 VNĐ/cổ phiếu.

Giá trị thị trường: Là giá cả của cổ phiếu khi mua bán trên thị trường.

Cổ phiếu có thể được chia làm hai loại:

Cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu có thu nhập không cố định, lợi tức biến động tùy theo sự biến động lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên, giá trị thị trường cổ phiếu lại rất nhạy cảm với các yếu tố bên ngoài của thị trường, không chỉ phụ thuộc và lợi nhuận công ty mà còn rất nhiều nhân tố khác như môi trường kinh tế, thay đổi lãi suất, hay nói cách khác tuân theo quy luật cung cầu. Giá trị thị trường của cổ phiếu thông thường phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế nói chung và biến động theo chiều nghịch với biến động lãi suất trái phiếu chính phủ, các công cụ vay nợ dài hạn lãi suất cố định và lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng.

Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu nhập cố định theo một tỷ lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên, giá trị thị trường của cổ phiếu này phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty. Hạn chế của loại cổ phiếu này là việc cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia quản lý công ty và cổ tức của cổ phiếu ưu đãi không tăng lên như cổ tức của cổ phiếu thông thường trong trường hợp lợi nhuận của công ty tăng lên.

Như vậy, việc đầu tư vào cổ phiếu không chỉ đơn giản là nhận được cổ tức, mà quan trọng hơn chính là giá cổ phiếu được mua bán trên thị trường dao động mang lại lợi nhuận nhiều hơn số cổ tức thu được. Khi cổ phiếu của công ty được nhiều người mua, chứng tỏ thị trường tin tưởng vào hiện tại và khả năng phát triển của công ty trong tương lai và ngược lại. Một nhà đầu tư chứng khoán không phải chỉ giỏi trong xác định thời điểm mua bán, mà còn phải biết trung hòa rủi ro bằng cách xây dựng được doanh mục chứng khoán có các mức độ rủi ro khác nhau hoặc chu kỳ giao động lệch nhau.

2.2. Trái phiếu

Trái phiếu là chứng khoán nợ theo đó người đi vay nợ một khoản tiền được xác định cùng với các điều khoản liên quan đến việc hoàn trả lãi và gốc với kỳ hạn từ một năm trở lên. Bằng việc mua trái phiếu, người sở hữu trái phiếu, tức trái chủ, đã cung cấp cho nhà phát hành một khoản vay ứng trước trong thời hạn trên một năm. Nhà phát hành trái phiếu có nghĩa vụ trả lãi vay và hoàn trả vốn gốc cho trái chủ khi trái phiếu đáo hạn.

Trong trường hợp nhà phát hành trái phiếu không trả được lãi và gốc thì phải bán tài sản của mình để trả hoặc tuyên bố phá sản. Đặc điểm này khác với loại chứng khoán có bản chất vốn như cổ phiếu, nhà phát hành không bị bắt buộc phải hoàn trả vốn huy động cũng như trả lãi. Trái chủ luôn được ưu tiên hơn cổ đông khi nhận lãi hoặc nhận vốn gốc khi thanh lý công ty. Tuy nhiên chủ sở hữu trái phiếu không được quyền tham gia vào các quyết định của công ty như các cổ đông.

Số tiền ghi trên bề mặt của tờ trái phiếu chính là mệnh giá của trái phiếu hay còn gọi là nợ gốc. Đây là số vốn gốc mà tổ chức phát hành phải hoàn trả cho trái chủ khi trái phiếu hết hạn và là giá trị để làm cơ sở tính lãi định kỳ cho trái phiếu. Như vậy, trong khi mệnh giá của cổ phiếu chỉ mang ý nghĩa hình thức thì mệnh giá trái phiếu lại là một trong những cơ sở để xác định giá trị của một trái phiếu.

Căn cứ vào chủ thể phát hành, trái phiếu có thể được phân thành ba loại chủ yếu là trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp.

2.2.1. Trái phiếu chính phủ

Là trái phiếu do Chính phủ phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước. Trái phiếu chính phủ có rủi ro thanh toán rất thấp và có độ thanh khoản cao. Lãi suất của trái phiếu chính phủ thường được xem là căn cứ chuẩn ấn định mức lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn. Tại Mỹ, trái phiếu kho bạc trung hạn (Treasury notes) có thời hạn gốc lên đến 10 năm, trong khi trái phiếu kho bạc dài hạn (Treasury bonds) có thời hạn từ 10 đến 30 năm. Cả hai loại trái phiếu này đều có thể được phát hành với mệnh giá là bội số của 100 USD, nhưng phổ biến nhất là mệnh giá 1000 USD. Tại Việt Nam, “Trái phiếu Chính phủ” được định nghĩa là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước. 

Trái phiếu Chính phủ tại Việt Nam bao gồm ba loại sau:

Tín phiếu kho bạc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 13 tuần, 26 tuần hoặc 52 tuần và đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam. Các kỳ hạn khác của tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính quyết định tùy theo nhu cầu sử dụng vốn và tình hình thị trường nhưng không vượt quá 52 tuần. Mặc dù theo luật Việt Nam, tín phiếu kho bạc là một loại trái phiếu chính phủ, nhưng cần lưu ý rằng đây vẫn được xem là một chứng khoán nợ ngắn hạn giao dịch trên thị trường tiền tệ.

Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một (01) năm trở lên và đồng tiền phát hành là đồng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi. Ở Việt Nam, trái phiếu kho bạc thường có thời hạn 2 và 5 năm.

Công trái xây dựng Tổ quốc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một (01) năm trở lên, đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam và được phát hành nhằm huy động nguồn vốn để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước.

Các loại trái phiếu công trình Trung ương; trái phiếu đầu tư; Trái phiếu ngoại tệ đã bị loại ra khỏi danh sách các loại trái phiếu Chính phủ từ 2011 theo Nghị định 01/2011/NĐ-CP Mệnh giá của trái phiếu tại Việt Nam là 100.000đ và bội số của 100.000đ. Lãi suất trái phiếu chính phủ thường cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng cùng kỳ hạn.

2.2.2. Trái phiếu chính quyền địa phương

Là những trái phiếu được các chính quyền địa phương phát hành để huy động vốn cho các mục đích cụ thể, thường là để xây dựng những công trình hạ tầng cơ sở hay phúc lợi công cộng của địa phương. Ở Mỹ, trái phiếu chính quyền địa phương do các bang phát hành.

Rủi ro thanh toán của trái phiếu chính quyền địa phương phụ thuộc vào tình hình cụ thể của chính quyền địa phương phát hành trái phiếu. Tại Việt Nam, trái phiếu chính quyền địa phương được định nghĩa là loại trái phiếu do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương.

2.2.3. Trái phiếu doanh nghiệp

Là những trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành với mục đích tài trợ dài hạn cho các nhu cầu tăng vốn của doanh nghiệp. Trái phiếu doanh nghiệp bao gồm trái phiếu thường hoặc trái phiếu có quyền chọn đi kèm như trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có quyền bán lại hoặc trái phiếu có quyền mua lại.

Trái phiếu doanh nghiệp có bảo đảm là một loại trái phiếu doanh nghiệp mà theo đó, việc thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc và lãi khi đến hạn được bảo đảm bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc bên thứ ba, hoặc bằng bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính, tín dụng.

Trong trường hợp bên đứng ra bảo lãnh là chính phủ thì loại trái phiếu đó được gọi là Trái phiếu được chính phủ bảo lãnh. Chính phủ cam kết trước các nhà đầu tư về việc thanh toán đúng hạn của tổ chức phát hành, thường là các doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng chính sách của nhà nước.

Nếu doanh nghiệp phát hành trái phiếu không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán (gốc, lãi) khi đến hạn thì chính phủ sẽ chịu trách nhiệm trả nợ thay. Thông thường, chính phủ có thể bảo lãnh cho trái phiếu của các tổ chức phát hành để các tổ chức phát hành này thực hiện các chương trình, dự án theo chỉ định của chính phủ.

2.3. Các khoản vay dài hạn trực tiếp

Các khoản vay dài hạn trực tiếp là những món tiền cho các cá nhân hoặc các công ty kinh doanh vay để đầu tư với thời hạn dài, thường được thế chấp bởi các công trình kiến trúc, nhà, đất đai sẵn có của người đi vay hoặc những tài sản được hình thành từ chính khoản vay đó. Ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm là người cho vay hàng đầu trong lĩnh vực này.

3. Các loại tài sản tài chính trên thị trường phái sinh

Các chứng khoán chủ yếu trên thị trường phái sinh bao gồm: hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi.

3.1. Hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai là hợp đồng giữa hai bên theo đó một bên cam kết mua và một bên cam kết bán một số lượng tài sản cơ sở nhất định vào một ngày đã được ấn định trước trong tương lai với mức giá được xác định ngay tại thời điểm thoả thuận hợp đồng. Các hàng hoá cơ sở có thể là ngoại hối, nông sản, kim loại và khoáng sản, chỉ số chứng khoán, lãi suất.

Hợp đồng tương laiHợp đồng kỳ hạn
Được chuẩn hoá về loại tài sản cơ sở, về số lượng tài sản cơ sở được mua bán và thể thức thanh toán, kỳ hạn.Không được chuẩn hoá, các chi tiết do hai bên tham gia hợp đồng đàm phán và quyết định cụ thể.
Được thoả thuận và mua bán thông qua người môi giới.Được thoả thuận trực tiếp giữa hai bên tham gia hợp đồng.
Thường được mua bán trên thị trường phi tập trung.Thường được mua bán trên thị trường tập trung.
Được tính hàng ngày theo giá thị trường.Thường được thanh toán vào ngày đáo hạn.
Bảng so sánh Hợp đồng tương lai và Hợp đồng kỳ hạn

3.2. Hợp đồng quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng theo đó người mua có quyền (nhưng không có nghĩa vụ) mua hay bán một số lượng xác định các đơn vị tài sản cơ sở từ người bán quyền chọn tại hay trước một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá xác định ngay tại thời điểm thoả thuận hợp đồng. Người mua quyền chọn phải trả một khoản phí nhất định, gọi là giá của quyền chọn cho người bán quyền chọn.

Hợp đồng quyền chọn được chia thành quyền chọn mua và quyền chọn bán:

3.2.1. Quyền chọn mua

Trao cho người mua quyền chọn quyền (nhưng không phải nghĩa vụ) được mua tài sản cơ sở vào một thời điểm hay trước một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định.

3.2.2. Quyền chọn bán

Trao cho người mua quyền chọn quyền được bán tài sản cơ sở vào một thời điểm hay trước một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định. Hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Âu chỉ có thể được thực hiện vào ngày đáo hạn chứ không được thực hiện trước ngày đó. Trong khi đó, hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ cho phép thực hiện vào mọi lúc cho đến hết ngày đáo hạn. Các tài sản cơ sở của quyền chọn có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, ngoại hối, kim loại quý hoặc nông sản.

3.3. Hợp đồng hoán đổi

Hợp đồng hoán đổi là loại hợp đồng theo đó hai bên tham gia hợp đồng có quyền và nghĩa vụ phải hoán đổi dòng tiền cho nhau theo tỷ lệ xác định tại nhiều thời điểm trong tương lai. Hợp đồng hoán đổi thường bao gồm các loại: hợp đồng hoán đổi lãi suất, hợp đồng hoán đổi ngoại tệ và hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng.

3.3.1. Hợp đồng hoán đổi lãi suất

Hai bên tham gia hợp đồng có quyền và nghĩa vụ phải hoán đổi giữa lãi vay thả nổi và lãi vay cố định dựa trên một giá trị vay danh nghĩa theo định kỳ trong tương lai.

3.3.2. Hợp đồng hoán đổi ngoại tệ

Hai bên tham gia hợp đồng có quyền và nghĩa vụ phải hoán đổi hai loại tiền tệ cho nhau tại một tỷ giá xác định trước theo định kỳ trong tương lai.

3.3.3. Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng

Bên mua phải trả cho bên bán một khoản phí định kỳ để đổi lại, bên bán sẽ chi trả một khoản tiền nhất định nếu tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở được ghi trong hợp đồng bị vỡ nợ. Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng có bản chất tương tự một hợp đồng bảo hiểm cho rủi ro tín dụng.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :