Home / Tài Chính / 5 cách giao dịch ngoại hối (forex) cho người mới bắt đầu

5 cách giao dịch ngoại hối (forex) cho người mới bắt đầu

/

Giao dịch ngoại hối giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ, hợp đồng tương lai, quyền chọn là những cách giao dịch ngoại hối (forex) phổ biến.

cách giao dịch forex ngoại hối

1. Giao dịch ngoại hối giao ngay (foreign exchange spot)

Giao dịch ngoại hối giao ngay là giao dịch mua hoặc bán một loại tiền tệ này lấy một loại tiền tệ khác và việc thanh toán được thực hiện trong phạm vi hai ngày làm việc sau “ngày giao dịch” (là ngày mà hợp đồng được ký). Hai ngày này là cần thiết để:

  • Có thời gian chuẩn bị hợp đồng, giấy tờ và chuyển tiền.
  • Và trong nhiều trường hợp, do sự khác nhau về múi giờ giữa các địa điểm giao dịch của người mua và người bán.

Tỷ giá mà tại đó giao dịch giao ngay được thực hiện gọi là “tỷ giá giao ngay”. Ngày thực hiện việc thanh toán thường được gọi là “ngày giá trị” của giao dịch, vì vào ngày đó, các bên sẽ thực hiện việc chuyển tiền vào tài khoản của đối tác.

Khái niệm ngày làm việc trên thị trường tài chính nói chung không bao gồm ngày thứ Bảy, Chủ nhật hoặc ngày nghỉ lễ. Thông thường, các bên sẽ chọn ngày làm việc là ngày mà ngân hàng ở địa điểm nơi diễn ra giao dịch và tại quốc gia có đồng tiền giao dịch mở cửa làm việc. Nếu ngày giá trị rơi vào ngày lễ, ngày đó sẽ được hiểu là chuyển sang ngày làm việc kế tiếp.

Tỷ giá giao ngay trên thị trường thường được căn cứ trên tỷ giá mua và bán trên thị trường liên ngân hàng. Ở một số quốc gia mà đồng tiền nội tệ bị định giá có sự can thiệp hành chính, chẳng hạn ở Việt Nam hay Trung Quốc, tỷ giá giao ngay thường không phản ánh đúng cung cầu trên thị trường về đồng tiền đó, thường là đồng tiền nội tệ được định giá cao hơn thực tế.

Cách tính tỷ giá giữa mỗi cặp tiền tệ đã được quy chuẩn trên thị trường tài chính toàn cầu. Tỷ giá giao ngay thường được đưa ra giữa một cặp tiền tệ, trong đó một đồng tiền đóng vai trò là đồng cơ sở và một đồng tiền là đồng chuyển đổi. Chẳng hạn, nếu tỷ giá USD/ VND là 1 USD = 22.500 VND, thì đồng đô Mỹ là được gọi là đồng tiền cơ sở còn đồng Việt Nam là đồng tiền chuyển đổi.

Đồng đô la Mỹ là ngoại tệ mạnh nhất của thị trường ngoại hối và được dùng làm đồng tiền cơ sở cho hầu hết các giao dịch, ngoại trừ EUR, GBP, AUD và NZD được quy chuẩn là đồng tiền cơ sở so với đồng đô la Mỹ. Tỷ giá giữa hai đồng tiền không phải là đô la Mỹ là gọi là tỷ giá chéo. Tỷ giá chéo sẽ được tính dựa trên tỷ giá của mỗi đồng tiền đó so với đồng đô la Mỹ.

Khi đưa tỷ giá, những người tạo lập thị trường thường đưa ra giá mua và giá bán (gọi là bid và offer). Chênh lệch giữa giá mua và giá bản gọi là khoảng giá (spead). Giá trung bình là giá nằm giữa giá mua và giá bán (mid-market price). Người tạo lập thị trường được hiểu là người đưa ra giá để khách hàng mua hoặc bán. Đó thường là các ngân hàng hoặc công ty mua bán ngoại tệ.

Một công ty, hoặc ngân hàng có thể có các vị thế ngoại hối khác nhau. Vị thế ngoại hối là trạng thái mà công ty đó muốn duy trì việc mua hay bán một lượng ngoại tệ nhất định. Nếu một công ty định đầu cơ hoặc dự đoán rằng giá trị của một đồng tiền sẽ tăng, công ty đó sẽ duy trì vị thế mua, tức là họ sẽ liên tục mua vào đồng tiền đó.

Ngược lại, nếu công ty đó dự đoán giá trị một đồng tiền sẽ giảm, họ sẽ duy trì vị thế bán, tức là bán ra đồng tiền đó. Nếu không đầu cơ, họ chỉ đơn thuần kiếm lợi từ việc bán ra, mua vào theo giao dịch thông thường, thì vị thế đó gọi là vị thế phẳng (flat hoặc square position).

Phần tiếp theo sẽ trình bày các công cụ tài chính mà những người tham gia thị trường tài chính sử dụng với mục đích chủ yếu là để phòng ngừa rủi ro về tỷ giá. Các công cụ này còn được gọi bằng một tên khác là các công cụ phái sinh tài chính. Các công cụ này cũng được sử dụng rộng rãi trong giao dịch vay, cho vay, phát hành trái phiếu để phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, lãi suất.

2. Giao dịch ngoại hối kỳ hạn (foreign exchange forward)

Giao dịch ngoại hối kỳ hạn là giao dịch trong đó các bên sẽ ký kết hợp đồng mua bán một đồng tiền theo một tỷ giá đã được xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện tại một thời điểm xác định trong tương lai (ngày giá trị) đã được thỏa thuận trước tại ngày giao dịch.

Tỷ giá kỳ hạn sẽ được các bên thỏa thuận trước vào ngày giao dịch, nhưng tỷ giá đó sẽ áp dụng vào ngày giá trị. Về mặt lý thuyết, nếu thời hạn của giao dịch nhiều hơn hai ngày làm việc có thể được xem là giao dịch kỳ hạn. Trên thực tế, các bên có thể ký hợp đồng kỳ hạn 1,2,3,6 hay 12 tháng hoặc nhiều năm. Ở Việt Nam, thời hạn của giao dịch ngoại tệ kỳ hạn giữa đồng Việt Nam và các ngoại tệ khác là từ 03 đến 365 ngày theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ giá kỳ hạn được tính dựa trên tỷ giá giao ngay và lãi suất của hai đồng tiền tương ứng trong giao dịch. Tuy nhiên, giao dịch kỳ hạn không phải là sự tiên đoán về tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền giao dịch. Chẳng hạn, nếu giá giữa USD/VND trong giao dịch kỳ hạn một tháng là 21.900 không có nghĩa là thị trường dự đoán tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền là 21.900 trong vòng một tháng.

Việc dự đoán tỷ giá là rất không đáng tin cậy và đưa giá dựa trên các dự đoán này là rất rủi ro. Thực tế, sự khác nhau giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay phản ánh sự chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền đó. Nhìn chung, tỷ giá kỳ hạn sẽ dựa trên tỷ giá giao ngay và lãi suất của hai đồng tiền tương ứng trong giao dịch.

3. Giao dịch ngoại hối tương lai (foreign exchange future)

Giao dịch ngoại hối tương lai chính là các giao dịch kỳ hạn đã được chuẩn hóa và giao dịch trên các thị trường chứng khoán tập trung. Các hợp đồng giao dịch kỳ hạn khi đó sẽ được chuẩn hóa với các điều khoản và điều kiện đồng nhất, chỉ khác nhau về các chi tiết thương mại của giao dịch. Kỳ hạn phổ biến của giao dịch tương lai là ba tháng.

Các hợp đồng giao dịch ngoại hối tương lai là các hợp đồng quy định cụ thể một lượng tiền nhất định sẽ được giao dịch vào một ngày thanh toán đã ấn định trước. Về cơ bản, hợp đồng tương lai cũng giống hợp đồng kỳ hạn liên quan tới các nghĩa vụ trong hợp đồng, chỉ khác nhau về cách thức giao dịch. Các hợp đồng tương lai được sử dụng phổ biến bởi các công ty đa quốc gia để phòng ngừa các rủi ro về tiền tệ. Ngoài ra, các tổ chức đầu cơ cũng sử dụng rộng rãi công cụ này để kiếm lời dựa trên các đánh giá về thay đổi của tỷ giá hối đoái.

4. Giao dịch hoán đổi ngoại tệ (foreign exchange swap)

Giao dịch hoán đổi ngoại tệ là giao dịch mua và bán cùng một số lượng một đồng tiền này lấy một đồng tiền khác được đồng thời thực hiện với kỳ hạn thanh toán giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm hợp đồng được ký kết. Chẳng hạn, một công ty có thể bán 1 triệu đô la Mỹ lấy đồng Việt Nam với tỷ giá giao ngay là 21.800 vào ngày D, sau đó mua lại 1 triệu đô la này vào ngày D+30 với tỷ giá kỳ hạn là 21.900.

Hai giao dịch này trong giao dịch hoán đổi ngoại tệ sẽ được thỏa thuận đồng thời với cùng một đối tác trong hợp đồng. Một đầu của giao dịch hoán đổi thường là giao dịch giao ngay, tuy vậy, không nhất thiết là các bên sẽ luôn phải thực hiện giao dịch giao ngay này. Giao dịch còn lại chính là giao dịch kỳ hạn theo chiều trao đổi ngược lại của hai đồng tiền. Pháp luật Việt Nam quy định kỳ hạn của giao dịch hoán đổi ngoại tệ giữa đồng Việt Nam và các ngoại tệ khác là từ 03 đến 365 ngày.

Phần lớn các giao dịch trên thị trường ngoại hối là giao dịch hoán đổi ngoại tệ do giao dịch này là một lựa chọn thay thế cho giao dịch vay hay gửi tiền trên thị trường tiền tệ (thị trường eurocurrency). Trên thị trường tài chính, một hành động phổ biến của các tổ chức giao dịch được biết tới với tên gọi “arbitrage”. Arbitrage hiểu đơn giản là hành động khai thác sự khác biệt giữa thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ. Khi một tổ chức arbitrage, tổ chức đó có thể đi vay với giá thấp trên thị trường tiền tệ hay đầu tư để kiếm lời trên thị trường ngoại hối do sự khác nhau về giá giữa hai thị trường này.

5. Giao dịch quyền chọn ngoại tệ (foreign exchange option)

Đây là một loại giao dịch phái sinh trong đó bên sở hữu quyền chọn sẽ có quyền, nhưng không có nghĩa vụ, trao đổi một loại tiền tệ này lấy một loại tiền tệ khác theo một tỷ giá đã thỏa thuận trước giữa hai bên vào một ngày đã được xác định trong tương lai.

Chẳng hạn, một công ty có thể ký kết một giao dịch quyền chọn với ngân hàng để được quyền mua 1 triệu đô la Mỹ với tỷ giá thực hiện là 21.850 vào ngày thực hiện là một tháng sau ngày ký hợp đồng. Nếu tỷ giá thị trường vào ngày thực hiện giao dịch cao hoặc thấp hơn giá thực hiện 21.850 cũng không ảnh hưởng tới nghĩa vụ của công ty và công ty có thể quyết định mua hoặc không mua số tiền 1 triệu đô la đó. Vào ngày thực hiện giao dịch, nếu tỷ giá thực hiện cao hơn tỷ giá thị trường, thường thì công ty sẽ không thực hiện quyền mua theo hợp đồng mà có thể mua theo giá thị trường thấp hơn từ một ngân hàng khác. Nếu tỷ giá thực hiện thấp hơn tỷ giá thị trường, công ty sẽ thực hiện quyền mua để mua của ngân hàng và do đó, được lợi về giá.

Giao dịch quyền chọn thường được các công ty sử dụng để phòng ngừa rủi ro về tiền tệ giống như một biện pháp bảo hiểm tỷ giá. Nếu công ty có khoản vay bằng đô la Mỹ và phải trả nợ bằng đồng tiền này, công ty đó có thể sử dụng giao dịch quyền chọn để phòng ngừa sự tăng giá của đồng đô la Mỹ và đảm bảo nguồn tiền bằng đô la Mỹ để trả nợ.

Quyền chọn tiền tệ là một trong những thị trường phát triển nhất và có tính thanh khoản cao nhất trong mọi loại thị trường quyền chọn.

6. Tỷ giá hối đoái: Giá thị trường

Mức giá mà ở đó một đồng tiền được dùng để trao đổi lấy một đồng tiền khác gọi là tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền đó. Trong thị trường tự do, tỷ giá lên hoặc xuống phụ thuộc vào cầu và cung của đồng tiền đó. Trong thị trường ngoại hối bị kiểm soát, tỷ giá thường được ấn định và kiểm soát. Thị trường ngoại hối của các đồng tiền mạnh cũng có thể coi là bị kiểm soát một phần, với ý là các chính phủ thường cố gắng ổn định tỷ giá đồng tiền của quốc gia mình so với các đồng tiền ngoại tệ chính. Thị trường hối đoái Việt Nam bị kiểm soát chặt và trong hai đến ba thập kỷ gần đây, tỷ giá của đồng Việt Nam được ấn định so với đồng đô la Mỹ với tỷ lệ điều chỉnh do Ngân hàng Nhà nước quyết định. Đánh giá chung là đồng tiền Việt Nam đang bị định giá cao hơn so với đồng đô la Mỹ.

Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền mạnh như đô la Mỹ, euro, bảng Anh và yên Nhật biến động tự do theo cung cầu. Trên thị trường – ngoại hối, tỷ giá ấn định thường là các tỷ giá mà ngân hàng hay các công ty môi giới bán cho khách hàng của mình. Các tỷ giá được đưa ra trên màn hình Reuters hay Bloomberg thường chỉ là căn cứ tham khảo. Tuy vậy, các tỷ giá này được cập nhật liên tục và có thể phản ánh tương đối chính xác tỷ giá hiện tại trên thị trường.

Các đồng tiền chính được giao dịch trên thị trường ngoại hối là: đô la Mỹ, euro, yên Nhật, bảng Anh. Theo thống kê của Triennial Survey năm 2013, trên thị trường giao ngay, các cặp tiền tệ được giao dịch nhiều nhất là: EUR/USD: 24,1%; USD/JPY: 18,3%; GBP/ USD: 8,8%. Đồng đô la Mỹ chiếm tới 87% số lượng các giao dịch, tiếp theo là đồng euro (33,4%) và yên Nhật (23%).

7. Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái

Các yếu tố ảnh hưởng đến cung và cầu ngoại hối có thể chia thành các yếu tố ngắn hạn và các yếu tố dài hạn. Các yếu tố dài hạn là các điều kiện về kinh tế và quy định của luật pháp tạo ra nhu cầu mua hoặc bán một đồng tiền nhằm mục đích xuất nhập khẩu hàng hóa hay để đầu cơ. Tỷ giá trung bình giữa hai đồng tiền cũng như các thay đổi về tỷ giá này thường sẽ phản ánh các điều kiện kinh tế khác nhau giữa hai quốc gia.

Các yếu tố tác động ngắn hạn là các yếu tố ảnh hưởng tới cung và cầu một đồng tiền phát sinh từ các điều kiện nhất thời trên thị trường ngoại hối và thường không tồn tại kéo dài. Chẳng hạn, việc có ít người bán một đồng tiền nào đó trên thị trường có thể làm cho giá cả đồng tiền đó tăng nhanh.

Các tin đồn hay tâm lý thị trường cũng có thể tạo ra các kỳ vọng về việc lên xuống của giá trị một đồng tiền.

Các sự kiện chính trị cụ thể cũng có những tác động ngắn hạn, chẳng hạn kết quả bầu cử của một đất nước cũng có những tác động lên thị trường. Nếu tâm lý thị trường, tin đồn hay các sự kiện chính trị dẫn đến các hoạt động mua đầu cơ hay dự phòng một đồng tiền nào đó, tỷ giá của đồng tiền đó có thể biến động một cách đáng kể trong ngắn hạn trong một vài ngày, vài tuần hay thậm chí vài tháng.

Các biến động trên thị trường ngoại hối gây ra các rủi ro tiền tệ. Nói ngắn gọn, đây là các rủi ro do việc biến động bất lợi của tỷ giá dẫn đến việc giảm thu nhập dự kiến hoặc tăng chi phí dự kiến của một công ty có giao dịch mua, bán, vay hay cho vay bằng ngoại tệ.

Quy mô của các rủi ro này phụ thuộc vào khối lượng thu nhập, chi phí, vay hoặc cho vay của công ty đó bằng mỗi đồng tiền cụ thể. Mục đích chính sách của các chính phủ có thể là để đạt được giá trị ổn định cho đồng tiền quốc gia. Sự ổn định giá trị của đồng tiền làm giảm các rủi ro tiền tệ và tạo ra môi trường thuận lợi cho thương mại quốc tế.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :