Home / Sức Khỏe / Ung thư tuyến tiền liệt có nguy hiểm không, sống được bao lâu?

Ung thư tuyến tiền liệt có nguy hiểm không, sống được bao lâu?

/

Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh của người già rất nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân tử vong chủ yếu do ung thư của nam giới.

Ung thư tuyến tiền liệt có nguy hiểm không

1. Ung thư tuyến tiền liệt có nguy hiểm không? 

Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh của người già rất nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân tử vong chủ yếu do ung thư của nam giới ở các nước Âu Mỹ. Tỷ lệ phát bệnh của các nước trên thế giới rất khác nhau. Căn cứ số liệu thống kê, tỷ lệ phát bệnh ung thư tuyến tiền liệt chiếm vị trí số một trong các căn bệnh ung thư của nam giới ở các nước Bắc Âu; ở nước Mỹ tỷ lệ phát bệnh là 14,3%, nó chỉ thấp hơn bệnh ung thư phổi ác tính thường gặp, chiếm 10% thư ác tính trong nam giới, chiếm vị trí thứ hai trong ung thư của nam giới. Tỉ lệ tử vong của nó tỉ lệ thuận với tuổi tác, trong độ tuổi 60-64, chiếm vị trí thứ 5 chết vì bệnh ung thư; 65-69 tuổi chiếm vị trí thứ 3; 70-79 tuổi chiếm vị trí thứ 2; 80 tuổi trở lên chiếm vị trí thứ 1. 

Tỷ lệ phát bệnh ung thư khác nhau giữa các khu vực địa lý và các chủng tộc. Người Châu Âu bị bệnh cao nhất, người Châu Phi và người Israel là trung bình, người Châu Á thấp nhất, ở Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước khác thuộc khu vực phát bệnh thấp. Có người cho rằng sự sinh trưởng của loại bệnh ung thư này của người phương Đông so với người phương Tây thì chậm hơn. Căn cứ vào tài liệu thống kê hữu quan, người da đen ở nước Mỹ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt là 9,6%, còn người da trắng là 5,2%; tỉ lệ người da đen chết vì bệnh ung thư tuyến tiền liệt là 3,0%, còn người da trắng chiếm 1,4%, tuổi bình quân chết vì bệnh này là 72-77 tuổi.

Tỷ lệ phát bệnh ung thư tuyến tiền liệt ở Trung Quốc rất thấp. Căn cứ vào số liệu thống kê năm 1972-1974 của thành phố Thượng Hải, thì tỉ lệ phát bệnh là 0,482/10 vạn nam giới, chiếm tỉ lệ bệnh ung thư ở nam giới là 0,28-0,32%, đứng vị trí thứ 35 bệnh ung thư ở nam giới, tuổi phát bệnh là trong vòng 60-80, còn ở độ tuổi dưới 40 ít gặp. Căn cứ vào số liệu thống kê năm 19851987 của thành phố Bắc Kinh thì tỉ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt và tỉ lệ tử vong là 2,41/10 vạn và 1,19%.

Theo tài liệu những năm gần đây nói rõ, bất luận là ở khu vực phát triển cao hay thấp, thì tỉ lệ phát bệnh ung thư tuyến tiền liệt đã có và sẽ có sự tăng trưởng rõ rệt.

2. Tiên lượng ung thư tuyến tiền liệt sống được bao lâu

Tiên lượng thời gian sống của bệnh nhân mắc ung thư tuyến tiền liệt phụ thuộc vào giai đoạn bệnh. Phân cấp ung thư tuyến tiền liệt là một việc làm không dễ dàng gì. Nói chung là căn cứ vào đặc điểm của tế bào thượng bì, tình trạng hình thành tuyến thể cũng như đặc trưng về phương diện bệnh lý của 3 hình thái cơ chất để tiến hành tổng hợp phân cấp.

– Cấp I: Hạch của tế bào thượng bì có biến đổi suy thoái với độ nhẹ.

– Cấp II: Hạch của tế bào thượng bì có biến đổi suy thoái với độ trung bình.

– Cấp III: Hạch của tế bào có biến đổi suy thoái một cách rõ ràng. Người mà khối u có sự hình thành tuyến thể một cách rõ ràng được phân là lành tính, người mà không hình thành tuyến thể được phân là không lành tính. Cơ chất của ung thư cứng. Căn cứ quan sát, phân cấp như vậy là phù hợp với dự đoán hậu quả về sau.

3. Có những con đường di căn nào của ung thư tuyến tiền liệt?

Đường di căn của ung thư tuyến tiền liệt có thể là:

Kéo dài trực tiếp: sắp xếp của tế bào bình thường mất đi, kết cấu tế bào tuyến khác thường, lớp tầng đáy mất đi, thời kì đầu bao mạc bị xuyên rách khuếch tán cục bộ, thâm nhập vào cơ quan của tổ chức bên cạnh, đầu tiên là xâm nhập túi tinh, bàng quang, ống dẫn tinh, các tổ chức trong vùng xương chậu. Lúc này nốt của tuyến tiền liệt to lên, giới hạn không rõ ràng. Có đám sưng cục bộ khi còn rất nhỏ cũng có người cố định không đổi lâu dài.

Di căn theo đường máu: trường hợp di chuyển theo đường máu là thường hay gặp, tế bào ung thư theo đường máu mà tới xương, tạo thành di căn xương, chỗ của nó là xương chậu, xương cột sống ở lưng, xương đùi và xương sườn. Do tĩnh mạch của túi tinh với hệ thống tĩnh mạch cột sống là thông với nhau, khi mà cục ung thư từ tĩnh mạch túi tinh đến tĩnh mạch của cột sống, gây nên sự di căn của xương cột sống và xương chậu. Tế bào ung thư theo đường máu mà cũng có thể đến phổi, gan, màng ngực, thận, não.

Con đường hạch: ung thư tuyến tiền liệt xâm phạm tuyến hạch, do chuyển qua hạch bên trong và bên ngoài xương hông, cũng có thể kéo đến vách ngang cũng như đến hạch trên xương đòn. Do hạch tuyến tiền liệt với tuyến hạch lympho túi tinh được thông trong soang xương chậu nhỏ, cho nên nó sẽ di chuyển đến chỗ túi tinh.

4. Ung thư tuyến tiền liệt di căn sống được bao lâu?

Loại bệnh này khi mới khám lần đầu đã có khoảng 20-30% người đã có hiện tượng di căn, trong đó trường hợp di căn đến xương là thường gặp, chiếm khoảng 60-70% người mắc bệnh. Thứ tự của di căn xương là xương chậu, xương cột sống lưng, xương đùi, xương ngực, xương sườn. Khi di căn đến xương ngực và xương cột sống lưng, có thể gây nên chèn ép tuỷ sống. Ô di căn xương đa phần biểu hiện là thành biến đổi tính chất xương, nhưng vẫn là mang tính dung cốt và tính hỗn hợp. Ung thư phân hoá càng kém, thì di căn xương càng nhiều.

Di căn nội tạng chủ yếu là phổi, gan và tuyến thượng thận. Người chết trong số những người bị ung thư tuyến tiền liệt thì 25% là có di căn phổi, nhưng trên phương diện lâm sàng thì đều không có triệu chứng về phổi.

Vì quá trình bệnh dài ngắn không giống nhau, nếu như không điều trị kịp thời, bình quân chỉ sống được 31 tháng, người đã có di căn thì chỉ có thể sống được trong vòng 9 tháng. Khi ổ ung thư chỉ hạn chế trong bao mạc, thực hiện việc chữa bệnh tận gốc, thì có khoảng 50% người mắc ung thư tuyến tiền liệt di căn sống được trên 5 năm; người mà đã có di căn thì chỉ có khoảng 6% người sống được đến 5 năm.

5. Có những phương pháp nào để điều trị ung thư tuyến tiền liệt?

Có rất nhiều phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt, thời kỳ đầu dùng phương pháp phẫu thuật cắt đi là phù hợp. Đối với những người không có cách nào để tiến hành phẫu thuật, thì có thể dùng phương pháp điều trị duy trì, phương pháp xạ liệu hữu hiệu, trị liệu bằng hóa chất, phương pháp nội tiết (kích tố nữ, kháng kích tố nam, cắt bỏ tinh hoàn, trị liệu kích tố bì chất tuyến thượng thận), liệu pháp đóng băng, liệu pháp miễn dịch và điều trị bằng Đông y.

Căn cứ vào phân kì ung thư tuyến tiền liệt, phương pháp điều trị có thể quy nạp như sau:

Thời kỳ thứ nhất (A):

+ Trừ khi bệnh nhân dưới 65 tuổi và những người ung thư phân hoá không tốt ra, thì không tiến hành điều trị vội vàng.

+ Nếu bệnh nhân trên 70 tuổi thì không tiến hành điều trị. Dưới 70 tuổi có thể dùng phương pháp cắt bỏ tuyến tiền liệt và hạch xoang chậu, nếu không thể phẫu thuật được, thì có thể tiến hành điều trị bằng phương pháp phóng xạ.

Thời kỳ thứ hai (B): nên dùng phương pháp cắt bỏ tuyến tiền liệt và cắt bỏ hạch xoang chậu, bổ trợ thêm là dùng phương pháp điều trị bằng hóa chất. Nếu như không thể phẫu thuật được thì dùng phương pháp điều trị bằng phóng xạ.

Thời kỳ thứ ba (C): nên tiến hành cắt bỏ tuyến tiền liệt và cắt bỏ hạch xoang chậu, hoặc tiến hành điều trị bằng phóng xạ. Cũng có thể phẫu thuật đóng băng hoặc điều trị nội tiết.

Thời kỳ thứ tư (D):

+ Cắt bỏ tuyến tiền liệt và cắt bỏ hạch xoang chậu hoặc điều trị bằng phóng xạ, dùng thêm hoá chất.

+ Khi xuất hiện triệu chứng thì tiến hành điều trị nội tiết, đầu tiên là cắt bỏ tinh hoàn, Nếu như dùng kích tố nữ để điều trị, hàm lượng mỗi ngày là 3ml là tốt, phẫu thuật đóng băng thì ổ di căn sẽ mất đi.

6. Sau lúc biết bị ung thư tuyến tiền liệt thì làm thế nào?

Biết được ung thư tuyến tiền liệt rồi còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố để xử lý như tuổi tác, thời kỳ bệnh, phân cấp tổ chức học về u và loại hình chữa trị, nhưng phải theo dõi nghiêm ngặt. Đối với ung thư tuyến tiền liệt thời kỳ A, thì chưa cần chữa trị nhưng phải theo dõi nghiêm ngặt. Ở thời kì B, đại đa số cần áp dụng cắt bỏ tuyến tiền liệt là điều trị có tính tận gốc. Thời kỳ C và D nói chung áp dụng điều trị bằng nội tiết, có thể ức chế sự phát triển của u, có thể làm cho trên một nửa số bệnh nhân có chuyển biến tốt. Nếu tình hình toàn thân được cải thiện, u nhỏ đi, giảm nhẹ việc đi tiểu khó, men photphat tính axit của huyết thanh thấp, nhưng tế bào ung thư không thể hoàn toàn mất đi. Đối với ung thư tuyến tiền liệt ở thời kỳ cuối có thể áp dụng điều trị bằng phóng xạ hay điều trị bằng hóa chất.

Cụ thể như sau:

Ung thư tuyến tiền liệt thời kỳ A: đa số phân hoá tốt, tình hình bệnh tương đối ổn định. Khoảng 2/5 người không điều trị thì bệnh tình phát triển dần dần, chỉ có 2% bị chết vì ung thư trong vòng 5-10 năm. Do sau lúc chữa trị có khá hơn nên nói chung không chủ trương mổ cắt trị tận gốc tuyến tiền liệt. Thời kỳ A, không điều trị thì 30% sẽ loang rộng, 20% số người chết vì ung thư trong vòng 5-10 năm.

Ung thư tuyến tiền liệt thời kỳ B: cần thực hiện mổ trị tận gốc. Thời kì Bị đa số phân hoá tương đối tốt, lúc phẫu thuật có thể phát hiện 5-20% có hạch lympho di căn, mổ trị tận gốc sau 15 năm không thấy ung thư nữa đạt tỉ lệ 50-70%. Thời kì B, mổ trị tận gốc có thể phát hiện 50% đã xâm phạm đến túi tinh, 25-35% có hạch lympho di căn. Nếu khi phẫu thuật không thấy hạch lympho di căn thì 86% bệnh ung thư chỉ hạn chế trong tuyến tiền liệt. Sau khi mổ trị tận gốc 15 năm số người còn ung thư nữa chiếm 25%.

Thời kỳ C: chữa trị tương đối khó khăn, 50% số người có hạch lympho xoang chậu di căn thì trong 5 năm sẽ di căn xa hơn, 75% chết vì ung thư trong vòng 10 năm. Nói chung thời kỳ C tiến hành mổ trị tận gốc thì cần kết hợp chữa trị bằng phóng xạ và chữa trị bằng nội tiết, tỷ lệ sống trong 5 năm khoảng 60%, 10 năm khoảng 20-30%, trong 15 năm người sống không có ung thư chiếm 11%.

Thời kì D: chủ yếu chữa trị bằng phóng xạ, hoá chất và nội tiết. Trong 5 năm tỉ lệ sống là 25%; 10 năm tỉ lệ là 0. Bất kì thời kì nào mà chữa trị bằng nội tiết thất bại thì 90% tử vong trong vòng 2 năm. Phẫu thuật chữa trị tận gốc có tỉ lệ tử vong là 1-5%.

7. Người bị ung thư tuyến tiền liệt nên ăn nhiều loại thực phẩm gì?

Điều chỉnh ăn uống hợp lý, khoa học, có tác dụng phòng ngừa ung thư tuyến tiền liệt phát sinh, không ăn hay ít ăn loại thực phẩm nấu cháy đen, vì chúng chứa loại chất gây ung thư. Không ăn thịt rang cháy và lương thực bị mốc vì prôtêin cháy thì độc, và lương thực mốc chứa độc tố mốc biến vàng là chất gây ung thư mạnh.

Đồ uống cần đa dạng và chứa nhiều dinh dưỡng để tiện cho cơ thể chọn lọc lợi dụng tự nhiên. Không được ăn phiến diện, nghiện ăn vì tập quán này có thể tạo ra thiếu vitamin và nguyên tố vi lượng dễ gây ung thư. Rõ ràng là trong ăn uống có nhiều dinh dưỡng quan trọng như thế nào đối với việc phòng ngừa ung thư tuyến tiền liệt.

Do đó bệnh nhân phải thường xuyên ăn uống các loại thực phẩm sau:

– Ăn nhiều hoa quả chứa nhiều vitamin A, C. Thí nghiệm trên động vật về chống ung thư cho thấy hoa quả chống ung thư có trong sơn tra, quả sung, mía, đào, táo tây, dứa.

– Thường xuyên ăn rau tươi: có người cho rằng bắp cải, súp lơ, cải dầu, tỏi tây, cà rốt, rau bách hợp, rau thái cổ, rau cải thìa, đậu ván đều có khả năng ức chế ung thư, là các loại rau lí tưởng.

– Cần ăn nấm hương, ngân nhĩ, mộc nhĩ, nấm rạ vì chúng không những là loại thực phẩm quý, mà còn là loại thực phẩm phòng chống ung thư rất tốt.

8. Bác sĩ, hộ lý phải quan tâm đến bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt như thế nào?

Bệnh nhân sau lúc biết mình bị ung thư tuyến tiền liệt, có khả năng sẽ bị thất quan vọng, lo âu, do vậy nhân viên y tế nhất thiết phải quan tâm đến họ để họ tin tưởng, tín nhiệm, nhân viên y tế cũng cần ra sức chế định phương án chữa trị và hộ lý tối ưu. Chỉ cần tích cực phối hợp chữa trị thì có thể chiến thắng được bệnh.

Bác sĩ và hộ lý phải xây dựng thái độ thân mật đáng tin trong con mắt và tấm lòng người bệnh là người có trách nhiệm, y thuật cao siêu để người bệnh an tâm, tin cậy, muốn sống. Lời nói và hành động của thầy thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin và dũng khí đấu tranh với ung thư của người bệnh, điều đó rất quan trọng. Có cần nói thực hết tình trạng bệnh cho bệnh nhân hay không, thì phải căn cứ vào tình hình cụ thể để quyết định, hoặc nói đến mức nào để khêu gợi tính năng động chủ quan của người bệnh có lợi nhất thì phải căn cứ vào tính cách, trạng thái tâm lý, mức tiếp nhận của bệnh nhân để quyết định, nguyên tắc chung là không để bệnh nhân mất lòng tin. Đối với một số bệnh nhân có ý chí tương đối kiên cường, nhìn nhận đúng đắn bệnh mình thì có thể chừng mực nào đó nói thật tình trạng bệnh để chuẩn bị tinh thần cho việc chữa trị, phối hợp tốt với thầy thuốc, như vậy sẽ thu được hiệu quả chữa trị tốt. Với bệnh nhân tương đối căng thẳng, mẫn cảm thì tạm thời chưa nói hết thực tình bệnh, sau này dẫn dần có thời cơ mới nói. 

Cần chú ý rằng: người bệnh khi chưa biết thực tế bệnh, thường mẫn cảm, chú ý đến mọi người xung quanh, mong qua hành động và lời nói của họ để biết mình bị bệnh đáng sợ ra sao, nên không bình tĩnh, khó chủ động phối hợp để chữa bệnh hoặc cho kết quả ngược lại, như vậy rất không có lợi.

Thầy thuốc trả lời các nghi vấn của bệnh nhân cần nắm thật chắc, lúc bệnh có chuyển biến tốt, lập tức cổ vũ bệnh nhân để họ hy vọng. Không được cố ý nói dối làm bệnh nhân cảm thấy không chân thật, mất lòng tin, làm ảnh hưởng đến chữa trị. Điều đó cần tránh.

9. Gia đình người thân cần chăm sóc bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt như thế nào?

Thời gian người bệnh ở bệnh viện và sau khi xuất viện, đều không tách rời khỏi sự chăm sóc của gia đình, vì trong điều trị ung thư đó là lực lượng rất quan trọng. Lúc chăm sóc, gia đình cố gắng làm được các điểm sau:

– Ủng hộ phương án chữa trị tối ưu mà thầy thuốc chọn lựa, đồng thời cổ vũ bệnh nhân tích cực tiếp nhận và phối hợp chữa trị. Cố làm cho bệnh nhân thấy được sự ưu ái, đầm ấm của gia đình để tăng lòng tin, giúp cho hiệu quả chữa trị tốt hơn.

– Tìm môi trường điều dưỡng tốt, khiến bệnh nhân có không khí vui vẻ, tiến hành chữa trị. Nếu được như vậy và bệnh nhân lại sẵn sàng chủ động phối hợp chữa trị thì hiệu quả sẽ rất tốt.

– Điều chỉnh hợp lí, có khoa học cơ cấu ăn uống để bổ sung dinh dưỡng cho bệnh nhân, nhất là thời kỳ hồi phục sức khỏe sau phẫu thuật và trong quá trình chữa trị bằng phóng xạ, bằng hoá chất. Điều phối ăn uống tốt, có lợi cho việc chữa trị và hồi phục sức khỏe.

– Cổ vũ và giúp đỡ bệnh nhân vận động thích hợp, phương thức vận động thì tuỳ tình hình bệnh, vận động từ ít đến nhiều để tăng khả năng chống bệnh của cơ thể.

– Sinh hoạt phải có quy luật: thường xuyên nhắc bệnh nhân uống thuốc đúng giờ, định kỳ đưa đến bệnh viện kiểm tra, để tránh những điều đáng tiếc về bệnh.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :