Home / Sức Khỏe / Trầm cảm ở người bệnh đái tháo đường: nguyên nhân & điều trị

Trầm cảm ở người bệnh đái tháo đường: nguyên nhân & điều trị

/

Khi được phát hiện mắc bệnh đái tháo đường, người bệnh thường có dấu hiệu tâm thần trầm cảm, buồn chán. Nhiều người ở vào trạng thái sốc hoặc trầm cảm. Nhiều nghiên cứu ở trẻ bị mắc bệnh đái tháo đường cho thấy tình trạng rối loạn tâm thần ở bệnh nhi và cha mẹ các cháu chỉ trở lại bình thường sau 1 năm. Những trường hợp kéo dài trên 1 năm buộc phải có biện pháp can thiệp.

Trầm cảm ở người bệnh đái tháo đường

Lưu ý: Thông tin trong bài trầm cảm ở người bệnh đái tháo đường chỉ nhằm mục đích tham khảo, không thay thế chẩn đoán và phác đồ điều trị của các bác sĩ chuyên ngành.

1. Nguyên nhân gây trầm cảm ở người bệnh đái tháo đường

– Lo lắng về tình hình bệnh tật hiện tại.

– Cảm thấy như bị tội lỗi và/hoặc tức giận khi biết bị đái tháo đường.

– Cảm thấy bất tài, bất lực trước bệnh tật (lo không có khả năng quản lý, điều trị bệnh). 

– Lo sợ về các biến chứng trong tương lai và chết sớm.

– Mất mục đích sống, khát vọng sống do bệnh tật.

– Lo lắng về tương lai không được bảo đảm chắc chắn.

– Thừa nhận sự thay đổi phương thức sống là vĩnh viễn do hậu quả của bệnh đái tháo đường.

2. Các biến chứng của đái tháo đường có rối loạn tâm thần

Các biến chứng xảy ra tức thời:

– Tình trạng nhiễm toan ceton.

– Hạ đường máu nặng.

Các biến chứng kéo dài:

– Giống như người bị đái tháo đường khác, các biến chứng có thể là bệnh lý về mắt, thận hoặc thần kinh; có điều sự can thiệp khó khăn hơn do tình trạng tâm thần không ổn định của người bệnh, đòi hỏi thầy thuốc và gia đình người bệnh tốn nhiều công sức hơn.

Stress và đái tháo đường:

Người ta chưa rõ mối liên hệ giữa các stress và sự xuất hiện bệnh. Nhưng các stress có tác dụng trực tiếp lên người bệnh thì đã được thừa nhận, ví dụ các stress làm giảm khả năng theo dõi bệnh, stress làm người bệnh chán đời, ăn uống thất thường, thậm chí tăng uống rượu để giải sầu. Những hành vi này không chỉ làm tình trạng quản lý đường máu kém đi, mà còn làm trầm trọng thêm các biến chứng khác nếu có.

3. Điều trị trầm cảm ở người bệnh đái tháo đường

– Thảo luận với người bệnh và gia đình họ (bố, mẹ hoặc vợ, chồng) về kế hoạch giáo dục và điều trị cho người bệnh đái tháo đường.

– Thành lập các đội công tác để quản lý bệnh trong đó vai trò của người thầy thuốc chuyên khoa là rất quan trọng. Họ phải là người điều hòa các chuyên ngành khác như dinh dưỡng, tâm thần, điều dưỡng…

– Đặt vấn đề giáo dục là mục đích chính cho người bệnh đái tháo đường để người bệnh phải tự học hỏi, tự xác định, tìm ra cho mình một hướng đi thích hợp.

– Phải chú ý toàn diện đến giáo dục chế độ ăn, loại bỏ thói quen có hại (như uống rượu, hút thuốc lá, các rối loạn về ăn, uống…) theo chiến lược dưới đây:

Ở công sở:

– Tạo điều kiện thuận tiện cho công việc được giao.

– Thời gian làm việc càng uyển chuyển càng tốt.

– Thường có người nhắc nhở công việc.

– Có kế hoạch làm việc càng chi tiết, tỉ mỉ càng tốt.

Đội quản lý bệnh đái tháo đường:

– Có mối liên hệ chặt chẽ giữa người bệnh và đội quản lý bệnh đái tháo đường. 

– Tìm hiểu những điều người bệnh hy vọng.

– Thảo luận với người bệnh về những điều họ nên hy vọng.

– Trang bị cho người bệnh những kiến thức cơ bản đặc biệt.

– Tránh dùng nhiều thuật ngữ chuyên môn.

– Khích lệ người bệnh nói ra những quan điểm của họ, để họ đặt ra những câu hỏi.

– Khích lệ người bệnh tập trung phối hợp hành động với thầy thuốc.

4. Thay đổi chế độ sinh hoạt và làm việc

– Lôi cuốn người bệnh và gia đình họ vào kế hoạch hành động.

– Để người bệnh thảo luận cân nhắc cùng thầy thuốc khi lập kế hoạch và xác định mục đích điều trị và chế độ điều trị.

– Giảm giá và hạn chế đến mức thấp nhất các phức tạp khi có thể làm được (giá thành thấp, đơn giản nhất về chế độ ăn, luyện tập và thuốc).

– Thích ứng chế độ này cho người bệnh và gia đình họ về các mặt: lối sống, văn hóa, tài chính.

Chiến lược giáo dục:

– Phổ biến các kiến thức về đái tháo đường và thường xuyên bổ sung kiến thức mới, kỹ thuật mới.

– Nên viết các tài liệu rõ ràng, dễ hiểu.

Chiến lược về hành vi đối xử:

– Khuyến khích người bệnh hợp tác với thầy thuốc và tự theo dõi quản lý bệnh tật của mình. Thiết lập mục tiêu quản lý đường máu cho đối tượng.

– Khuyến khích gia đình và cộng đồng tham gia thay đổi hành vi của người bệnh, giúp người bệnh tự phấn đấu đạt đến mục đích điều trị.

– Hướng dẫn người bệnh biết sử dụng các phương tiện theo dõi đường máu, biết cách ghi chép những thông số có liên quan đến vấn đề đường máu.

6. Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường

Chế độ ăn là hết sức cần thiết trong điều trị bệnh đái tháo đường, song có nhiều quan niệm sai lầm xung quanh việc khuyến cáo về dinh dưỡng từ trước tới nay trong công tác chữa bệnh. Bệnh nhân thường ăn uống theo sự mách bảo là chủ yếu. Điều đó có căn nguyên từ sự hiểu biết hạn chế về nguyên nhân gây bệnh tiểu đường, về các phương thức điều trị. 

Với tiến bộ của khoa học, của các loại thuốc điều trị tiểu đường mới, ngày nay có xu hướng tự do hoá thành phần chất bột – đường trên cơ sở thỏa mãn cùng lúc nhiều yếu tố như: cân bằng đường máu; giảm thiểu các yếu tố nguy cơ lên hệ tim mạch, lên chức năng thận; tôn trọng sở thích cũng như thói quen của bệnh nhân và cả gia đình bệnh nhân với phương châm: “Sức khỏe không chỉ là tình trạng có bệnh hay không mà còn là tình trạng thoải mái cả về thể chất cũng như tinh thần, xã hội”.

Do vậy, chế độ ăn cần được điều chỉnh thích ứng cho từng bệnh nhân riêng biệt, phải thoả mãn đầy đủ một số yêu cầu cơ bản sau:

– Đủ chất đạm – béo – bột – đường – vitamin – muối khoáng – nước với khối lượng hợp lý.

– Không làm tăng đường máu nhiều sau khi ăn.

– Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn.

– Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hằng ngày.

– Duy trì cân nặng ở mức cân nặng lý tưởng hoặc giảm cân đến mức hợp lý.

– Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, suy thận.

– Phù hợp tập quán ăn uống của địa dư, dân tộc, của từng bệnh nhân và gia đình.

– Đơn giản và không quá đắt tiền.

Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như khối lượng của các bữa ăn.

6.1. Thành phần carbohydrate (chất bột – đường)

Là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, chiếm từ 50-70% tổng số calo hằng ngày. Theo quan niệm trước đây, lượng carbohydrate cần phải hạn chế, song những quan sát về dịch tễ trên cộng đồng sử dụng nhiều carbohydrate (người sống ở nông thôn, người có mức sống eo hẹp, người thổ dân) không thấy sự gia tăng số người mắc tiểu đường mà trái lại khi cộng đồng này có điều kiện hơn về dinh dưỡng (di cư, phát triển kinh tế) tiêu thụ nhiều chất béo và chất đạm hơn thường kéo theo bùng nổ về số người mắc tiểu đường. 

Mặt khác, nghiên cứu trên lâm sàng cho bệnh nhân tiểu đường ăn giàu carbohydrate (tới 90% trong thời gian ngắn) với điều kiện tổng số calo vừa đủ không thấy làm tăng đường máu. Do vậy, khuyến cáo về chế độ ăn hiện nay về thành phần carbohydrate không còn hạn chế khắt khe như trước (nhưng không có nghĩa là ăn thoải mái vô độ lượng).

Vấn đề chủ yếu là ăn các loại ngũ cốc toàn phần có đủ vitamin, chất xơ và muối khoáng. Các loại đường đơn và đường đôi nên tiêu thụ dưới dạng rau và hoa quả (có thể tới 10%-30% tổng số calo trong ngày: ví dụ một người nặng 50kg có thể ăn 200-400g quả chín mỗi ngày). Lượng đường có trong từng loại thức ăn cần được phổ biến rộng rãi cho bệnh nhân để tự họ có thể tính toán sao cho với các loại thức ăn khác nhau được tiêu thụ nhưng không làm biến động quá nhiều tổng lượng carbohydrate hằng ngày. 

Ước lượng lượng đường trong một số thức ăn:

– Sữa tươi hoặc sau khi đã pha có 5% đường.

– Rau xanh có từ 2-10%.

– Quả tươi có 5-15%.

– Bánh mỳ có 50-55%.

– Gạo có 75-80%; cơm có từ 30-40%; miến có 83%.

– Khoai củ có 20%.

Với một số người chế độ ăn giàu carbohydrate có thể làm tăng triglyceride máu, bác sĩ và nhà dinh dưỡng cần kiểm tra lại:

– Đường máu đã thực sự ổn định chưa, tăng đường máu sau ăn?

– Bệnh nhân có uống nhiều rượu, bia?

– Tình trạng béo phì có được cải thiện? Có tập thể dục?

Sau khi đã loại bỏ các yếu tố trên (tăng triglycerid thực sự do chế độ ăn giàu carbohydrate) cần giảm lượng tinh bột, tăng chất béo không bão hòa (dầu thực vật), tăng chất xơ.

6.2. Thành phần lipid (chất béo)

Tỷ lệ chất béo trong bữa ăn người Việt Nam vốn không cao, chỉ chiếm từ 12-20% tổng số calo tiêu thụ hằng ngày, khuyến cáo về tỷ lệ chất béo trước đây vào khoảng 25-30% áp dụng cho người Việt Nam là không thực tế vì:

– Không hợp khẩu vị của đa số người Việt Nam trong đó có người tiểu đường.

– Tạo điều kiện cho tăng mỡ máu ở người tiểu đường vốn chiếm tới 40%.

– Tạo điều kiện cho béo phì phát triển thêm có khoảng trên 40% số người tiểu đường ở vào tình trạng thừa cân và béo phì với BMI >23kg/m.

Do vậy tỷ lệ chất béo trong khẩu phần người tiểu đường nên trong phạm vi người bình thường (từ 1520%) là hợp lý. Tuy nhiên, tỷ lệ chính xác là bao nhiêu phụ thuộc vào các đặc điểm cá thể người đó như: thói quen ăn uống của bệnh nhân và gia đình, tình trạng béo phì, tăng mỡ máu, huyết áp, lượng đường máu. 

Với người có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, lượng chất béo nên hạn chế; với người gầy và không có yếu tố nguy cơ tim mạch, lượng chất béo có thể tăng lên trên cơ sở bệnh nhân dung nạp được chế độ ăn đó. Đối với người đái tháo đường tuýp 2: điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch trong đó có rối loạn mỡ máu còn có lợi hơn so với điều chỉnh đường máu.

Nguồn gốc chất béo: vì đa số người tiểu đường ở vào độ tuổi > 60, tỷ lệ chất béo có nguồn gốc động vật/ thực vật nên là 50/50. Việc thay toàn bộ chất béo động vật bằng chất béo có nguồn gốc thực vật là không cần thiết (làm giảm vitamin A, D tan trong mỡ động vật; khó chế biến thức ăn…).

Lượng cholesterol ăn hằng ngày < 300mg. Với các trường hợp có tăng cholesterol và nguy cơ tim – mạch, lượng cholesterol ăn < 200mg/ngày.

6.3. Thành phần chất protid (chất đạm)

Tỷ lệ chất đạm chiếm từ 10-20% tổng số calo hằng ngày tương ứng khoảng 0,8-1,2g/kg cân nặng (100g thịt nạc có khoảng 18g đạm, 100g gạo có khoảng 7g đạm). Với chế độ ăn giàu đạm hơn có thể ảnh hưởng đến tổn thương thận do đái tháo đường (khoảng 30% người đái tháo đường có biến chứng thận), mặt khác ăn nhiều đạm về lâu dài gây chán ăn, tuy nhiên chế độ ăn giàu đạm có thể được áp dụng trong thời gian ngắn khi đường máu còn cao và khi áp dụng chế độ ăn giảm cân (giảm calo). Khi suy thận, cần phải giảm lượng đạm tiêu thụ 0,8g/kg/ngày nhưng không được < 0,5g/kg/ngày vì dẫn đến suy dinh dưỡng.

6.4. Các yếu tố vi lượng và vitamin

Việc sử dụng liều cao các chất chống oxy hóa như vitamin C, vitamin E, beta carotene, selenium không được chứng minh có tác dụng bảo vệ bệnh tim – mạch, ung thư và tiểu đường trong các thử nghiệm lớn có đối chứng với giả dược, thậm chí còn gây ra tác dụng phụ bất lợi.

Chỉ nên sử dụng nhiều loại vitamin liều thấp trong trường hợp cần thiết (suy nhược, kém hấp thu) khi xác định có thể thiếu vitamin.

Tuy nhiên, với phụ nữ có thai, nên cung cấp thêm acid folic để phòng tránh dị dạng ống thần kinh và một số dị dạng khác; calci (1000mg/ngày) để đề phòng các bệnh về xương.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :