Home / Sức Khỏe / Rối loạn chuyển hóa lipid ở người đái tháo đường

Rối loạn chuyển hóa lipid ở người đái tháo đường

/

Chẩn đoán, thuốc điều trị rối loạn chuyển hóa lipid cho các bệnh nhân đái tháo đường, tiểu đường.

Rối loạn chuyển hóa lipid ở người đái tháo đường

Lưu ý: Thông tin trong bài hội chứng chuyển hóa chỉ nhằm mục đích tham khảo, không thay thế chẩn đoán và phác đồ điều trị của các bác sĩ chuyên ngành.

1. Rối loạn chuyển hóa lipid ở người đái tháo đường là gì?

Lipid và vữa xơ động mạch là tình trạng rối loạn nồng độ các thành phần lipid trong máu, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch, làm gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột quỵ, các biến chứng mạch máu khác. Hậu quả nặng nề nhất là dẫn đến tử vong hoặc tàn phế.

– Bệnh lý mạch vành đứng hàng đầu trong bệnh lý tim mạch và nguyên nhân gây tử vong ở người bệnh đái tháo đường tuýp 2.

– Tỷ lệ bệnh mạch vành ở người đái tháo đường gấp 2 – 3 lần người không đái tháo đường.

– Rối loạn lipid, tăng huyết áp, béo phì là những yếu tố khác làm tăng bệnh xơ vữa mạch ở người đái tháo đường tuýp 2.

– Rối loạn lipid máu ở người đái tháo đường gấp 2 – 3 lần người không bị đái tháo đường.

– Tỷ lệ nhồi máu cơ tim và cơn đau thắt ngực cao hơn nhiều ở người đái tháo đường, tăng song hành với nồng độ cholesterol toàn phần trong máu (so với người không đái tháo đường).

+ Nghiên cứu UKPDS thấy ở người đái tháo đường tuýp 2: LDL tăng, TG tăng và HDL máu giảm luôn kết hợp với việc tăng yếu tố nguy cơ mắc bệnh lý mạch vành.

– Giảm các rối loạn chuyển hóa lipid cải thiện một cách đáng kể tỷ lệ mắc bệnh mạch vành và tỷ lệ tử vong do mạch vành.

2. Nguyên nhân

Cả NCEP (National Cholesterol Education Program – chương trình quốc gia giáo dục về Cholesterol) và ADA (American diabetes Association Hội Đái tháo đường Mỹ) đều có hướng dẫn quản lý về rối loạn lipid máu, dựa trên các yếu tố nguy cơ:

+ Tuổi nam > 45, nữ 55 (hoặc mãn kinh mà không dùng liệu pháp estrogen thay thế).

+ Tiền sử gia đình có bệnh lý mạch vành.

+ Nghiện thuốc.

+ Tăng huyết áp.

+ HDLc thấp trong máu.

+ Đái tháo đường.

Phân loại yếu tố nguy cơ (theo ADA)
Phân loại yếu tố nguy cơ (theo ADA)

Chỉ định điều trị:

Chỉ định điều trị trên cơ sở LDL (NCEP)
Chỉ định điều trị trên cơ sở LDL (NCEP)

CHD – Bệnh mạch vành tim

Chỉ định điều trị trên cơ sở LDL (ADA)
Chỉ định điều trị trên cơ sở LDL (ADA)

CHD – Bệnh lý mạch vành tim; PVD – Bệnh mạch máu ngoại vi; CVD – Bệnh mạch máu não.

3. Cholesterol không HDL và mục tiêu của liệu pháp chống RLCH lipid

Mặc dù cả NCEP và ADA đều chú ý đến LDL nhưng chúng ta phải luôn nhớ rằng các cholesterol không HDL luôn là mục tiêu phải điều chỉnh ở người đái tháo đường tuýp 2.

Như vậy LDL ở trong giới hạn bình thường, nhưng triglyceride cao là đã phải can thiệp, trong thực tế tăng VLDL luôn có kèm theo xơ vữa mạch.

Ngày nay, có nhiều tác giả cho rằng khái niệm “cholesterol không HDL” phản ánh nguy cơ bệnh lý mạch vành trung thành hơn.

Cholesterol không HDL = Cholesterol toàn phần – HDL

4. Điều trị rối loạn chuyển hóa lipid

Chỉ dùng thuốc hạ lipid máu khi sử dụng liệu pháp ăn uống, luyện tập và thuốc hạ đường máu không có hiệu quả.

4.1. Hydroxy methylglutaryl coenzyme chất ức che redutase (statin)

Đây là thuốc vốn được xem như liệu pháp đầu tay. Ngày nay, dòng statin đã phát triển như: lovastatin, pravastatin, simvastatin, atorvastatin, rosuvastatin có khả năng làm giảm LDL từ 20 – 60%. Đặc biệt ở liều cao còn làm giảm cả LDL, VLDL như vậy sẽ làm giảm toàn bộ cholesterol không HDL.

4.2. Các chất gắn acid mật (Bile acid sequestrants – resin)

Thuộc nhóm này có cholestyramin và colestipol. Theo một số nghiên cứu nếu sử dụng với liều 8g cholestyramin 2 lần/ngày sẽ làm giảm LDL. Nhóm thuốc này thường gây những tác dụng phụ trên đường tiêu hóa – đặc biệt là táo bón.

4.3. Các dẫn chất của acid fibric (Fibrat)

Bao gồm: gemfibrozil, clofibrate, fenofibrate, bezafibrate. Nghiên cứu Helsinki đã chứng minh sự cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh mạch vành tim khi điều trị rối loạn chuyển hóa lipid bằng fibrat.

Tác dụng chính của fibrat là làm giảm lượng triglycerid (nghiên cứu làm giảm TG 31% và tăng HDL 17%) ở người đái tháo đường tuýp 2 với liều 200 – 500mg/ngày và liều fibrate > 500mg/ngày: giảm triglycerid là 52% và tăng HDL 23%.

Tác dụng phụ gây bệnh lý cơ và hình thành sỏi mật, thuốc làm tăng nguy cơ suy thận; vì vậy nhóm này được khuyến cáo không dùng cho người đái tháo đường có bệnh lý thận hoặc giảm chức năng thận.

4.4. Acid nicotinic (niacin)

Niacin có tác dụng lên tất cả các hình thái của liporotein: giảm LDL, VLDL và triglycerid làm tăng nồng độ HDL. Tác dụng phụ: gây đỏ da dị ứng, rối loạn chức năng gan, tăng acid uric làm tăng nguy cơ của bệnh gout, tăng nồng độ đường máu.

4.5. Estrogen

Vai trò của estrogen trong ngăn ngừa bệnh lý mạch vành chưa có được sự đánh giá thống nhất. Estrogen có thể đơn trị liệu hoặc kết hợp với progestin. Nhưng estrogen có thể làm tăng triglycerid, nên người ta không chỉ định cho người bệnh có tăng triglycerid.

4.6. Liệu pháp kết hợp

4.6.1. Chế độ dinh dưỡng

Chế độ ăn luôn có vị trí quan trọng làm giảm cân nặng.

4.6.2. Kết hợp thuốc

Nhóm statin và fibrat thường được chọn nếu đơn trị liệu ít kết quả. Tuy nhiên, phải hết sức thận trọng do tác dụng không mong muốn lên cơ và nhiễm độc gan.

Sơ đồ xử trí:

sơ đồ điều trị rối loạn chuyển hóa lipid
Sơ đồ điều trị rối loạn chuyển hóa lipid
CholesterolMục đích tối thiểuLý tưởng
Toàn phần< 200mg/dl (5,2mmol/l)170mg/dl (4,4mmol/l)
LDL< 130mg/dl (3,4mmol/l)100mg/dl (2,6mmol/l)
TC không HDL< 160mg/dl (4,1mmol/l)130mg/dl (3,4mmol/l)
Mục đích điều trị cho người đái tháo đường có rối loạn chuyển hóa lipid
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :