Home / Sức Khỏe / Phì đại tuyến tiền liệt: nguyên nhân, chẩn đoán, điều trị

Phì đại tuyến tiền liệt: nguyên nhân, chẩn đoán, điều trị

/

Phì đại tuyến tiền liệt còn gọi là tăng trưởng tuyến tiền liệt, là một loại bệnh thường gặp ở nam giới cao tuổi, cũng là một trong những bệnh ngoại khoa tiết niệu thường gặp.

phì đại tuyến tiền liệt là gì

1. Phì đại tuyến tiền liệt là gì?

Phì đại tuyến tiền liệt còn gọi là tăng trưởng tuyến tiền liệt, là một loại bệnh thường gặp ở nam giới cao tuổi, cũng là một trong những bệnh ngoại khoa tiết niệu thường gặp. Tuyến tiền liệt giống như cơ quan khác của cơ thể, cũng có quá trình phát triển, thành thục rồi già yếu. Tuyến tiền liệt trưởng thành chậm chạp từ khi mới sinh ra đến tuổi thanh niên; sau thời kỳ thanh niên tốc độ trưởng thành tăng nhanh, dần dần hoàn thiện phát dục; giai đoạn tuổi từ 30-45 thể tích duy trì ổn định; sau đó xuất hiện hai loại xu hướng, một số người có xu hướng teo lại, thể tích tuyến thể co nhỏ lại, một số người khác có xu hướng tăng lên, thể tích tuyến thể dần dần phình to, hình thành bệnh phì đại tuyến tiền liệt lành tính.

2. Đối tượng mắc phì đại tuyến tiền liệt là những ai?

Về cơ bản bệnh phì đại tuyến tiền liệt là bệnh thuộc về người cao tuổi. Con người tuổi thọ ngày càng được nâng cao thì, tỉ lệ bệnh tật theo tuổi tác mà tăng dần lên. Ở các nước Âu, Mĩ, bệnh này rất thường gặp. Theo số liệu một tổ giải phẫu tử thi ở nước ngoài, tỉ lệ đàn ông trên 50 tuổi mắc bệnh phì đại tuyến tiền liệt chiếm hơn một nửa, trong đó người 70 tuổi chiếm 75%. Ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê.

Tại phòng khám nam, thường gặp những trường hợp đến khám vì không thể đi tiểu hoặc tiểu ra máu hoặc đau đớn khi tiểu, hầu như đều là những người đàn ông tuổi đã cao, tóc đã bạc. Qua kiểm tra của bác sĩ, nguyên nhân dẫn đến đều là do phì đại tuyến tiền liệt. Tại sao bệnh này chỉ gặp nhiều ở những người cao tuổi. Có nhiều ý kiến về điều này.

Có ý kiến cho là những nhân tố dưới đây có liên quan:

  • Hoạt động tình dục quá nhiều.
  • Chữa trị viêm khuẩn hậu niệu đạo chưa triệt để.
  • Công năng tinh hoàn bất bình thường.
  • Tắc niệu đạo.

Những nhân tố này tồn tại theo suốt cuộc đời, để sau đó khởi phát tăng trưởng tuyến tiền liệt, vì vậy bệnh thường thấy ở người tuổi cao. Cũng có ý kiến cho rằng nhân tố có liên quan đến phì đại tuyến tiền liệt là do chủng tộc, nhân tố xã hội, kích thích của viêm nhiễm, trở ngại của hormon và do cơ chế trao đổi chất. Nhất là cho rằng tỉ lệ phát sinh xơ cứng động mạch cao, có thể liên lụy đến tuyến tiền liệt, tạo thành tăng trưởng tuyến tiền liệt. Cho dù có nhiều cách nói khác nhau, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một cách nào thuyết phục được số đông người chấp nhận.

Hiện nay, đại đa số học giả cho rằng, mức tăng trưởng tăng theo tuổi tác của người đàn ông, toàn bộ testosterone và testosterone tự do đều giảm ít đi, lượng phân tiết androgen thấp hơn so với nhu cầu sinh lí. Thông qua cơ chế phản hồi, thúc đẩy phân tiết hormon sinh dục tăng lên, khiến sản sinh dihydroxy testosterone trong mô tuyến tiền liệt cùng hợp sức với các thụ thể tăng lên, hậu quả của nó là tuyến tiền liệt liên tục nhận kích thích, dẫn đến tăng trưởng tuyến tiền liệt.

Có thể thấy nguyên nhân chủ yếu khiến nam giới cao tuổi phát sinh bệnh là do cơ thể đã bước vào thời kỳ lão hoá, tinh hoàn teo lại, hàm lượng dihydroxy testosterone gia tăng do rối loạn hormon sinh dục trong cơ thể.

3. Phân loại phì đại tuyến tiền liệt

Phì đại tuyến tiền liệt tuy không liên lụy đến mô tuyến tiền liệt chính thức, nhưng vẫn có xu hướng phân bố đến các thuỳ. Randall chia phì đại tuyến tiền liệt thành 8 loại hình giải phẫu:

  • Tăng trưởng thuỳ bên: đoạn niệu đạo tuyến tiền liệt sinh ra bị ép, biến dạng, uốn khúc. Loại này chiếm 14,41%.
  • Tăng trưởng phần liên hợp sau hoặc tăng trưởng thuỳ giữa: Loại hình này chiếm 13,96%.
  • Tăng trưởng thuỳ bên và thuỳ giữa: phình ra phía bàng quang và niệu đạo, dạng này chiếm 17,12%.
  • Tăng trưởng thuỳ dưới cổ: nhô về hướng bàng quang, ở trạng thái treo rủ. Loại này chiếm 30,14%.
  • Loại tăng trưởng thuỳ bên và thuỳ dưới cổ chiếm 21,62%. 
  • Tăng trưởng thuỳ bên, thuỳ giữa và thuỳ dưới cổ.
  • Loại tăng trưởng liên kết trước, tức loại thuỳ trước
  • Tăng trưởng phần liên hợp trước (tức thuỳ trước).

Phát bệnh sớm nhất là tăng trưởng thuỳ giữa và thuỳ dưới cổ, thường khoảng 50 tuổi; tăng trưởng thuỳ bên, hai thuỳ bên và thuỳ dưới cổ bình quân phát bệnh chậm hơn khoảng 10 năm; hai thuỳ bên, thuỳ giữa đồng thời tăng trưởng thường phát sinh vào tuổi sau 70.

4. Dấu hiệu bệnh phì đại tuyến tiền liệt là gì?

Số lần đi đái đêm tăng nhiều là dấu hiệu triệu chứng xuất hiện đầu tiên của phì đại tuyến tiền liệt. Số lần đi đái đêm ít hay nhiều thường thường ngang bằng với mức độ tăng trưởng của tuyến tiền liệt. Người mắc bệnh vốn không đi đái đêm, khi xuất hiện đi đái 1-2 lần trong đêm, thường phản ánh bước vào giai đoạn đầu của tăng trưởng tuyến tiền liệt; mỗi đêm đi đái từ 2-3 lần tăng lên 56 lần, chỉ rõ mức độ vùng cổ bàng quang chịu cản trở dần trở nên nghiêm trọng, đây là do kích thích sung huyết ở tuyến tiền liệt ban đêm gây ra.

4.1. Triệu chứng thời kỳ đầu khi tăng trưởng tuyến tiền liệt là

Triệu chứng thời kỳ đầu của phì đại tuyến tiền liệt là:

  • Tiểu nhiều lần: là tín hiệu thời kỳ đầu tăng trưởng tuyến tiền liệt, dấu vết rõ rệt của thời kì đầu là số lần đi tiểu đêm tăng lên, theo tiến triển của cản trở niệu lộ mà dần dần tăng lên.
  • Khi tiểu không sảng khoái: sau khi bài tiết nước tiểu, đau âm ỉ trong niệu đạo hoặc hiện tượng rỉ nước tiểu, sót giọt nước tiểu sau khi tiểu xong, hoặc tức vùng bụng dưới. Những dấu hiệu này đều không phải là cảm giác sinh lí ở người bình thường sau khi đi tiểu.
  • Dòng (tia) tiểu biến nhỏ: do chức năng bài tiết nước tiểu yếu đi, dòng tiểu biến nhỏ, nhất là do tuyến thể phình to khiến mép bên cửa niệu đạo không ngay ngắn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng phun tia nước tiểu.
  • Tốn sức khi tiểu: niệu đạo phát sinh cản trở, sức cản khi bài tiết nước tiểu sẽ tăng, cần phải dùng sức tăng thêm sức ép ở bụng, mới có thể khắc phục sức cản bài tiết, vì vậy phải tốn sức khi đi tiểu.
  • Biến đổi của nước tiểu: có một số bệnh nhân do ứ máu tuyến tiền liệt hoặc phình mạch máu trong tuyến tiền liệt, dẫn đến mạch máu bị vỡ và máu chảy ra, khi đó có thể thấy tiểu ra máu.

Có bệnh nhân do cản trở niệu lộ, gây tắc dòng tiểu, rất dễ phát sinh viêm nhiễm niệu lộ, thì có thể xuất hiện tiểu ra mủ. Cảm giác không thoải mái hậu niệu đạo và tức vùng hội âm do tăng trưởng tuyến tiền liệt khiến hậu niệu đạo bị kích thích tạo ra.

4.2. Phì đại tuyến tiền liệt có những triệu chứng gì trong giai đoạn giữa?

Triệu chứng kì giữa khi tăng trưởng tuyến tiền liệt là:

  • Do sức chứa ở bàng quang giảm đáng kể, lượng nước tiểu mỗi lần bài tiết còn ít, dẫn đến số lần đi tiểu tăng.
  • Triệu chứng bài tiết nước tiểu khó khăn rõ ràng, và ngày càng nặng thêm.
  • Thời gian bài tiết nước tiểu kéo dài, tia tiểu nhỏ, đồng thời xuất hiện tia nước tiểu bị ngắt quãng.
  • Xuất hiện sót nước tiểu, thường là 50-100 ml. Có lúc quá mệt mỏi, táo bón, bị cảm, có thể xuất hiện bí đái cấp, nhưng mức độ nhẹ, thời gian ngắn.
  • Khi đi tiểu xong dễ thấy xuất hiện máu trong nước tiểu, sót nước tiểu nhiều gây viêm nhiễm, triệu chứng đi tiểu cảm thấy đau rõ ràng, nhưng thường còn đang trong trạng thái tốt.

4.3. Phì đại tuyến tiền liệt có những triệu chứng gì trong giai đoạn cuối?

Triệu chứng kì cuối khi tăng trưởng tuyến tiền liệt là:

  • Số lần đi tiểu tăng nghiêm trọng, thấy rõ nhất là tăng số lần đi tiểu đêm.
  • Chu trình tiến hành bài tiết nước tiểu ngày càng khó khăn, mỗi lần bài tiết nước tiểu cần có sự trợ giúp của cơ bụng mới có thể đưa nước tiểu ra, lượng nước tiểu giảm rõ rệt, hoặc xuất hiện rỉ giọt nước tiểu hoặc bệnh nhân mất khả năng khống chế tiểu tiện, thường có hiện tượng đái són.
  • Thời gian bài tiết nước tiểu kéo dài rõ ràng, nước tiểu không thành tia, chu trình tiểu cực ngắn, có khi đái són ra quần.
  • Chức năng bàng quang thay thế đã không còn hoàn thiện, lượng nước tiểu sót ở mức trên 150ml, có lúc đến 400-500ml, hoặc hoàn toàn mất khả năng tự bài tiết nước tiểu, hình thành bí đái mạn tính.
  • Trên cơ sở niệu lộ bị nghẽn thời gian dài, rất dễ dẫn đến viêm nhiễm niệu lộ, hoặc mức độ cản trở dần dần tăng lên, thì có khả năng phát sinh thận ứ nước, chức năng thận không hoàn thiện, cao huyết áp do thận.

4.4. Triệu chứng cản trở do phì đại tuyến tiền liệt gây ra là gì?

Triệu chứng cản trở do phì đại tuyến tiền liệt dẫn đến là:

  • Số lần đi đái đêm có quan hệ mật thiết với mức độ tăng trưởng tuyến tiền liệt, số lần đi đái đêm tăng nhiều, nói lên mức độ cản trở vùng cổ bàng quang có chiều hướng nghiêm trọng lên.
  • Có cảm giác chưa bài tiết hết nước tiểu, hoặc tiểu nhỏ giọt, không có sức khi tiểu và dòng tiểu biến nhỏ, lúc nặng cần phải ấn bụng, đồng thời xuất hiện dòng tiểu đứt đoạn.
  • Tiểu ra máu cũng là một trong những biểu hiện cản trở thường thấy.
  • Bí đái nói lên cản trở vùng cổ bàng quang đã trở nên nghiêm trọng, là biểu hiện chuyển sang kỳ cuối của tăng trưởng tuyến tiền liệt.

Phát sinh triệu chứng cản trở nói trên, một là do cổ bàng quang bị chèn ép, hai là phản ứng của bản thân bàng quang đối với việc tắc nghẽn (cản trở).

5. Nguyên nhân gây ra phì đại tuyến tiền liệt là gì?

5.1. Quan điểm Tây y

Có nhiều luận thuyết về nguyên nhân liên quan đến phì đại tuyến tiền liệt, như thuyết Sinh vật học mới, thuyết Xơ cứng động mạch, thuyết về Chứng viêm tuyến tiền liệt, thuyết Hormon, cho đến thuyết hình thể con người, chủng tộc, nhân tố xã hội, nhân tố thay đổi chế độ dinh dưỡng. Nhưng đại đa số đều chưa được công nhận rộng rãi, vì vậy nguyên nhân dẫn đến bệnh phì đại tuyến tiền liệt đến nay vẫn còn đang xem xét.

Trước mắt phần lớn học giả công nhận quan điểm về thuyết Hormon, lí do là:

  • Người cắt bỏ tinh hoàn từ thời trẻ thì không phát sinh bệnh phì đại tuyến tiền liệt;
  • Sau khi đã cắt tinh hoàn mà bị phì đại tuyến tiền liệt có thể xảy ra biến đổi thoái hoá chức năng sinh dục;
  • Người mắc bệnh phì đại tuyến tiền liệt khi xét nghiệm sinh hóa thường kèm theo tích tụ bất thường của dihydroxy testosterone trong hormon sinh dục nam;
  • Có thể dùng mô hình động vật phì đại tuyến tiền liệt do hormon.

Những người giữ quan điểm này cho rằng chức năng hormon của tuyến tiền liệt là một bộ phận của toàn bộ hormon, hoặc là bộ máy hiệu ứng của hormon. Sự phát dục của của tuyến tiền liệt và sự duy trì trạng thái sinh lí dựa vào hormon sinh dục nam có đầy đủ trong cơ thể, nhất là sự cân bằng của hormon sinh dục nam và hormon sinh dục nữ. Do vậy có thể thấy, nguyên nhân phát bệnh phì đại tuyến tiền liệt vừa có liên quan đến hormon sinh dục nam, vừa có liên quan đến tác dụng của hormon sinh dục nữ. Vì vậy có quan điểm cho rằng ở giai đoạn cao tuổi, sự mất cân bằng giữa hormon sinh dục nam và hormon sinh dục nữ có thể là nguyên nhân phát bệnh phình tuyến tiền liệt.

Tóm lại, trước mắt chỉ biết có hai nguyên nhân không thể thiếu trong bệnh này là do sự tồn tại tinh hoàn và tuổi tác cao.

5.2. Quan điểm Đông y

Thông thường, tiểu tiện thông suốt dựa vào sự làm việc bình thường của tam tiêu (thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu), mà nguồn gốc sự hoạt động của tam tiêu dựa vào tinh khí có ở thận. Hoạt động của tam tiêu duy trì được là nhờ vào 3 tạng phế, tỳ, thận. Trong quá trình vận hành, chất dịch thông qua thu nạp của dạ dày, vận chuyển của tỳ, xuống phế rồi đến thận, sau đó thông qua chức năng hoạt động của thận, dịch đã được tinh lọc quay trở về phế rồi từ đó toả ra toàn thân, còn lại phần cặn đục đi xuống bàng quang để bài tiết ra ngoài cơ thể.

Y học Trung Hoa cho rằng, bệnh này phần nhiều là tổn thương thận tinh, bị ngoại tà, hoặc do các nhân tố nội ngoại kết hợp, do vận hành và khí hoá của chất dịch tam tiêu thất thường mà sinh ra. Nếu phế mất khả năng lọc xuống, đường dẫn nước không thể thông suốt xuống bàng quang; tỳ mất sự vận chuyển, không thể đưa tinh chất quay trở về và chất cặn đục xuống; chức năng khí hoá của thận thất thường, đóng mở không tốt; ngoài ra, gan uất khí trệ, tắc ứ huyết, ảnh hưởng đến sự vận hành khí hoá của tam tiêu mà dẫn đến bệnh bí đái.

Do vậy có thể thấy, vị trí bệnh ở bàng quang, mà cơ bản là ở thận có quan hệ mật thiết với phế, tỳ và gan. Nguyên nhân của bệnh phì đại tuyến tiền liệt được chia làm các loại dưới đây:

  • Không đủ chân khí: mệt mỏi quá độ, ăn uống không điều độ, tổn thương khí tỳ vị trung tiêu, nóng tỳ vị không chữa trị, trở ngại cho hoạt động của bàng quang, gây nên bất lợi quá trình khí hoá, tiểu tiện không thể bài tiết bình thường phát sinh bí đái; hoặc hư khí trung tiêu, không thể đưa được tinh chất lên cũng không thể đưa chất cặn đục xuống, vì thế mà bất lợi cho tiểu tiện.
  • Hư nguyên khí thận: người cao tuổi cơ thể yếu hoặc cơ thể mắc bệnh lâu ngày suy yếu, thận dương hao tổn, không thể làm chất dịch bốc hơi, dẫn đến bàng quang không còn chức năng khí hoá; hoặc vì hạ tiêu tích nhiệt, lâu ngày không lành, tân dịch hao tổn, dẫn đến thận âm hư tổn, liên luỵ đến bàng quang, khí hóa thất thường mà phát sinh bệnh.
  • Phế nhiệt khí ung (phổi nóng nghẽn khí): phổi trúng tà nhiệt, tân dịch bị nung khô héo, phế khí không thể thoát ra, làm mất sự thông suốt của đường chảy, chức năng vận chuyển xuống của bàng quang, còn thượng tiêu, hạ tiêu đều bế trở vì nhiệt tà, sinh ra bí đái.
  • Thấp nhiệt lan xuống: thấp nhiệt tiềm tàng, rót xuống bàng quang, khiến bất lợi cho việc khí hoá của bàng quang, tiểu tiện không thông, dẫn đến bí đái.
  • Gan uất khí trệ, thất tỉnh không điều hoà, gan khí tích tụ, bài tiết không kịp, từ đó ảnh hưởng chức năng vận hành và khí hoá của chất dịch tam tiêu, dẫn đến không thể thông suốt đường dẫn nước, hình thành bí đái.
  • Tắc niệu đạo: ứ máu không tan, ngưng đọng thành khối, cản trở đường dẫn nước, tiểu tiện khó ra, để lâu thì thành bí đái.

6. Biến chứng phì đại tuyến tiền liệt có thể dẫn đến phát sinh những bệnh nào?

Tăng trưởng tuyến tiền liệt là một quá trình mãn tính, dễ đồng thời kèm theo những bệnh tật khác, tạo thành hậu quả càng thêm nghiêm trọng. Bệnh kèm theo với nó là:

  • Bí tiểu cấp tính hoặc tiểu ra máu.
  • Sỏi bàng quang: vì cản trở dòng tiểu, phát sinh viêm nhiễm liên tục mà dễ thành sỏi bàng quang.
  • Trúng độc nước tiểu: khi mức độ cản trở dần dần tăng, dễ phát sinh thận ứ nước, chức năng thận không hoàn thiện, dẫn đến triệu chứng trúng độc nước tiểu xuất hiện trên lâm sàng. Ngoài ra có thể xuất hiện huyết áp cao dạng thận.
  • Bệnh trĩ, lòi dom: vì bài tiết nước tiểu khó khăn, bụng chịu sức ép lâu dài, nên dễ dẫn đến phát sinh bệnh trĩ, lòi dom.
  • Viêm nhiễm: cản trở dòng tiểu là điều kiện tiên quyết dẫn đến viêm nhiễm, nên dễ phát sinh chứng viêm cổ bàng quang, hậu niệu đạo và bàng quang.
  • Các bệnh khác: khi tăng trưởng tuyến tiền liệt dẫn đến bài tiết nước tiểu khó khăn, cần chú ý người có tiền sử bệnh cao huyết áp phát sinh đột quỵ mạch máu não bất ngờ hoặc tim lực suy kiệt. Khi cản trở do tăng trưởng tuyến tiền liệt dẫn đến thận và ống dẫn niệu ứ nước, có thể sờ thấy tạng thận sưng to, ấn thấy đau. Khi bàng quang căng đầy, có thể sờ thấy túi nang ở chính giữa bụng dưới. Có khi hệ túi nang xung quanh thận viêm, hoặc làm mủ xung quanh thận.

7. Chẩn đoán phì đại tuyến tiền liệt như thế nào?

Người bệnh phì đại tuyến tiền liệt vì nguyên nhân tuổi tác cao, thường đi kèm theo nhiều loại bệnh tật khác. Những bệnh nhân này, ngoài việc kiểm tra thân thể một cách tường tận ra, còn nên làm một số kiểm tra xét nghiệm cần thiết. Những kiểm tra xét nghiệm có liên quan là:

Nước tiểu: kiểm tra nước tiểu cho bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt có thể thấy bình thường, nhưng khi viêm nhiễm niệu lộ có thể thấy các hồng cầu, bạch cầu, albumin trong nước tiểu, nước tiểu kiềm tính. Kiểm tra soi nước tiểu và làm nuôi cấy thấy vi khuẩn. Khi lấy mẫu nước tiểu cần tiến hành kiểm tra trước ở trực tràng bằng tay, để tránh dịch tuyến tiền liệt làm ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra.

Máu: kiểm tra máu theo cách thông thường và làm sinh hoá, rất quan trọng đối với người viêm nhiễm, nước tiểu trúng độc do nguyên nhân cản trở gây ra, sự giảm thấp của albumin trong máu tương đồng với mức độ trúng độc. Khi viêm nhiễm niệu lộ, ghi số và phân loại các tế bào bạch cầu đều có giá trị tham khảo đối với chẩn đoán và điều trị.

Xác định chức năng thận: căn cứ vào tình hình cụ thể của bệnh nhân phình tuyến tiền liệt để chọn các phương pháp kiểm tra dưới đây:

  • Xét định nitơ trong máu có trong nước tiểu, creatine trong cơ.
  • Xét nghiệm bài tiết phenolsulfonphthalein.
  • Xét nghiệm bài tiết indigocarmin.
  • Xét nghiệm nồng độ đậm, loãng của nước tiểu.
  • Chụp ảnh tĩnh mạch niệu lộ bằng lượng thuốc thông thường hoặc thuốc liều lượng cao.

Kiểm tra tỉ lệ dòng tiểu: gián tiếp đo chức năng của hạ niệu lộ từ sự biến đổi tỉ lệ dòng tiểu, điều này giúp cho phán đoán thay đổi của bệnh.

Xác định sót nước tiểu: là một trong những khâu chẩn đoán quan trọng. Có thể cung cấp dữ liệu để quyết định có chọn dùng điều trị phẫu thuật hay không?

Xác định kẽm: khi tăng trưởng tuyến tiền liệt, hàm lượng kẽm trong huyết tương tăng cao rõ rệt. Có thể coi đó là một trong những dấu hiệu chẩn đoán tăng trưởng của tuyến tiền liệt.

8. Điều trị phì đại tuyến tiền liệt bằng phương pháp phẫu thuật

Điều trị phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị quan trọng với bệnh tăng trưởng tuyến tiền liệt. Vì phẫu thuật chỉ là cắt bỏ phần tăng trưởng tuyến tiền liệt mà vẫn để lại ngoại tầng tuyến tiền liệt, cho nên không phải là phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt. Phương pháp phẫu thuật tăng trưởng tuyến tiền liệt có:

  • Kỹ thuật mở rộng tuyến tiền liệt bằng ống túi dẫn hình cầu qua niệu đạo.
  • Kỹ thuật cắt mở vùng liên hợp tuyến tiền liệt
  • Kỹ thuật cắt tuyến tiền liệt qua bàng quang.
  • Kỹ thuật cắt tuyến tiền liệt xương cùng cuối xương chậu.
  • Kỹ thuật cắt tuyến tiền liệt qua hội âm.
  • Kỹ thuật cắt tuyến tiền liệt qua niệu đạo.

Hiện nay con đường phẫu thuật cắt thường dùng gồm có 4 loại: qua bàng quang trên xương cung chậu, qua xương cùng cuối xương chậu, qua hội âm và qua niệu đạo. Phương thức phẫu thuật khác nhau có những ưu khuyết điểm và thích hợp của nó, nên căn cứ tình hình bệnh nhân và mức độ thành thục để lựa chọn. Con đường qua bàng quang trên xương cung chậu được sử dụng nhiều nhất, là phương pháp phẫu thuật cơ bản cần nắm vững của bác sĩ ngoại khoa tiết niệu; con đường qua xương cung cuối xương chậu dùng cho bệnh nhân có thể tích tuyến tiền liệt lớn, có thể xử lý trực tiếp ở tuyến tiền liệt và cổ bàng quang; con đường qua hội âm thích hợp cho bệnh nhân có bệnh về tim phổi, tạo lậu bàng quang lâu ngày; con đường qua niệu đạo điều trị cản trở hạ niệu đạo do tăng trưởng tuyến tiền liệt dẫn đến, có thể đạt hiệu quả điều trị tốt.

9. Điều trị phì đại tuyến tiền liệt bằng các loại thuốc hormone

Các hormone điều trị bệnh phì đại tuyến tiền liệt lâm sàng gồm có:

Liệu pháp hormon sinh dục nữ: hexoestrol 2-3 miligam, mỗi ngày 3 lần uống sau bữa ăn, 1 tháng là 1 liệu trình; estrogen 10 miligam, mỗi tuần 1 lần, tiêm vào bắp thịt, 10 ngày là 1 liệu trình. Nếu xuất hiện buồn nôn, chán ăn, vú sưng đau nên giảm liều lượng hoặc ngừng uống thuốc. Khi sử dụng thuốc cần dùng thêm vitamin B6, có thể giảm nhẹ phản ứng kể trên. Lượng dùng hormon estrogen, ví dụ như hexoestrol, thường mỗi ngày không nên quá 3 gam, để tránh tăng cơ hội tắc nghẽn mạch máu.

Liệu pháp hormon sinh dục nam: khi dùng hormon sinh dục nữ cho hiệu quả không tốt, có thể chuyển dùng hormon sinh dục nam, để tăng thêm sức co bóp cho cơ bức niệu. Sterandryl 25 miligam, mỗi tuần 2 lần, tiêm vào bắp thịt. 20 ngày là 1 liệu trình.

Kết hợp sử dụng hormon sinh dục nữ và hormon sinh dục nam: methyltestosterone (oretob – M) 5 miligam, hexoestrol 2 gam, mỗi ngày 3 lần, uống cùng lúc.

Liệu pháp hormon bì chất tuyến thượng thận: hiệu quả điều trị tăng trưởng tuyến tiền liệt tốt. Bắt đầu từ tuần thứ nhất uống 40ml, sau đó đổi làm 15 miligam/ngày, uống trong 2 tuần, tiếp tục giảm xuống 5-0 miligam uống trong 1 tuần, tác dụng kháng viêm của thuốc này khiến bệnh có chuyển biến tốt.

10. Các phương pháp điều trị phì đại tuyến tiền liệt khác

10.1. Người bệnh phì đại tuyến tiền liệt trong tình trạng nào thì nên dùng trị liệu duy trì?

Điều trị duy trì cần căn cứ vào biến đổi bệnh lý của tình hình lâm sàng và niệu lộ. Chúng tôi cho rằng bệnh nhân kỳ thứ nhất thích hợp với điều trị duy trì, thời kỳ đầu của kỳ thứ hai cũng có thể thử dùng điều trị duy trì. Bệnh thuộc giai đoạn này, thích hợp chọn dùng điều trị duy trì mà không cần thiết điều trị phẫu thuật.

Có người cho rằng, điều trị duy trì chỉ là giai đoạn chuẩn bị trước phẫu thuật, nhưng sự thật là có một số bệnh nhân, tuyến tuyến tiền liệt tăng trưởng đến một giai đoạn nhất định thì ngừng phát triển, đây là một bằng chứng quan trọng nên thử tiến hành điều trị duy trì. Còn có một số bệnh nhân, căn cứ tình hình bệnh nên chọn điều trị phẫu thuật, nhưng vì sức khoẻ không cho phép, chỉ được tiến hành điều trị duy trì hoặc cần trải qua giai đoạn điều trị duy trì:

+ Bệnh nhân cao tuổi, có bệnh tim mạch nghiêm trọng, có tiền sử bệnh tắc nghẽn cơ tim, hoặc người có chức năng thay thế tim không không hoàn thiện.

+ Chức năng thận không hoàn thiện nghiêm trọng, hoặc người mắc bệnh tim mạch hoặc bệnh hệ thống thần kinh kèm theo.

+ Người cao tuổi có chức năng phổi không hoàn thiện bởi các nguyên nhân khác dẫn tới, như sưng nhánh khí quản, giãn phế quản. Đối với bệnh nhân ngoại khoa loại này tính nguy cơ tương đối cao, tiến hành điều trị duy trì sẽ phát huy được tác dụng tích cực, tăng thêm độ an toàn khi điều trị phẫu thuật.

10.2. Người bệnh phì đại tuyến tiền liệt phát sinh bí đái cấp tính cần có biện pháp gì?

Bí đái cấp tính gây nguy cơ lớn đối với bệnh nhân, mất cân bằng nước, chất điện giải, hơn nữa tăng thêm sung huyết, ứ nước cục bộ tuyến tiền liệt, bệnh nhân luôn cảm thấy đau đớn quẫn bách. Một khi thêm viêm nhiễm niệu lộ, tình hình càng nghiêm trọng. Theo tài liệu đã nghiên cứu, tỷ lệ phát bệnh bí đái cấp tính ở bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt khoảng 46,3%.

Phương pháp điều trị bí đái cấp tính gồm có:

Chườm nóng: chườm nóng khu vực bàng quang ở vùng bụng dưới, có thể khiến rút ngắn được thời gian bí đái, mà khi bệnh nhân bài tiết thì nước tiểu căng đầy bàng quang không còn quá nghiêm trọng. Tắm nước nóng cũng mang lại hiệu quả tốt. Qua những xử lí này, khiến trạng thái co bóp quá mức nơi “cửa ra” bàng quang được nới lỏng, giúp cho nước tiểu đi qua.

Xoa bóp (mát xa): từ rốn đến điểm liên hợp xương cung chậu, xoa nhẹ nhàng rồi tăng dần thêm sức ấn cũng có thể xúc tiến thông suốt bài tiết nước tiểu.

Châm cứu: áp dụng với huyệt quan nguyên, khí hải, trung cực, tam âm giao, âm lăng tuyền, cũng giúp đỡ bài tiết nước tiểu.

Dẫn hiệu: dẫn niệu có thể bảo đảm duy trì đưa nước tiểu ra của bàng quang được bình thường, cải thiện tuần hoàn máu vách bàng quang, hồi phục niêm mạc bàng quang hợp thành polisaccarit niêm mạc đề kháng viêm nhiễm. Sau khi đã đưa được nước tiểu ra ngoài thông qua dẫn niệu, tốt nhất nên tiếp tục duy trì ống dẫn niệu thêm vài ngày, để ngăn ngừa bí đái cấp tính phát sinh trở lại trong một thời gian ngắn, hơn nữa đặt ống dẫn niệu trở lại cũng là rất khó khăn, dễ gây viêm nhiễm.

Tiêm rút bàng quang: khi đưa được ống dẫn niệu vào, bàng quang căng lên rất nguy hiểm, nhất thời không có biện pháp nào khác. Trong tình huống không còn cách nào khác, tạm thời chọn phương pháp tiêm rút nước tiểu bàng quang .

Tạo lậu bàng quang: bí đái cấp tính nặng, khi những biện pháp ứng phó tạm thời trên đây không thể giải quyết được vấn đề, nên thực hiện kĩ thuật tạo lậu (lối thoát) bàng quang trên xương cung chậu.

Đương nhiên, những phương pháp trên là những phương pháp xử lý tạm thời, chỉ có chữa lành triệt để bệnh tật dẫn đến bí đái cấp tính mới có thể giải quyết vấn đề bí đái về cơ bản.

10.3. Vì sao hormon sinh dục nữ có thể chữa phì đại tuyến tiền liệt ở người già?

Những nghiên cứu y học hiện đại cho thấy, phát dục và chức năng sinh lí của tuyến tiền liệt đều dựa vào hormon sinh dục nam, tức testosterone và dihydroxy testosterone. Có học giả phát hiện, vì hệ thống chất xúc tác trong các mô tuyến tiền liệt của người già trao đổi bất thường, dẫn đến tốc độ giải phóng dihydroxy testosterone trong nó chậm, cho nên nồng độ tăng, từ đó có thể chứng minh tăng dihydroxy testosterone là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tăng trưởng tuyến tiền liệt ở người già.

Ứng dụng trị liệu hormon sinh dục nữ (estrogen hormone) đối kháng hormon sinh dục nam (androgen hormone), sterandryl trong khí quản dưới tác dụng của men để chuyển hoá thành dihydroxy testosterone phải dừng lại giữa chừng, nên giảm được nguồn gốc của dihydroxy testosterone, khiến cho nồng độ của nó trong mô tuyến tiền liệt giảm, mô tuyến tiền liệt đã tăng trưởng dần dần co nhỏ, từ đó loại bỏ hoặc giảm nhẹ cản trở niệu đạo.

Kết quả trên thực tế đã chứng minh, hormone estrogen có thể khiến phần tuỷ chất tuyến tiền liệt thoái hoá, mà phần vỏ bề mặt không ảnh hưởng. Bệnh lý tuyến tiền liệt cũng chứng minh, tăng trưởng tuyến tiền liệt phát sinh nhiều ở thuỳ giữa và thuỳ bên, tức phần tuỷ chất. Hai tác dụng của hormon sinh dục nữ nói trên, là bằng chứng quan trọng của điều trị tăng trưởng tuyến tiền liệt bằng hormon sinh dục nữ.

10.4. Liệu pháp tiêm có thích hợp với phì đại tuyến tiền liệt không?

Liệu pháp tiêm tuyến tiền liệt rất sớm được ứng dụng cho lâm sàng, đạt được hiệu quả nhất định. Tiêm thuốc trực tiếp vào trong mô tuyến tiền liệt, có thể khiến mô tuyến thành thể lỏng, thấm hút mà thu nhỏ thể tích. Nếu sau khi đã điều trị tiêm, rồi tiến hành phẫu thuật khoét bỏ mô tuyến tiền liệt, sẽ dễ dàng hơn khi không tiêm, rất ít dẫn đến chảy máu.

Tiêm vào tuyến tiền liệt thuốc làm cứng: mannitol 20%, tiêm bằng kim dài qua bụng dưới hoặc hậu môn 5-6 miligam, có thể khiến sợi hoá các mô tuyến tiền liệt, thu nhỏ thể tích.

Tiêm dung dịch cỏ tai hươu (pyrola): qua hai thuỳ bên hậu niệu đạo vùng hội âm tiêm vào trong tuyến thể tuyến tiền liệt, mỗi bên 2 ml, mỗi tuần 1 lần, thường thì tiêm khoảng từ 2-6 lần, tỉ lệ đạt hiệu quả 86,2%.

11. Phòng tránh phì đại tuyến tiền liệt như thế nào?

Những biện pháp đề phòng phì đại tuyến tiền liệt được thống kê gồm một số điểm chủ yếu sau:

– Thức ăn, cần ăn nhiều thức ăn thanh đạm, dễ tiêu hoá, ăn nhiều rau để tránh táo bón, vì táo bón có thể khiến bài tiết nước tiểu khó khăn thêm phần trầm trọng. –

– Ăn ít những thực phẩm kích thích cay nóng, không uống rượu để giảm thiểu cơ hội sung huyết tuyến tiền liệt.

– Cố gắng giảm đi xe đạp. Vì khi ngồi xe đạp gây áp lực tuyến tiền liệt trên niệu đạo, làm giảm chức năng bài tiết nước tiểu của bàng quang, bệnh tình dễ nặng thêm.

– Giữ tâm trạng ổn định thoải mái, tránh ưu tư, nóng nảy, tuyệt đối cấm buông thả ham muốn.

– Chữa trị bệnh của hệ tiết niệu sinh dục, như chữa trị triệt để viêm tuyến tiền liệt và viêm hậu niệu đạo sát tuyến tiền liệt, kịp thời loại bỏ cản trở niệu đạo, để đề phòng hậu quả phát sinh bí đái.

– Tham gia hoạt động thể dục hợp lý để tăng cường sức đề kháng của bộ máy cơ thể, cải thiện tuần hoàn máu bộ phận tuyến tiền liệt.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :