Home / Sức Khỏe / Phân biệt tiểu đường tuýp 1 và 2: bệnh nào nguy hiểm?

Phân biệt tiểu đường tuýp 1 và 2: bệnh nào nguy hiểm?

/

Bệnh tiểu đường tuýp 1 và 2 cực nguy hiểm, nếu không điều trị kịp thời sẽ làm tăng đường máu mạn tính là tổn thương nhiều cơ quan như: mắt, thận, thần kinh.

phân biệt tiểu đường tuýp 1 và 2

1. Bệnh tiểu đường là gì?

Đái tháo đường (tiểu đường) là bệnh rối loạn chuyển hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, đặc trưng của bệnh là tăng đường máu mạn tính cùng với rối loạn chuyển hoá carbonhydrat (chất đường), lipid (chất béo), protein (chất đạm) do thiếu insulin có kèm hoặc không kèm kháng insulin với các mức độ khác nhau. Hệ quả của tăng đường máu mạn tính là tổn thương nhiều cơ quan như: mắt, thận, thần kinh. Trong cơ thể, insulin là chất duy nhất do tụy tiết ra có tác dụng làm giảm đường máu. Vậy so sánh phân biệt tiểu đường tuýp 1 và 2 bệnh nào nguy hiểm hơn?

2. Tiểu đường tuýp 1 có nguy hiểm không?

Đái tháo đường (tiểu đường) tuýp 1 (tế bào bêta bị phá huỷ, thường dẫn đến thiếu insulin hoàn toàn). Xem thêm 43 thực phẩm cho người tiểu đường giàu dinh dưỡng, ăn thay cơm.

2.1. Tiểu đường tuýp 1 do bệnh tự miễn dịch

Còn gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin, tiểu đường tuýp 1 hoặc tiểu đường ở người trẻ do phá huỷ tế bào beta tuyến tụy bởi chất trung gian miễn dịch. Sự phá huỷ này có thể nhanh hoặc chậm. Dạng phá hủy nhanh thường xảy ra ở trẻ em, nhưng cũng có khi gặp ở người lớn. Dạng phá huỷ chậm thông thường hay gặp ở người lớn gọi là tiểu đường tự miễn dịch âm ỉ ở người lớn (LADA: Latent autoimmune diabetes in adults).

Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên biểu hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Nhưng cũng có người chỉ có tăng đường máu lúc đói vừa phải và bệnh nặng lên rất nhanh khi có nhiễm khuẩn hoặc stress. Thậm chí có người (thường là người lớn) vẫn còn đủ tế bào bêta sản xuất insulin nên không bị nhiễm toan ceton trong nhiều năm liền.

Trong giai đoạn đầu khi đường máu lúc đói mới tăng, có thể phát hiện các tự kháng thể kháng đảo tụy (ICA: Islet cell autoantibodies); tự kháng thể kháng insulin và tự kháng thể kháng GAD (Autoantibodies to glutamic acid decarboxylase) trong 85-90% trường hợp tiểu đường tuýp 1. Bệnh có tiền căn di truyền liên quan đến nhóm kháng nguyên bạch cầu HLA_DR3/HLA_DR4 và HLA_DQ. Những bệnh nhân này có thể có các rối loạn tự miễn dịch khác như bệnh Basedow, viêm tuyến giáp Hashimoto và bệnh Addison.

2.2. Tiểu đường tuýp 1 vô căn (không thấy căn nguyên tự miễn)

Một số thể tiểu đường tuýp 1 vẫn chưa biết rõ bệnh căn. Những bệnh nhân này có thiếu hụt tiết insulin thường xuyên và có khuynh hướng nhiễm toan ceton nhưng không thấy rõ bằng chứng bệnh lý tự miễn dịch. Người châu Á và châu Phi thường mắc loại tiểu đường tuýp 1 vô căn này. Một dạng thức khác của tiểu đường tuýp 1 vô căn ở châu Phi, châu Á là những bệnh nhân tiểu đường ở đây biểu hiện thiếu hụt insulin hoàn toàn theo từng thời kỳ.

2.3. Nghiên cứu DCCT (Diabetes Control & Complication Trail)

Nhằm chứng minh lợi ích của điều trị insulin tích cực cho người mắc tiểu đường tuýp 1, các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành nghiên cứu DCCT. Đây là nghiên cứu quan trọng nhất nhằm đánh giá lợi ích của điều trị quản lý tích cực đường máu trên bệnh nhân tiểu đường tuýp 1.

Nghiên cứu DCCT được tiến hành ở Mỹ từ năm 1985 tới năm 1993, đối tượng nghiên cứu gồm 1.441 bệnh nhân mắc tiểu đường tuýp 1. Những bệnh nhân này được chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm: Nhóm điều trị insulin tích cực nhằm đưa đường máu về gần giá trị bình thường và Nhóm bệnh nhân được điều trị theo quy ước. 

– Thời gian nghiên cứu trung bình là 6,5 năm.

– Đường máu trung bình đạt được ở nhóm điều trị tích cực là 155mg/dl (8,6mmol/l) và giá trị HbAlc là 7,2%.

– Đường máu trung bình đạt được ở nhóm điều trị theo quy ước là 232mg/dl (12,9mmol/l) và giá trị HbA1c khoảng 9%.

Kết quả:

Với biến chứng mắt:

+ Giảm được 76% biến chứng mắt ở những bệnh nhân chưa có tổn thương trước khi tham gia nghiên cứu.

+ Giảm được 54% tiến triển biến chứng mắt ở những bệnh nhân đã có tổn thương mắt lúc tham gia nghiên cứu.

Với biến chứng thận:

+ Giảm bài tiết albumin niệu 54%.

+ Giảm tiến triển tới bệnh lý thận rõ trên lâm sàng 60%.

+ Giảm LDL cholesterol 34%.

+ Giảm bệnh lý mạch máu lớn 41%.

Tuy nhiên cũng có một số bất lợi để đạt được những thành công trên:

– Tăng cân (hơn 120% cân nặng lý tưởng) gấp 1,6 lần so với nhóm điều trị thông thường. Cân nặng lý tưởng = số đo chiều cao 105cm.

– Hạ đường huyết nhiều hơn gấp 2-3 lần.

– Điều trị insulin tích cực: tiêm insulin nhiều lần/ngày (> 3 lần) và có kiểm soát đường máu chặt chẽ (lúc đói khoảng 5mmol/l, sau ăn khoảng 8mmol/l).

– Điều trị insulin theo quy ước: tiêm insulin 2 lần/ngày, mục tiêu tránh đường máu>15mmol.

2.4. Điểm cần nhớ về sự nguy hiểm của tiểu đường tuýp 1

– Tiểu đường tuýp 1 thường được chẩn đoán ở trẻ em, tuy nhiên người lớn cũng có thể bị.

– Sự phá hủy tế bào bêta của tụy có thể xảy ra một cách từ từ, khiến cho ta nhầm tưởng là bệnh nhân mắc tiểu đường tuýp 2 ở giai đoạn đầu (vì vẫn có lúc đáp ứng với thuốc uống hạ đường huyết).

Cho tới nay, ở Việt Nam vẫn chưa có đủ điều kiện định lượng miễn dịch các kháng thể để chứng tỏ bệnh nhân mắc tiểu đường tuýp 1. Khuynh hướng nhiễm toan ceton và đường máu tăng cao khi không tiêm insulin là một chỉ điểm tốt cho chẩn đoán mắc tiểu đường tuýp 1.

Việc điều trị cần bền bỉ, liên tục tiêm insulin và có thiết bị tự đo đường máu sẽ giúp bệnh nhân sống rất lâu với bệnh.

3. Tiểu đường tuýp 2 có nguy hiểm không?

3.1. Tiểu đường tuýp 2 không phụ thuộc insulin

Tiểu đường tuýp 2 trước đây được gọi là tiểu đường không phụ thuộc insulin, tiểu đường ở người lớn. Đặc trưng của tiểu đường tuýp 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối (hơn là thiếu tuyệt đối). Ở giai đoạn đầu, những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 không cần insulin cho điều trị sinh tồn. Người ta còn chưa biết rõ bệnh căn của tiểu đường tuýp 2, không thấy sự phá huỷ tế bào beta do tự miễn dịch như trong tiểu đường tuýp 1 và cũng không thấy các căn nguyên khác gây ra tiểu đường (sẽ được nói đến ở phần sau).

Bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 thường có béo phì, và béo phì tự nó là nguyên nhân gây kháng insulin, ở những bệnh nhân không có béo phì theo tiêu chuẩn truyền thống có thể có tăng mô mỡ phân bố nhiều ở bụng, nội tạng (ở Việt Nam, tỷ lệ tiểu đường béo phì chiếm khoảng 20% số người mắc tiểu đường, trong khi số người mắc tiểu đường có phân bố mỡ ở bụng, nội tạng nhiều chiếm tới 60-70%).

Tiểu đường tuýp 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng đường máu thường âm thầm không có triệu chứng.

Bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 thường có mức insulin máu bình thường hoặc tăng ở giai đoạn đầu, nhưng mức tăng insulin không đủ bù trừ với tình trạng kháng insulin. Mức độ kháng insulin có thể giảm bằng cách giảm cân, tăng vận động thể lực hoặc dùng thuốc uống làm giảm đường huyết song hiếm khi tình trạng kháng insulin trở lại hoàn toàn bình thường. Sau nhiều năm mắc bệnh, nhìn chung insulin máu giảm dần và bệnh nhân dần dần lệ thuộc vào insulin để cân bằng đường máu.

Nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2 tăng theo tuổi, béo phì, ít vận động thể lực. Bệnh thường gặp hơn ở những người phụ nữ có tiền sử mắc tiểu đường lúc có thai, người bị tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu và tần suất mắc bệnh khác nhau ở chủng tộc này so với chủng tộc khác.

Bệnh tiểu đường tuýp 2 có tiền căn di truyền hơn so với tiểu đường tuýp 1, nhưng nghiên cứu về gen tiểu đường tuýp 2 rất phức tạp và còn chưa được hiểu biết đầy đủ.

3.2. Các giai đoạn tiểu đường tuýp 2

Ở giai đoạn đầu, khi đường máu có xu hướng tăng nhẹ, tụy của bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 tiết insulin nhiều hơn bình thường. Lúc này, bệnh nhân thường ăn ngon miệng và hay có cảm giác rất chóng đói, dễ tăng cân. Đường máu tăng sau ăn nhiều hơn là lúc đói.

Khi được chẩn đoán mắc tiểu đường, thông thường năng lực tiết insulin của tụy còn khoảng 50%.

Quá trình mất dần chức năng của tụy theo thời gian là không đảo ngược. Càng ngày bệnh nhân càng thấy khó kiểm soát đường máu hơn, phải dùng nhiều thuốc hơn. 10 năm sau khi chẩn đoán, khoảng 50% bệnh nhân phải tiêm insulin mới giảm được đường máu về mức an toàn.

3.3. Nghiên cứu UKPDS (United Kingdom Prospective Diabetes Study)

Điều trị tích cực đường máu cho bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có làm giảm tử vong?

Nghiên cứu UKPDS nhằm mục đích xác định rằng liệu điều trị tốt đường máu ở bệnh nhân mắc tiểu đường tuýp 2 mới được chẩn đoán có làm giảm được tỷ lệ biến chứng tiểu đường và giảm được tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh hay không?

Hơn 3.800 bệnh nhân mới được chẩn đoán được chia ngẫu nhiên vào các nhóm điều trị tích cực bằng insulin hoặc sulfamid hạ đường huyết; và vào nhóm điều trị thường quy chỉ bằng chế độ ăn.

Đối với nhóm điều trị tích cực, mục tiêu là đạt được đường máu lúc đói < 6mmol/l.

Với nhóm điều trị thường quy, mục tiêu đặt ra là có được đường máu tốt nhất bằng chế độ ăn đơn thuần, nhưng sẽ dùng thuốc nếu có triệu chứng đường máu tăng cao hoặc khi đường máu >15mmol/l.

Sau 10 năm nghiên cứu, đường máu và HbAle ở nhóm điều trị tích cực giảm hơn nhóm điều trị thường quy khoảng 11%, do vậy:

– Nguy cơ biến chứng liên quan đến tiểu đường giảm 12%.

– Nguy cơ tử vong liên quan đến tiểu đường giảm 12%.

– Nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân giảm 10%.

– Không có sự khác biệt nào giữa điều trị bằng sulfamid hạ đường huyết và insulin.

– Hạ đường huyết và lên cân thường gặp ở nhóm điều trị tích cực hơn.

Điều trị đường máu tích cực giúp làm giảm biến chứng mạch máu nhỏ (biến chứng mắt, thận, thần kinh), nhưng không làm giảm được biến chứng mạch máu lớn (nhồi máu cơ tim, suy vành, đột quỵ, tắc mạch chi dưới…).

Không có loại thuốc nào (insulin và sulfamid) có tác dụng phụ xấu lên bệnh lý tim mạch.

Do đó, để giảm được biến chứng mạch máu lớn và tử vong do bệnh tiểu đường tuýp 2, mục tiêu không chỉ tập trung vào quản lý đường máu tốt, mà còn luôn tính đến các yếu tố khác như: lối sống tốt (vận động, ăn uống hợp lý, không hút thuốc lá…); kiểm soát huyết áp tốt (<130/80mmHg); điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ máu; dùng aspirin.

3.4. Điểm cần nhớ về sự nguy hiểm tiểu đường tuýp 2

Bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 chiếm đa số bệnh nhân mắc tiểu đường nói chung (90%), thường ở người lớn tuổi, nhưng hiện nay đang có xu hướng trẻ hóa. 

– Chẩn đoán thường muộn vì giai đoạn đầu không có bất kỳ triệu chứng nào.

– Điều trị cần quan tâm không những tới đường máu, mà còn phải tính đến các yếu tố liên quan như: lối sống tốt, huyết áp, mỡ máu, cân nặng… Có như vậy mới làm giảm tỷ lệ tử vong do tiểu đường.

4. Các loại tiểu đường khác

4.1. Thiếu hụt di truyền chức năng tế bào beta

– Chromosome 12. HNF – 1 (Thể MODY 3).

– Chromosome 7. Glucokinase (Thể MODY 2).

– Chromosome 20. HNF – 4 (Thể MODY 1).

– ADN của ty lạp thể  (Mitochondrial ADN). 

– Các thể khác.

4.2. Thiếu hụt di truyền về tác động của insulin

– Kháng insulin tuýp A.

– Hội chứng Leprechaunism.

– Hội chứng Rabson – Mendelhall.

– Tiểu đường teo mô mỡ.

– Các thể khác.

4.3. Bệnh tuyến tụy ngoại tiết

– Viêm tụy.

– Chấn thương tụy, cắt tụy toàn bộ.

– Ung thư tụy.

– Xơ nang tụy.

– Xơ sỏi tụy.

– Các bệnh khác.

4.4. Các bệnh nội tiết

– Bệnh to đầu chi.

– Hội chứng Cushing.

– U tế bào tiết glucagon.

– U tủy thượng thận.

– Cường giáp.

– U tiết somatostatin.

– U tiết aldosteron.

4.5. Các bệnh khác

– Thuốc hoặc hóa chất gây tiểu đường.

– Vacor.

– Pentamidine.

– Acid nicotinic.

– Hormon tuyến giáp.

– Diazoxide.

– Các chất đồng vận adrenergic.

– Thiazid.

– Dilantin.

– Interferon.

4.6. Các chất khác

– Nhiễm khuẩn.

– Bệnh sởi bẩm sinh.

– Cytomegalovirus.

– Các loại nhiễm khuẩn khác.

4.7. Những thể tiểu đường do trung gian miễn dịch ít gặp

– Hội chứng Stiff – man. 

– Các kháng thể kháng thụ thể insulin.

– Các thể khác.

4.8. Một số hội chứng di truyền kết hợp với tiểu đường

– Hội chứng Down.

– Hội chứng Klinefelter.

– Hội chứng Turner.

– Hội chứng Wolfram.

Xem thêm:

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :