Home / Sức Khỏe / Insulin điều trị đái tháo đường: cách dùng, tiêm khi nào

Insulin điều trị đái tháo đường: cách dùng, tiêm khi nào

/

Insulin là một loại chất đạm (protein) có tác dụng làm giảm đường huyết được tiết ra theo nhu cầu từng lúc của cơ thể, kích thích chủ yếu là sự tăng đường máu sau các bữa ăn. 

cách tiêm insulin điều trị đái tháo đường

Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ có giá trị tham khảo. Người bệnh cần tham khảo ý kiến tư vấn của bác sĩ chuyên khoa. Vì mỗi cơ địa khác nhau cần được khám tổng quát trước khi quyết định sử dụng phác đồ tiêm insulin cho người bệnh tiểu đường phù hợp

1. Insulin là gì?

Insulin là một loại chất đạm (protein) duy nhất trong cơ thể có tác dụng làm giảm đường huyết. Insulin được tụy tiết ra một cách liên tục suốt 24 giờ trong ngày, số lượng tùy thuộc vào lượng đường do gan cung cấp vào khoảng 200-300g/ngày. Lượng insulin này được gọi là lượng insulin nền, khoảng 0,3-0,5 đơn vị/kg tức là vào khoảng 2/3 tổng số insulin trong 24 giờ. Insulin còn được tiết ra theo nhu cầu từng lúc của cơ thể, kích thích chủ yếu là sự tăng đường máu, nhất là sự gia tăng đường máu sau các bữa ăn. 

Bệnh nhân đái tháo đường tiêm insulin một liều lượng tùy thuộc vào:

– Khối lượng thức ăn đưa vào.

– Khả năng kích thích của thức ăn lên tế bào beta của tụy.

– Lượng insulin được tiết ra theo ăn uống vào khoảng 0,3 đơn vị/kg.

– Nhu cầu tổng cộng về insulin trong 24 giờ là 0,7 – 0,8 đơn vị/kg. Ví dụ như một người có cân nặng 50kg cần khoảng 35 – 40 đơn vị/24 giờ, trong đó lượng insulin nền là 25 đơn vị, lượng insulin theo nhịp ăn uống là 15 đơn vị.

Vì insulin là chất đạm nên khi uống vào đường tiêu hoá sẽ bị phân huỷ do đó cần phải tiêm.

2. Những người cần được điều trị bằng tiêm insulin

2.1. Bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin (tuýp 1)

2.1.1. Biểu hiện

– Khởi phát ở người trẻ tuổi, thường ở bệnh nhân dưới 40 tuổi.

– Triệu chứng rõ ràng: khát, uống và đái nhiều, ăn nhiều và gầy.

– Có ceton trong nước tiểu.

– Tiến triển nhanh chóng đến tình trạng nhiễm toan ceton, thở nhanh, nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời có thể gây ra biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

2.1.2. Xét nghiệm

– C-peptid.

– Kháng thể kháng tiểu đảo (chưa có sẵn ở Việt Nam).

2.2. Điều trị bằng insulin với bệnh nhân tiểu đường tuýp 2

2.2.1. Triệu chứng rõ ràng khi không dùng insulin (tuýp 1 chậm)

– Khát, uống – đái nhiều, ăn nhiều, gầy sút, teo cơ. 

– Xuất hiện ceton trong nước tiểu.

– Tăng đường máu thường xuyên (> 3g/1 hoặc > 16mmol/l).

2.2.2. Các tình huống đòi hỏi phải dùng insulin trong bệnh tiểu đường tuýp 2

– Hôn mê tăng đường máu.

– Các loại nhiễm khuẩn: đường hô hấp, tiết niệu, răng và tai mũi họng.

– Tai biến mạch rộng: nhồi máu cơ tim.

– Can thiệp phẫu thuật làm nhanh lành sẹo vết thương, vết loét ở chân…

– Dùng các thuốc làm tăng đường máu: corticoid (dexamethazon, prednisolon).

– Có các biến chứng tiểu đường: bệnh lý võng mạc, đau do tổn thương thần kinh trong bệnh lý tiểu đường.

– Thất bại khi dùng thuốc uống hạ đường huyết.

Các chỉ số lâm sàng là rất cơ bản để chẩn đoán bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin, điều trị bằng insulin là bắt buộc, có tính chất liên tục và vĩnh viễn.

Biểu đồ 1 - sự tiết insulin
Biểu đồ 1 – sự tiết insulin

3. Cơ chế hạ đường huyết của insulin

Tất cả các bệnh nhân tiểu đường có thể trở nên cần điều trị bằng insulin một cách tạm thời hoặc vĩnh viễn. Đường máu ở người bình thường sau mỗi bữa ăn sẽ tăng lên chút ít trong vòng 1 – 2 giờ, sau sẽ trở lại bình thường.

Đường máu không tăng lên quá cao cũng như không hạ quá thấp ở người bình thường là nhờ vào hoạt động nhịp nhàng của các cơ quan chủ yếu là tụy, gan, mô mỡ, cơ. Khi có thức ăn trong dạ dày – ruột, tụy lập tức đáp ứng bằng cách tiết thêm nhiều insulin.

Trong cơ thể insulin có vai trò như là chiếc chìa khoá mở các kho lưu trữ ở gan, cơ và mô mỡ để đưa đường vào đó cất giữ. Ngược lại, khi đường máu xuống thấp, tụy tiết ít insulin hơn, nhưng không bao giờ sự tiết insulin ngừng lại kể cả khi nhịn đói dài ngày. 

Tụy không tiết insulin chỉ gặp khi bị tiểu đường tuýp 1. Do vậy, với bệnh tiểu đường tuýp 1, nếu buộc phải nhịn đói để làm xét nghiệm, điều trị phẫu thuật cần gây mê chẳng hạn: hoặc là dùng insulin và truyền đường kèm theo qua đường tĩnh mạch nếu thời gian nhịn đói kéo dài, hoặc là không truyền đường chỉ tiêm insulin với 1/3 – 1/2 liều thường lệ. Không bao giờ được ngừng tiêm insulin.

Với người bệnh tiểu đường tuýp 2 tụy tiết thiếu insulin và không kịp thời, kết hợp với một số yếu tố thuận lợi như béo phì, ít vận động khiến cho lượng insulin vốn ít lại hoạt động kém hiệu quả làm đường tăng cao nhất là sau khi ăn 1-2 giờ.

Biểu đồ 2 - sự tiết insulin
Biểu đồ 2 – sự tiết insulin

Sự tiết insulin trong tiểu đường tuýp 2 không được điều trị tốt: đỉnh tiết insulin sau bữa ăn thấp và chậm.

Việc điều trị tiểu đường bằng insulin thực chất là cố gắng khôi phục lại lượng insulin cần thiết bằng cách làm tăng lượng insulin sau mỗi bữa ăn và duy trì được lượng nhỏ insulin lúc đói. Để đáp ứng mục đích này các hãng dược phẩm đã tạo ra rất nhiều loại insulin khác nhau. 

Khi tiêm insulin: bắt buộc phải biết phân biệt từng loại dựa vào thời gian tác dụng của chúng.

4. Các loại insulin trong điều trị đái tháo đường

4.1. Phân loại insulin theo nguồn gốc sản xuất

Từ nguồn gốc động vật: từ tụy của bò hay lợn, có khác biệt một chút về cấu trúc so với insulin của người. Loại insulin này được tinh chế bằng phương pháp sắc ký đạt độ tinh khiết hoa rất cao. Ngày nay, người ta có xu hướng ít dùng insulin có nguồn gốc từ động vật vì e ngại các chứng bệnh có thể lây sang người như bệnh “bò điên” chẳng hạn.

Insulin “người”: được sản xuất từ insulin động vật qua các phương pháp.

– Bán tổng hợp từ insulin lợn, bản chất cũng từ nguồn động vật, hiện ít được sử dụng.

Tái tổ hợp gen: là loại insulin trung tính đơn thành phần, được sản xuất bằng kỹ thuật tái tổ hợp gen, sử dụng nấm men làm cơ thể sinh sản sau đó được chiết xuất đạt đến độ tinh khiết hóa và chất lượng cao nhất, có cấu trúc giống hệt như insulin tự nhiên của người, do vậy ít tạo kháng thể và thời gian tác dụng ngắn hơn. Khi có kháng thể kháng insulin, một phần insulin tiêm vào sẽ bị trung hòa bớt dẫn đến việc phải tăng liều điều trị.

Lưu ý: Nồng độ insulin theo số đơn vị trong 1ml:

Loại dùng cho bơm tiêm: 1ml có 40 đơn vị đóng trong lọ nhỏ 10ml (400 đơn vị/lọ).

Loại dùng cho bút chích: 1ml có 100 đơn vị đóng trong ống 3ml (300 đơn vị ống).

– Loại dùng cho bơm tiêm nồng độ từ 100 – 500 đơn vị/ml, hiện nay chưa có tại Việt Nam.

Khi mua insulin, cần xem kỹ nồng độ insulin và tổng lượng insulin có trong lọ.

4.2. Phân loại insulin theo thời gian tác dụng

4.2.1. Insulin tác dụng nhanh

Thời gian Insulin tác dụng nhanh
Thời gian Insulin tác dụng nhanh

Đặc tính: trong suốt, có thể dùng bằng tất cả mọi đường tiêm: tĩnh mạch, dưới da, tiêm bắp và dùng được trong mọi tình huống.

Khi tiêm dưới da: insulin bắt đầu có tác dụng sau 15 – 20 phút. Có tác dụng cực đại sau 2 – 4 giờ. Hết tác dụng sau 6 – 8 giờ.

Lưu ý: khi dùng insulin tiêm dưới da thì insulin có tác dụng nhanh hơn và ngắn hơn nếu như vùng tiêm có tăng hoạt động thể lực (đùi nếu như tập chạy, cánh tay nếu như chơi tennis và bụng nếu như bơi thuyền).

Ưu điểm:

– Là loại duy nhất dùng trong cấp cứu do tác dụng hạ đường huyết nhanh chóng.

– Có thể trộn lẫn với insulin chậm tuỳ theo mục đích và nhu cầu điều trị.

– Có thời gian tác dụng ngắn và mạnh để làm giảm đường huyết sau khi ăn.

Nhược điểm: Thời gian tác dụng ngắn nên phải tiêm nhiều lần trong ngày (4 mũi tiêm dưới da, thực tế không dùng riêng insulin tác dụng nhanh để điều trị mà phải kết hợp thêm insulin tác dụng bán chậm hoặc chậm).

4.2.2. Insulin tác dụng bán chậm (dịch tiêm đục như sữa)

Thời gian insulin tác dụng bán chậm
Thời gian insulin tác dụng bán chậm

Để làm giảm bớt số lần tiêm trong ngày, người ta đã sản xuất ra loại insulin có tác dụng dài hơn gồm 2 loại insulin là NPH (Neutral Protamine Hagedorn) và, IZS (Insulin Zinc Suspension) hay lente để sử dụng trong chế độ điều trị với 2 hay 3 mũi tiêm trong ngày.

Loại insulin NPH: sử dụng protamin là một loại polypeptide có khả năng gắn insulin.

+ Bắt đầu tác dụng sau 1 giờ.

+ Tác dụng mạnh nhất sau 4 – 8 giờ.

+ Hết tác dụng sau 14 – 18 giờ.

+ Với loại insulin này thì các điểm gắn kết insulin của protamin đã bão hoà nên loại insulin này có thể dùng trộn lẫn với insulin nhanh.

+ Tuy nhiên, nhược điểm của loại insulin này có thể gây ra loạn dưỡng mỡ nơi tiêm (hiếm gặp). 

Loại insulin IZS (insulin kẽm):

+ Thời gian tác dụng có thể từ 6 – 36 giờ tuỳ theo cách thức sản xuất.

+ Ưu điểm của các loại insulin tác dụng trung bình là có nhiều loại với thời gian tác dụng khác nhau thích ứng với yêu cầu điều trị và sự thuận lợi của từng bệnh nhân.

+ Nhược điểm: có thể gây đau khi trộn với insulin nhanh.

Cần chú ý khi trộn lẫn insulin nhanh với chậm thì loại nhanh phải được lấy vào bơm tiêm trước và dịch trộn phải được tiêm ngay.

Insulin trộn sẵn (dịch tiêm đục như sữa): Là loại insulin trộn lẫn giữa 2 loại nhanh và trung bình theo tỷ lệ nhất định.

Thời gian phát huy tác dụng insulin trộn sẵn
Thời gian phát huy tác dụng insulin trộn sẵn

+ Có tỷ lệ 30% insulin nhanh và 70% insulin trung bình.

+ Có tỷ lệ 50% insulin nhanh và 50% insulin trung bình. Ngoài ra, còn tiến hành trộn theo những tỷ lệ khác, trong đó loại nhanh chiếm 1020-40%.

+ Đặc tính: cùng lúc có 2 tác dụng (nhanh do loại nhanh đảm trách và kéo dài do loại trung bình đảm trách).

+ Với người ăn nhiều tinh bột, đường thì thích hợp với loại trộn 40-50% nhanh.

+ Phần lớn bệnh nhân dùng loại trộn 30% nhanh. Một vài người có khuynh hướng hạ đường huyết giữa các bữa ăn nên dùng trộn 10 – 20%.

+ Ưu điểm: tiện dụng, phù hợp hơn với sinh lý mà không đòi hỏi phải tự trộn lấy liều khi dùng riêng từng loại nhanh chậm.

+ Nhược điểm: vì tỷ lệ pha trộn là cố định nên khó điều chỉnh cho phù hợp với từng tình huống cụ thể: ăn bữa no nếu tăng liều cả insulin nhanh và chậm sẽ gây hạ đường huyết muộn. Trong khi lẽ ra chỉ tăng từ 2 đến 6 đơn vị loại insulin nhanh.

4.2.3. Insulin tác dụng chậm (dịch tiêm đục như sữa)

Thời gian phát huy tác dụng insulin chậm
Thời gian phát huy tác dụng insulin tác dụng chậm

Đặc tính: là loại insulin có kết hợp với kẽm, chia làm 2 nhóm chính:

– Nhóm 1: loại tác dụng 24 giờ.

– Nhóm 2: loại tác dụng 36 giờ.

Ưu điểm:

– Chỉ cần một mũi tiêm có tác dụng trong cả 24 giờ trong ngày.

– Có thể dùng trong kỹ thuật 4 mũi tiêm/ngày, – 3 mũi nhanh vào trước các bữa ăn và một mũi chậm vào lúc đi ngủ (22 giờ).

Nhược điểm:

– Tại chỗ: đỏ, đau nơi tiêm.

– Hạ đường huyết không lường trước do tác dụng kéo dài chồng chéo với các mũi tiêm khác.

– Thường không làm giảm được đường máu sau ăn do thời gian hấp thu vào máu chậm.

4.2.4. Insulin tác dụng siêu chậm (dịch tiêm trong)

Đặc tính: là loại insulin nhân tạo có tác dụng kéo dài thực sự.

Ưu điểm: tốc độ hấp thu ổn định hơn 2 loại insulin bán chậm và chậm, do đó có tác dụng làm insulin nền tốt hơn, ít gây hạ đường huyết hơn.

4.2.5. Insulin tác dụng ngắn (dịch tiêm trong)

Đặc tính: là loại insulin nhân tạo có tác dụng chỉ 10-15 phút sau khi tiêm. Hết tác dụng sau 3 giờ.

Ưu điểm: có tác dụng hạ đường huyết sau ăn tốt. Không cần phải chờ 30 phút mới được ăn như đối với loại insulin tác dụng nhanh.

Nhược điểm: giá thành đắt.

Loại insulin (Thời gian tác dụng)Nguồn gốcNồng độ/mlThời gian bắt đầu có tác dụngThời gian hết tác dụng
Loại tác dụng nhanh
Actrapid HM“Người”/sinh tổng hợp40 đơn vị/ml (lọ)
100 đơn vị/ml (bút tiêm)
30 phút
30 phút
8 giờ
8 giờ
Insulidd R“Người”/sinh tổng hợp40 đơn vị/ml (lọ)30 phút6 giờ
Insulinum MaxirapidChiết xuất từ tụy lợn40 đơn vị/ml (lọ)30 phút7-8 giờ
Loại bán chậm
Insulatard HM“Người”/sinh tổng hợp40 đơn vị/ml (lọ)
100 đơn vị/ml (bút tiêm)
1 giờ
1 giờ
20 giờ
20 giờ
Monotard HM“Người”/sinh tổng hợp40 đơn vị/ml (lọ)2 giờ18 giờ
Insulidd N“Người”/sinh tổng hợp40 đơn vị/ml (lọ)1 giờ24 giờ
Semilente MCChiết xuất từ tụy lợn40 đơn vị/ml (lọ)1 giờ 30 phút16 giờ
Loại trộn sẵn nhanh/bán chậm
Mixtard HM 30, 10, 20, 40, 50“Người”/sinh tổng hợp40 đơn vị/ml (lọ)
100 đơn vị/ml (bút tiêm)
30 phút
30 phút
20 giờ
16 giờ
Novomix 30/70“Người”/sinh tổng hợp100 đơn vị/ml (bút tiêm)5-10 phút16 giờ
Loại tác dụng dài
Ultra Lente MCChiết xuất từ tụy bò40 đơn vị/ml (lọ)4 giờ24 giờ
Lent MCChiết xuất từ tụy bò/lợn40 đơn vị/ml (lọ)2 giờ 30 phút24 giờ
InsuliddL“Người”/sinh tổng hợp40 đơn vị/ml (lọ)4 giờ28 giờ
Insulinum lent Cho-SChiết xuất từ tụy bò40 đơn vị/ml (lọ)1-2 giờ24 giơ
Loại tác dụng dài không có đỉnh
LantusNhân tạo100 đơn vị/ml2 giờ24 giờ
LevemirNhân tạo100 đơn vị/ml2 giờ20 giờ
Loại tác dụng ngắn
– Humalog
– Novorapid
– Apidra
Nhân tạo100 đơn vị/ml5-10 phút3 giờ
Một số loại insulin điều trị tiểu đường trên thị trường

5. Cách cách tiêm insulin

5.1. Tiêm 3 mũi một ngày

Cách tiêm insulin 1
Cách tiêm insulin 3 mũi/ngày

Thời gian tiêm insulin khi nào? 3 mũi tiêm một ngày vào trước 3 bữa ăn chính: Trong đó:

– Sáng tiêm insulin nhanh, khoảng 25% tổng liều.

– Trưa tiêm insulin nhanh, khoảng 25% tổng liều.

– Chiều tiêm insulin nhanh trộn với insulin bán chậm hoặc chậm, khoảng 50% tổng liều.

Ví dụ: Một người 50kg, ước tính liều ban đầu là 0,5 đơn vị/kg/ngày: tổng liều sẽ là 24 đơn vị; phân bố liều ban đầu: sáng 6 đơn vị insulin nhanh, trưa 6 đơn vị insulin nhanh, chiều 12 đơn vị insulin bán chậm hoặc insulin trộn sẵn. Điều chỉnh từ 1020% liều lượng đơn vị insulin khi đường máu chưa đạt được mục tiêu điều trị. Thường sau 2-3 ngày chỉnh liều 1 lần.

Ưu điểm là khôi phục được sự tiết insulin gần giống với sinh lý bình thường nhưng nhiều khi thời gian tác dụng của insulin bán chậm không đủ dài để khống chế đường máu vào sáng sớm hôm sau.

5.2. Tiêm 4 mũi một ngày

Cách tiêm insulin 2
Cách tiêm insulin 4 mũi/ngày

4 mũi tiêm/ngày trong đó 3 mũi nhanh trước 3 bữa ăn và 1 mũi bán chậm hoặc chậm lúc đi ngủ: là cách tiêm insulin tương đối gần với tiết insulin bình thường, đường máu thường được ổn định tốt hơn và dễ điều chỉnh hơn, thích hợp với người trẻ tuổi, có hiểu biết tốt và có điều kiện tự theo dõi.

Phân bố liều gợi ý có thể như sau: Mỗi mũi tiêm insulin nhanh chiếm 20% tổng liều; insulin bán chậm hoặc chậm chiếm 40% tổng liều. Ví dụ cho người 50kg cần 24 đơn vị/ngày: sáng 6 đơn vị insulin nhanh; trưa 4 đơn vị insulin nhanh; chiều 4 đơn vị insulin nhanh và tối 10 đơn vị insulin bán chậm hoặc chậm. Điều chỉnh liều tăng hoặc giảm 10-20% tổng liều sau 2-3 ngày.

5.3. Tiêm 2 mũi một ngày

Cách tiêm insulin 2 mũi/ngày
Cách tiêm insulin 2 mũi/ngày

2 mũi tiêm/ngày vào trước bữa ăn sáng và tối: sử dụng loại insulin tác dụng bán chậm, đường máu sau ăn sáng, tối thường tăng nhiều do nồng độ insulin bán chậm hấp thu chậm không gặp gỡ với tình trạng tăng đường máu sau ăn. Để sửa chữa nhược điểm này có thể trộn thêm vào loại insulin tác dụng nhanh.

Phân bố liều 2/3 vào buổi sáng; 1/3 vào buổi chiều. Ví dụ: cho người 50kg, liều dùng ban đầu 24 đơn vị/ngày: 16 đơn vị trước ăn sáng; 8 đơn vị trước ăn chiều. Tăng giảm liều 10-20% sau 2-3 ngày.

5.4. Tiêm 1 mũi 1 ngày

1 mũi tiêm/ngày: dùng loại insulin chậm, với cách tiêm này hiếm khi đường máu được điều chỉnh tốt. Chỉ dùng cho trẻ em còn quá nhỏ hoặc người già, người không thể thực hiện được các cách tiêm 2 -3 hoặc 4 mũi tiêm/ngày. Việc điều trị lúc này chủ yếu nhằm mục đích sinh tồn, tránh đường máu quá cao.

Tiêm insulin nhiều lần/ngày thì phải đau nhiều lần nhưng đổi lại đường máu được điều chỉnh tốt hơn, giảm tối thiểu được các biến chứng. Ngày nay các loại bút tiêm insulin cho phép lấy liều insulin cực kỳ chính xác và kim tiêm cực nhỏ khiến cho việc tiêm insulin được đơn giản hoá và đỡ đau hơn rất nhiều.

6. Chú ý quan trọng khi tiêm insulin

– Mũi tiêm cuối cùng trong ngày bắt buộc phải là insulin bán chậm hoặc chậm mới có thời gian đủ dài để duy trì đường máu tới sáng hôm sau.

– Sử dụng insulin loại nào vào những giờ nhất định trong ngày, không được hoán vị thay thế các mũi tiêm nếu không có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

– Khi mua insulin phải chú ý mua đúng loại insulin đang tiêm. Trường hợp cần thay đổi phải hỏi ý kiến bác sĩ.

– Khi đi khám bệnh nên đem theo lọ insulin và bơm tiêm đang dùng để kiểm tra.

Hãy trao đổi với bác sĩ chuyên khoa để lựa chọn cách tiêm insulin (2, 3 hay 4 mũi tiêm/ngày). Bạn không được tự ý thay đổi cách tiêm và loại insulin mà không có ý kiến của thầy thuốc.

7. Kỹ thuật tiêm insulin cho người đái tháo đường

Kỹ thuật tiêm insulin
Các kỹ thuật tiêm insulin cho người tiểu đường

7.1. Vị trí tiêm insulin dưới da

Tất cả tổ chức dưới da trên cơ thể đều có thể dùng để tiêm, tuy nhiên trên thực tế thường dùng vùng đùi, cánh tay, bụng, hông, lưng.

Sự luân chuyển định kỳ các mũi tiêm theo truyền thống được hướng dẫn hiện nay không được áp dụng nữa. Ngày nay, người ta chọn một vùng tiêm cho vài ngày vào những giờ tiêm nhất định, sau khi hết điểm tiêm mới chuyển sang vùng khác. Mỗi mũi tiêm cách nhau 2 – 4cm.

Ví dụ: với người tiêm 3 mũi/ngày, chọn vùng bụng cho các mũi tiêm buổi sáng, vùng cánh tay dành cho các mũi tiêm buổi trưa, vùng đùi cho các mũi tiêm buổi chiều. Cần chú ý rằng nếu như vùng dự định tiêm sẽ phải vận động nhiều thì nên chuyển sang vùng khác. Ví dụ: nếu như vùng đùi được chọn sẽ tiêm mà sau đó đạp xe nhiều thì tiêm lên cánh tay. 

7.2. Giờ tiêm insulin

– 15 – 30 phút trước khi ăn nếu là loại insulin nhanh, kể cả loại trung bình có pha trộn.

– 15 phút – 2 giờ trước khi ăn nếu là loại tác dụng trung bình (thường trước khoảng 1 giờ). 

Lưu ý: Khi đã chọn giờ tiêm thích hợp với gia đình mình không nên thay đổi giờ tiêm đó quá thường xuyên.

7.3. Dụng cụ và cách tiêm insulin

– Dụng cụ: bông, cồn 70, bơm tiêm hay bút tiêm. Cần chú ý sát trùng cả nút cao su của lọ thuốc khi lấy thuốc.

– Cách tiêm: với bệnh nhân có lớp mỡ dày và bút tiêm hay bơm có kim tiêm với độ dài thích hợp thì tiêm thẳng hay chéo vào dưới da.

Với các bệnh nhân có lớp mỡ dưới da mỏng thì có thể dùng kỹ thuật véo da để tiêm. Tốt nhất bệnh nhân nên tự tiêm để tăng tính độc lập, tăng khả năng tiêm theo giờ nhất định để hiệu quả điều trị tốt hơn.

7.4. Kỹ thuật lấy và tiêm insulin

Tự lấy và tiêm insulin là yêu cầu thiết yếu để giữ đường máu ổn định tốt. Nếu nhờ người khác tiêm hộ, hãy hình dung, nếu người đó đi vắng hoặc vào các ngày lễ tết, không thể đến tiêm được. Sau một thời gian thực hành bạn sẽ thấy việc tự tiêm insulin sẽ không đến nỗi quá phức tạp và đau đớn nếu theo đúng các chỉ dẫn sau:

Bước 1: Trước hết hãy chuẩn bị các vật dụng cần thiết: bông, cồn, bơm tiêm, insulin.

Bước 2: Rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng để tránh nhiễm khuẩn.

Bước 3: Lăn nhẹ lọ insulin loại đục (chậm hoặc bán chậm) trong lòng 2 bàn tay để trộn đều dịch tiêm bị lắng đọng. Động tác này thường bị bỏ quên. Không được lắc mạnh lọ insulin.

Bước 4: Sát trùng nút cao su của lọ insulin bằng bông con 70⁰.

Bước 5: Lấy bơm tiêm sạch, tháo bộ phận bảo vệ kim.

Bước 6: Kéo piston lấy lượng không khí tương đương với liều insulin cần tiêm. Ví dụ 0,2ml = 8 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = 40 đơn vị.

  • 0,3ml = 12 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml= 40 đơn vị.
  • 0,4ml = 16 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = 40 đơn vị.
  • 0,5ml = 20 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = 40 đơn vị.
  • 0,6ml = 24 đơn vị insulin cho loại có nồng độ 1ml = = 40 đơn vị.

Bước 7: Đâm kim qua nút cao su. Đẩy lượng không khí trong bơm tiêm vào lọ insulin.

Bước 8: Xoay ngược lọ thuốc và bơm kim tiêm đồng thời lấy thuốc đến vạch cần thiết.

Bước 9: Nếu có bọt khí trong bơm tiêm, gõ nhẹ lên bơm tiêm ở chỗ có bọt khí sao cho bọt khí dịch chuyển lên trên, bơm trở lại vào lọ thuốc. Lấy lại thuốc đến vạch cần thiết sao cho không có bọt khí ở trong bơm tiêm. Rút kim và bơm tiêm ra khỏi lọ thuốc. Chuẩn bị tiêm.

Bước 10: Sát trùng vùng da được tiêm từ giữa vòng ra xung quanh. Làm căng vùng da định tiêm bằng ngón cái và ngón trỏ. Đâm kim nhanh và thẳng góc 90°. Nếu vùng da định tiêm mỏng thì nên véo da lên để tiêm.

Bước 11: Giữ bơm tiêm bằng một tay. Tay kia kéo piston lên một chút để thử xem có máu lên bơm tiêm hay không? Nếu có máu trào lên có nghĩa là kim tiêm đã đi vào trong mạch máu không được tiêm. Rút kim tiêm ra và chọn vị trí khác để tiêm lại.

Bước 12: Nếu không có máu, đẩy piston de đưa thuốc vào.

Bước 13: Khi bơm xong, rút kim ra nhanh. Ấn bông tẩm cồn lên vết tiêm một lúc. Không được xoa bóp nơi tiêm vì sẽ làm cho thuốc ngấm vào máu nhanh hơn.

7.5. Tự trộn insulin

Tự tiêm lấy insulin để trong cùng một mũi tiêm có cả tác dụng của insulin nhanh và insulin bán chậm dùng trong một số cách tiêm insulin. Tự trộn lấy insulin không có gì quá phức tạp, chỉ cần tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị bông, cồn 70, bơm tiêm, insulin tác dụng nhanh (loại trong) và bán chậm (loại đục). Giả sử ta cần lấy 20 đơn vị insulin bán chậm và 10 đơn vị insulin nhanh.

Bước 2: Đầu tiên lấy lượng không khí tương đương với liều insulin bán chậm, đưa lượng không khí này vào lọ insulin bán chậm, rút kim và bơm tiêm ra – Không lấy thuốc lúc này.

Bước 3: Lấy lượng không khí tương đương với liều insulin tác dụng nhanh.

Bước 4: Đâm kim vào lọ insulin tác dụng nhanh, đưa lượng không khí này vào.

Bước 5: Quay ngược lọ thuốc và lấy thuốc tương đương với 10 đơn vị.

Bước 6: Quan sát xem có bọt khí trong bơm tiêm hay không? Nếu có bọt khí, gõ nhẹ vào bọt để bọt dịch chuyển lên trên. Bơm bọt khí vào lọ, lấy lại liều thuốc. 

Bước 7: Nếu vẫn còn bọt khí: xác đúng lặp lại động tác trên sao cho lấy chính 10 đơn vị insulin nhanh.

Bước 8: Quay lại lo insulin bán chậm. Đâm kim vào và rút thuốc ra đúng đủ 20 đơn vị bán chậm, nghĩa là vị trí piston ở 30 đơn vị vì 10 đơn vị nhanh + 20 đơn vị bán chậm = 30 đơn vị. Rút kim và tiêm như bình thường.

8. Nguyên tắc cơ bản điều chỉnh liều insulin cho người tiểu đường

– Thay đổi liều chỉ ảnh hưởng tới đường máu trong vòng thời gian tác dụng của insulin, nói chung 5 giờ sau khi tiêm với loại nhanh và 8-12 giờ với loại bán chậm.

– Thay đổi liều phải tính đến các sự kiện tình cờ như vận động thể lực, ăn uống khác thường… Trong trường hợp này liều tiêm cần thay đổi từ trước với sự ước đoán về cường độ vận động.

– Thay đổi liều cần phải tính tới sự tăng giảm đường máu ở những ngày trước đó.

– Thay đổi liều để đạt được mục tiêu đường máu do bác sĩ chuyên khoa đặt ra tuỳ từng bệnh nhân. Ví dụ:

+ Bệnh nhân trẻ và bệnh nhân có biến chứng mắt, thần kinh cần có đường máu gần bình thường, nghĩa là buổi sáng lúc đói 4,4 – 6,7mmoll và sau ăn là < 8,9mmol/l.

+ Bệnh nhân đã có tuổi, kém tự chủ… mục tiêu là tránh hạ đường huyết và tăng đường huyết nhiều > 14mmol/l.

Kỹ thuật tự đo đường máu, đường niệu, ceton niệu thường xuyên cho phép điều chỉnh chặt chẽ đường máu trong giới hạn mục tiêu đặt ra. Quyển sổ ghi chép lại các kết quả xét nghiệm là biện pháp duy nhất cho phép hình dung quá trình diễn biến trong nhiều ngày (điều chỉnh liều tốt hơn). Để có thể hiểu và học được cách tự điều chỉnh insulin cần đi sinh hoạt câu lạc bộ và khám bệnh đều đặn với các bác sĩ chuyên khoa.

9. Cách bảo quản insulin

Bảo quản insulin ở nơi khô ráo, nhiệt độ lý tưởng là 2-8°C, tránh ánh nắng.

Tuy nhiên, insulin được sản xuất ra rất bền vững đến tận nhiệt độ 27°C cho nên với thời tiết mùa đông thì việc bảo quản không thành vấn đề. Về mùa hè với việc tích trữ dài hạn ở nhiệt độ cao có thể ảnh hưởng tới chất lượng của insulin. Lưu trữ dùng ngắn hạn chỉ cần để nơi mát nhất trong nhà là đủ (trong trường hợp không có tủ lạnh), ở 30°C có thể để được trong 4 6 tuần không ảnh hưởng đến chất lượng.

Lưu ý:

– Lọ đang dùng không để trong tủ lạnh vì tiêm bị đau.

– Tuyệt đối không để insulin trong ngăn đá vì ở đó nhiệt độ dưới 0°C.

Khi mua hoặc khi lấy insulin mới đem về dùng cần kiểm tra lại chất lượng, nếu insulin nhanh (loại trong) có vẩn đục hoặc loại bán chậm và chậm (loại đục) có vẩn cặn thì không nên dùng.

10. Một đơn vị insulin nghĩa là gì?

Insulin được tìm ra từ năm 1921 và sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường tuýp 1 cho Leonard Thomson lần đầu tiên vào ngày 11 tháng 1 năm 1922, người này đã sống được đến ngày 20 tháng 4 năm 1935, thọ được 27 tuổi (sau 13 năm 3 tháng tiêm insulin). Nhân loại sẽ nhớ mãi đến những cái tên Best và Banting – những người đầu tiên đã chiết xuất được insulin, Collip và MacLeod những người đầu tiên dùng insulin chiết suất đó để tiêm cho Loenard Thomson tại Toronto (Canada) ngay sau khi Best và Banting chiết suất được vài ngày.

Để hiểu rõ hơn được công lao trên của Best, Banting, Collip và MacLeod, chúng ta cần biết rằng, trước khi tìm ra insulin, bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 thường chỉ sống được vài tháng, hiếm khi được 1 năm sau khi chẩn đoán bệnh. Và ngày nay, trên toàn thế giới có khoảng 25 triệu người mắc bệnh như Leonard Thomson.

Trên vỏ lọ thuốc insulin thường ký hiệu số lượng/nồng độ insulin là IU = international unite = đơn vị quốc tế chuẩn hoá (có nghĩa là ở bất kỳ đâu trên thế giới, hiệu lực của một đơn vị insulin đều giống nhau).

Kể từ ngày tìm ra insulin đến nay, đã từng có rất nhiều cách để đo đếm lượng insulin. Ban đầu, Best, Banting, Collip và MacLeod đã gọi lượng insulin gây ra co giật cho thỏ với mức đường máu 45mg/dl là một đơn vị hoạt động hay là một đơn vị thỏ. Sau đó, vào năm 1926, đơn vị insulin được định nghĩa như sau: là 1/3 lượng insulin cần thiết để làm giảm được đường máu của một con thỏ nhịn ăn 24 giờ xuống 45mg/dl trong vòng 5 giờ sau khi tiêm.

Tùy theo công nghệ sản xuất và độ tinh chế, một đơn vị insulin được định nghĩa với nhiều lượng rất khác nhau:

  • Đơn vị quốc tế lần thứ nhất (1925): 8IU/mg bột khô, hay 1IU = 0,125mg.
  • Đơn vị quốc tế lần 2 (1935): 22IU/mg bột khô, hay 1IU = 0,04545mg.
  • Đơn vị quốc tế lần 3 (1952): 24,5IU/mg, hay 1IU = 0,040816mg.
  • Đơn vị quốc tế lần 4 (1958): 25,36IU/mg, hay 1IU = 0,03943mg.

Kể từ năm 1991: 1mg insulin khô có 28,7IU, hay 1IU = 0,0348mg.

Lưu ý những điều sau đây thì xin đừng quên, vì nhớ được chúng, đường máu sẽ ổn định hơn rất nhiều.

– 1IU insulin thường làm giảm được 10-15gram đường ăn vào. Nếu muốn ăn thêm chất bột đường cần phải tính lượng ăn thêm đó để tăng số đơn vị insulin tác dụng nhanh tương ứng, hoặc ngược lại, khi ăn giảm lượng chất bột đường cũng cần phải giảm liều insulin tác dụng nhanh để tránh bị hạ đường máu.

– 1-2IU (10% liều) insulin là lượng cần thêm vào hay bớt đi cho một lần tiêm (cho phần lớn trường hợp) nếu đường máu không nằm trong mục tiêu đề ra (hãy lưu ý điểm này để lấy liều insulin cho chính xác).

– 0,5-1IU/kg cân nặng là liều insulin/ngày ở đa số bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 điều trị đúng cách (một người nặng 50kg cần khoảng 25-50IU/ngày).

– 1IU insulin loại tác dụng nhanh làm giảm đường máu khác hẳn 1IU loại tác dụng chậm. Có quá nhiều bệnh nhân không biết phân biệt đâu là insulin chậm và insulin trộn sẵn cả nhanh và chậm (cả 2 loại đều đục như sữa khi lắc).

– 1IU insulin được cơ thể “hiểu” là 0,5IU hoặc là 1,5IU, và vì vậy đường máu chẳng ngày nào giống ngày nào. Tại sao? Vì sau khi tiêm cho cùng một người, sự hấp thu có thể khác nhau tới 50%. Đó là vì có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến như: loại insulin (nhanh; bán chậm từ loại insulin bò hay “người”); nồng độ (40IU/ml hay 100IU/ml); liều tiêm cho một lần (< 10IU hay > 10IU); nơi tiêm (bụng hay đùi…); độ nông sâu của mũi tiêm (kim tiêm dài 5-6-8-12mm); sự vận động; nhiệt độ môi trường; chế độ ăn. Cần phải học nhiều mới đủ trình độ để làm giảm bớt sự “hiểu” sai này.

– 1IU x n lần cũng là liều insulin rất có ích cho người tiểu đường tuýp 2 khi thuốc uống hạ đường huyết tỏ ra kém tác dụng (sau 10 năm mắc bệnh tiểu đường, 50% bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 cần tiêm insulin mới có đường máu tốt).

11. Sử dụng insulin hợp lý trong điều trị đái tháo đường

– Đối với tiểu đường tuýp 1, việc điều trị bằng insulin là bắt buộc có tính chất liên tục, đều đặn và vĩnh viễn.

– Đối với tiểu đường tuýp 2, việc điều trị bằng insulin có thể là cần thiết một cách tạm thời hay vĩnh viễn.

– Khi điều trị bằng insulin bệnh nhân cần biết rõ mình dùng loại insulin nào, nhanh, trung bình, chậm. Số đơn vị của mỗi lần tiêm và số lần tiêm.

– Việc nắm vững kỹ thuật tiêm, kiểm soát đường huyết thường xuyên là hết sức cần thiết.

– Những hiểu biết về dấu hiệu hạ đường huyết cũng như xử lý và đề phòng hạ đường huyết là rất quan trọng.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :