Home / Sức Khỏe / Cơ thể người có bao nhiêu cơ bắp, gồm những loại nào?

Cơ thể người có bao nhiêu cơ bắp, gồm những loại nào?

/

Cơ bắp thịt là một tổ chức mềm trong cơ thể người, được cấu tạo bởi rất nhiều sợi. Cơ bắp thịt trong cơ thể người phân bố khá rộng. Vậy ơ thể người có bao nhiêu cơ bắp? Căn cứ vào kết cấu hình dạng trạng thái, vị trí và chức năng, người ta chia bắp thịt ra làm 3 loại: cơ nhẵn, cơ tim và cơ có thớ ngang.

Cơ thể người có bao nhiêu cơ bắp

Cơ nhẵn và cơ tim là tầng cơ mạc của nội tạng và tim, nó chịu sự chi phối của thần kinh tim. Nó có thể co lại và mở ra một cách có quy luật không chịu sự ảnh hưởng của ý chí nên còn gọi là cơ không tùy ý. Cơ thớ ngang chịu sự chi phối của thần kinh mình và tứ chi, chịu sự ảnh hưởng của ý chí nên còn gọi là cơ tùy ý. Cơ thớ ngang có thể chia thành cơ khung xương và cơ da. Cơ khung xương chủ yếu phân bố ở tứ chi, chúng có thể đi qua các khớp nối, hai đầu bám vào khung xương. Bắp thịt chủ yếu phân bố ở đầu, mặt và cổ. Không giống với cơ ở khung xương, chúng chỉ bám một đầu vào khung xương còn đầu kia bám vào da hoặc cả hai đầu đều bám vào da, có tác dụng làm chuyển động da mặt.

1. Bắp thịt ở phần đầu và mặt

Bắp thịt ở phần đầu và mặt chủ yếu gồm cơ biểu cảm và cơ nhai. Cơ biểu cảm nằm ở chính giữa mặt, chủ yếu có tác dụng kéo hoặc nhấc các vùng da mặt nằm trên mặt và xung quanh mặt từ đó tạo nên các trạng thái biểu cảm của khuôn mặt con người. Mỗi khi cơ co lại để thể hiện một trạng thái tình cảm, các sợi cơ sẽ cùng da hình thành nên một mặt phẳng vuông góc, từ đó hình thành một vết nhăn hoặc nhiều vết nhăn khiến phần mặt xuất hiện các loại đường nét. Phần mặt còn có một loại bắp thịt gọi là cơ nhai. Loại bắp thịt này không hề liên quan đến trạng thái tình cảm hay trạng thái của mặt, nhưng có hai loại cơ là cơ xương và cơ nhai lại có thể ảnh hưởng đến hình dáng của khuôn mặt.

Cơ mặt
Cơ mặt

1.1. Cơ biểu cảm

Cơ biểu cảm nằm ở nông dưới da thuộc về cơ da. Cơ da nằm ở trên bề mặt xương sọ và dừng lại tại phần da mặt, khi cơ này co lại có thể khiến da xuất hiện các loại nếp nhăn và vết lồi lõm có thể biểu đạt các trạng thái tình cảm vui sướng, giận dữ, đau khổ và mừng rỡ. Cơ biểu cảm chủ yếu nằm phân bố xung quanh mắt, tai mũi, miệng. Có loại cơ này nằm thành từng vòng tròn cạnh nhau, có loại lại xếp thành hình như trạng thái mũi tên sắp được bắn ra.

Cơ trán: bắt đầu từ da lông mày và kết thúc ở phần cơ gân hình cái mũ tạo thành động tác nhướng mày để biểu hiện các trạng thái kinh ngạc, sửng sốt đồng thời khiến da trán xuất hiện thành nếp nhăn.

Cơ nhăn lông mày: bắt đầu từ xương gò má và kết thúc ở phần giữa lông mày và mặt trong da. Cơ này giúp lông mày có thể chụm lại, khi co lại sẽ giúp thể hiện trạng thái đau đớn và khiến da giữa lông mày hình thành nên nếp nhăn.

Cơ hạ lông mày: bắt đầu từ đầu xương mũi, nối liền với da lông mày phía trên có thể tăng cường các cách biểu đạt trạng thái tình cảm do cơ nhăn lông mày tạo thành.

Cơ vòng ở mắt: cơ vòng ở mắt là một vòng cơ bẹt và mỏng có hình bầu dục nằm xung quanh khe mắt và hốc mắt, khi co lại cơ này sẽ giúp mắt đóng hoặc mở khiến mặt ngoài mắt và xuất hiện nếp nhăn.

Cơ mũi: một đầu bám vào xương mũi đầu kia bám vào da, khi hoạt động thường khiến cánh mũi phồng lên, sống mũi sản sinh nếp nhăn.

Cơ môi trên: có ba đầu phân biệt rõ, xuất phát từ gốc mắt trong, đường viền dưới của hốc mắt và xương gò má và kết thúc ở phần môi trên và phần da ở khe nằm giữa mũi và môi. Khi co lại sẽ nâng môi trên khiến khe này sâu thêm.

Cơ má: xuất phát từ xương má và kết thúc góc miệng đi qua môi dưới. Khi cơ này co lại có thể làm góc miệng nhếch lên sinh ra các trạng thái vui vê.

Cơ răng nanh: xuất phát từ hốc răng nanh nằm ở miệng trên trên chiếu chếch xuống góc miệng. Khi cơ này co lại sẽ làm góc miệng chuyển động để lộ răng nanh.

Cơ cười: là bắp thịt mỏng và hẹp. Xuất phát từ gân của cơ nhai nằm ở dưới lỗ tai và nằm ngang với lớp da trên góc miệng. Khi co lại, cơ này sẽ khiến góc miệng hướng ra ngoài hình thành trạng thái cười mỉm. Tuổi càng cao, lớp da ở đây sẽ hình thành nếp nhăn hẹp do bắp thịt nới lỏng.

Cơ vòng miệng: là một bộ phận cơ vòng quanh miệng bao lấy vòng trong của môi. Khi co lại cơ này sẽ khiến miệng khép nhẹ hoặc mím chặt, vòng ngoài co lại sẽ khiến môi nâng lên rõ.

Cơ vuông môi dưới: là tầng bắp thịt sâu, xuất phát từ đường biên giới ở xương miệng dưới và kết thúc ở góc miệng và da môi dưới. Khi co lại, cơ này sẽ khiến môi dưới hướng ra phía ngoài khiến khuôn mặt có cảm giác đau khổ và không vui.

Cơ tam giác: Nằm ở phía ngoài môi dưới, che phủ phần cơ vuông môi dưới nằm gắn với da góc miệng, khi co lại, cơ này sẽ kéo góc miệng xuống.

Cơ cằm: xuất phát từ mặt miệng dưới nằm sát với ngoài hàm răng và kết thúc ở phần da cằm. Khi cơ này co lại sẽ khiến da cằm được nâng lên và khiến môi nổi gồ lên về phía trước.

Cơ má: nằm ở giữa xương miệng trên và xương miệng dưới, nằm sát với phần vách niêm mạc má ở vòm họng. Khi cơ này co lại có thể khiến môi, phần má nằm sát với răng, giúp đỡ các hoạt động hút và nhai.

1.2. Cơ nhai

Cơ nhai bám vào phần riềm của xương miệng dưới và vào bề mặt của xương hàm dưới tạo ra vận động nhai nuốt đồng thời hỗ trợ việc phát âm.

Cơ thái dương: Xuất phát từ góc thái dương đi qua xương gò má xuống sâu dưới phần mặt và kết thúc ở điểm gồ lên của xương miệng dưới. Khi co lại cơ này sẽ nâng xương miệng dưới lên đóng chặt phần miệng hỗ trợ việc nhai nuốt.

Cơ nhai: Xuất phát từ phần cung thái dương và dừng lại ở phần miệng dưới. Khi co lại, cơ này có thể hạ xương miệng dưới từ đó đóng chặt xương miệng, áp chặt vào phần răng hàm trên khiến cả hàm răng có thể khép chặt với nhau.

1.3. Cơ phần cổ

Bộ phận cơ cổ khá phức tạp có thể phân chia thành các nhóm cơ cổ nông, cơ cổ sâu và nhóm cơ lưỡi trên, dưới. Ở đây chủ yếu giới thiệu nhóm cơ cổ nông.

Cơ cổ nông: Cơ cổ rộng thuộc nhóm cơ mặt. Nó nằm trong phần niêm mạc gân nông của phần cổ, xuất phát từ phần cơ đại ở phần niêm mạc ở bề mặt cơ tam giác ở phần vai. Cuối cùng dừng lại ở phần da mặt ở góc miệng. Khi co lại, cơ này sẽ kéo góc miệng hướng lên hoặc hạ xuống tạo ra tâm trạng buồn bã đồng thời khiến phần da ở phần cổ xuất hiện nếp nhăn.

Cơ lồi xương ngực: Được che phủ bởi cơ cổ rộng chếch về 2 bên của cổ. Xuất phát từ phần trước xương ngực và mặt trong xương quai xanh và hướng lên phía trên ở phía sau và kết thúc ở phần nổi gồ lên ở phần xương thái dương từ đó tạo ra động tác quay đầu và nghểnh cổ.

2. Cơ xương vai, xương cánh tay, xương bàn tay

Nhóm cơ ở vai, cánh tay và bàn tay thuộc nhóm cơ tùy ý. Nó được tạo bởi rất nhiều nhóm cơ, ở đây chỉ giới thiệu các nhóm cơ chủ yếu ở phần vai, cánh tay và phần cổ tay.

Cơ vai
Cơ vai

2.1. Phần cơ vai

Phần cơ vai do các nhóm cơ chính là cơ tam giác,cơ xiên và cơ vai rộng tạo thành. Cơ vai thông qua việc co lại của các cơ ở các vị trí khác nhau tạo nên động tác gật đầu, xoay vai và cánh tay.

Cơ tam giác: là 1 loại cơ có hình tam giác nằm ở phần vai, nó khống chế hoạt động của khớp vai và tạo ra chuyển động nâng hạ cánh tay.

Cơ xiên: nằm ở tầng nông của phần cơ miệng và cơ trên vai, tạo nên cơ rộng hình tam giác mỗi bên phải và bên trái đều có một nhóm cơ, khi hợp lại tạo thành 1 hình xiên. Nó có thể khiến bả vai vận động và tham gia vào chuyển động của phần đầu.

Cơ xương rộng: nằm ở nửa phần sau của vai và mặt ngoài phía sau của ngực, nó có thể khống chế động tác đong đưa của cánh tay.

2.2. Nhóm cơ cánh tay

Có rất nhiều nhóm cơ cánh tay và được cấu tạo bởi cơ tam giác, cơ nhị đầu, cơ tam đầu cánh tay. Nhóm cơ xoay chuyển phía trước, nhóm cơ xoay chuyển phía sau, nhóm cơ cong, nhóm cơ duỗi.

Cơ cánh tay
Cơ cánh tay

Cơ nhị đầu cánh tay: nằm ở phía trước cánh tay trên, khi hoạt động tạo ra động tác co gập, xoay cùi chỏ và vai trước.

Cơ tam đầu cánh tay: nằm ở phía sau cánh tay trên, khi hoạt động có thể khiến khớp cùi chỏ vươn ra, khống chế hoạt động của phần trước sau vai.

Nhóm cơ xoay chuyển phía trước: là một nhóm cơ nằm ở cánh tay trước, khi hoạt động có thể làm xương cổ tay quay tròn ra phía trước lòng bàn tay hướng xuống.

Nhóm cơ xoay chuyển phía sau: là nhóm cơ nằm ở cánh tay trước khi hoạt động sẽ khiến xương cổ tay xoay về phía sau, lòng bàn tay ngửa lên.

Nhóm cơ cong: là một tổ chức cơ ở mặt trong cánh tay trước, khi co lại, cơ này sẽ tạo ra tác dụng cong cổ tay, cong ngón tay.

Nhóm cơ duỗi: là một tổ chức cơ ở mặt ngoài cánh tay trước khi hoạt động cơ này sẽ tạo ra động tác duỗi cổ tay và duỗi ngón tay.

2.3. Cơ phần bàn tay

Cơ phần bàn tay có thể phân thành 3 tổ chức cơ mặt trong, mặt ngoài và mặt giữa.

Nhóm cơ mặt trong: còn có tên thông dụng là tiểu ngư tế có tác dụng vận động ngón tay út.

Nhóm cơ giữa: chủ yếu vận động ngón trỏ, ngón giữa và ngón đeo nhẫn.

Nhóm cơ ngoài: còn có tên thông dụng là đại ngư tế, chủ yếu vận động ngón cái.

Ngoài ra, giữa các khớp nối ở bộ phận bàn tay còn có rất nhiều cơ nhỏ và ngắn, chúng có tác dụng giúp cổ tay hoạt động linh hoạt hơn.

2.4. Cơ phần chân

Cơ ở phần chân bao gồm cơ hông, cơ đùi, cơ cẳng chân và cơ bàn chân. Cơ ở phần chân so với cơ ở cánh tay to hơn, lớn hơn, vì thế chúng có liên quan đến việc duy trì tư thế thẳng đứng nâng đỡ trọng lượng cơ thể và vận động.

Cơ hông: là nhóm cơ tạo vận động cho khớp hông, chia ra làm 2 loại cơ co và cơ duỗi.

+ Cơ co: nằm ở phía trước khớp hông có thể khiến phần đùi quay ra ngoài và gấp khúc.

+ Cơ duỗi: nằm ở phía sau khớp hông, có thể khiến phần đùi vươn ra ngoài, quay ra ngoài và vươn ra phía sau.

Cơ đùi: nằm ở quanh xương đùi có thể chia ra làm các nhóm cơ phía trước, nhóm cơ phía sau và nhóm cơ mặt trong.

+ Nhóm cơ phía trước: nằm ở đằng trước xương đùi chủ yếu là cơ đùi 4 đầu. Cơ đùi 4 đầu là cơ duỗi rất mạnh của khớp gối.

+ Nhóm cơ phía sau: nằm ở đằng sau đùi như cơ đùi 2 đầu và cơ bán gân. Có thể co cẳng chân và duỗi đùi về phía sau.

+ Nhóm cơ mặt trong: nằm ở mặt trong phần đùi chủ yếu có tác dụng co đùi lại

Cơ cẳng chân: có thể chia ra làm nhóm cơ phía trước, nhóm cơ mặt ngoài và nhóm cơ sau.

+ Nhóm cơ phía trước: nằm ở xương ống chân và phía trước xương mác và niêm mạc xương, cơ này giúp co lại xương bàn chân.

+ Nhóm cơ mặt ngoài: bám vào mặt ngoài xương mác là nhóm cơ giúp xương bàn chân xoay ra ngoài.

+ Nhóm cơ sau: nằm ở xương ống chân, đằng sau xương mác và niêm mạc xương bao gồm cơ gập gối, cơ gập mắt cá chân và cơ gập ngón chân. Các cơ gấp chủ yếu có cơ tam đầu cẳng chân, cơ này do xương mác và cơ cá thờn bơn tạo thành. Cơ xương mác bắt nguồn từ mặt trong và mặt ngoài xương đùi, cơ cá thờn bơn lại xuất phát từ phía sau đoạn đầu xương đùi, 2 cơ này hợp lại tạo thành một búi cơ thô to ở bắp chân và khớp. Cơ tam đầu cẳng chân là một cơ cong mạnh của khớp mắt cá chân. Cơ này có tác dụng vô cùng quan trọng đối với việc đi lại, chạy nhảy và duy trì tư thế đứng của cơ thể người.

Cơ bàn chân: Chia ra cơ mu và cơ lòng bàn chân, chủ yếu nằm ở lòng bàn chân, phân bố giống như lòng bàn tay có tác dụng vận động mắt cá chân và duy trì khuôn chân.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :