Home / Sức Khỏe / Chế độ dinh dưỡng cho người tiểu đường đủ 4 nhóm chất quan trọng

Chế độ dinh dưỡng cho người tiểu đường đủ 4 nhóm chất quan trọng

/

Bệnh đái đường cần chữa trị lâu dài, thực hành chủ yếu gồm 3 mặt: ăn uống, hoạt động thể lực và chữa bằng thuốc. Trong đó, trị liệu bằng ăn uống là cơ bản. Bệnh đái đường Đông y gọi là bệnh Tiêu khát. 

chế độ dinh dưỡng cho người tiểu đường

Hơn một nửa bệnh chứng liệt vào chứng 3 nhiều: ăn nhiều, đái nhiều, uống nhiều. Quan hệ giữa bệnh đái đường và ăn uống liên hệ vô cùng mật thiết. Vô luận bệnh thuộc loại hình nào, đầu tiên phải áp dụng chữa trị bằng ăn uống, nếu người bệnh nhẹ không cần dùng thuốc, thông qua ăn uống điều chỉnh cũng có thể khống chế bệnh; người bệnh nặng ngoài chữa trị bằng thuốc, phối hợp ăn uống trị liệu là mấu chốt góp phần vào hiệu quả chữa trị bệnh này.

1. Chế độ dinh dưỡng cho người tiểu đường

Nguyên tố hóa học có tác dụng quan trọng đối với việc duy trì sự trao đổi chất, thay thế tế bào trong con người hợp thành vật sống và công năng sự sống. Nguyên tố vi lượng hoặc nguyên tố hàm lượng cao có thể ảnh hưởng đến công năng tuyến nội tiết.

Người bị bệnh đái đường do bị trở ngại trong việc trao đổi chất tạo nên sự tăng giảm của các nguyên tố vi lượng, thiếu một nguyên tố vi lượng nào đó sẽ ảnh hưởng đến tuyến tụy. Thiếu nguyên tố Mangan làm cho kết cấu tế bào tuyến tụy rối loạn, hạt tế bào Beta giảm thiếu. Các nguyên tố hóa học được hấp thụ từ thức ăn rất cần thiết. 

Dưới đây giới thiệu một số nguyên tố vi lượng cần thiết trong chế độ dinh dưỡng cho người tiểu đường:

1.1. Kẽm

Thí nghiệm trên chuột chất Insulin trong huyết dịch của chuột con thiếu kẽm thấp hơn so với nhóm đối chứng. Nghiên cứu chứng tỏ tế bào Alpha beta của chuột mẹ thiếu kẽm đều giảm chất Insulin, khiến đường huyết cao. 

Kẽm là một phần làm nên mạng xúc tác tất cả kim loại trong tuyến tụy. Lấy thức ăn thiếu kẽm nuôi thỏ bạch thì xuất hiện tụy khô héo, tế bào tuyến tụy cũng biến đổi. Kẽm trong máu người bệnh đái đường giảm rõ rệt. 

Kẽm với chất Insulin có quan hệ mật thiết với nhau. Kẽm tiêu hao khi tiết ra Insulin, kẽm trong cơ thể bị thiếu có thể dẫn tới hạ thấp công năng chịu đường, hạt tế bào của Insulin giảm. Người bị bệnh đái đường do đái nhiều, lượng kẽm hạ thấp, kẽm thay đổi ảnh hưởng hoạt tính chất Oxy hóa xúc tác phẩm. 

Thêm kẽm sẽ tăng thêm hiệu quả điều trị bệnh đái đường. Khi dùng thuốc thấy không có hiệu quả phải nghĩ đến sự thiếu hụt các nguyên tố vi lượng để bổ sung bằng các thức ăn có các nguyên tố đó, ví như gạo lứt có nhiều kẽm, có tác dụng rõ rệt đối với tuyến tụy của người bị đái đường. 

Các thức ăn khác như đậu phụ chứa 8 mg/1kg, mộc nhĩ 1,81mg/1kg, đậu nành 59mg/1 kg, rau cải 48mg/1kg, ớt xanh 47,17mg/1 kg. Ngoài ra thịt nạc, gan, trứng, đậu phộng, hạt đào, táo tây cũng chứa nhiều kẽm; các vị thuốc như Câu kỷ, Thục địa, Nhân sâm cũng có chứa kẽm. 

Thông tin lâm sàng 42 người bệnh đái đường, uống thuốc mà không giảm, uống thuốc hạ đường 7,5 – 15 mg/ngày chia làm 3 lần. Sau 5 ngày tăng thêm viên kẽm 50 – 100 mg/ngày chia 3 lần, uống 30 ngày, lượng đường trong máu giảm rõ rệt so với người chỉ uống thuốc hạ đường.

1.2. Crôm

Nghiên cứu cho thấy, Crôm trong máu người đái đường thấp hơn so với người bình thường; cũng có nghiên cứu cho rằng Crom ở người bệnh đái đường và người bình thường như nhau.

Crom là nguyên tố vi lượng quan trọng trong cơ thể, tập hợp chất, hữu cơ Crom hóa trị 3, hình thành với axit Nicotinic, axit Amin v.v… còn gọi là phân tử chịu đường Glucose, có tác dụng quan trọng đối với việc thay thế đường cho nhau, thông qua sự hợp tác của chất Insulin, lưu huỳnh, trên chuỗi axit cùng với gốc lưu huỳnh. 

Insulin trên tế bào mô hình thành chuỗi 2 lưu huỳnh, từ đó thúc đẩy chất Insulin phát huy tác dụng và chất kích thích thoát khỏi chất xúc tác Hydro tăng sử dụng đường. Cũng có tác giả cho rằng Crom hóa trị 3, thông qua hợp chất dưỡng sinh hình thành với Insulin có tác dụng đối với việc thay thế đường. 

Thiếu Crôm có thể dẫn đến giảm thấp hoạt tính Insulin, thậm chí ảnh hưởng khả năng tiết Insulin của tuyến tụy. Crôm không những có quan hệ với sự thay thế đường mà cũng có quan hệ mật thiết với sự thay thế chất béo và cholesterol. 

Thiếu Crôm có thể làm cho bị bệnh xơ cứng động mạch. Người bị bệnh đái đường sau khi ăn Khổ kiều mạch chứa Crôm, đường trong nước tiểu đều hạ thấp xuống. Nếu người bị bệnh nhẹ ăn Khổ kiều mạch cũng khống chế được bệnh tình.

Ngoài ra người bị bệnh đái đường và người béo cao huyết áp sau khi ăn Khổ kiều mạch Cholesterol, Glycerin đểu hạ rõ rệt. Các thức ăn có chứa nhiều Crom như bí ngô, củ cải, đậu Hòa lan…

1.3. Mangan

Các công trình nghiên cứu cho biết Mangan của người bị bệnh đái đường thấp so với người bình thường, lại có người cho rằng Mangan trong người bệnh đái đường không hề hạ thấp.

Mangan đối với việc phát sinh bệnh đái đường cũng có quan hệ nhất định. Chất xúc tác Cacboxi của A.Axeton và xúc tác khác có liên quan đến việc thay thế đường, đều cần đến Mangan. 

Thiếu Mangan sẽ làm cho tuyến tụy của động vật không phát triển toàn diện, số lượng Insulin và tế bào Bêta giảm xuống, tỷ lệ sử dụng đường bị yếu. Các thực phẩm có chứa nhiều Mangan như chè, hạt dẻ, hạt đào, tiểu mạch, đại mạch, kiều mạch, hắc mạch, đậu cove, cải trắng, đậu ván…

1.4. Selen

Một tác giả người Nhật trong khi nghiên cứu động vật lần đầu tiên phát hiện nguyên tố vi lượng Selen, nó thúc đẩy công năng thu nhận đường của tế bào, có hoạt tính sinh lý điều tiết thay thế đường, tương đồng với Insulin. Vì vậy người bị bệnh đái đường nên ăn nhiều thức ăn có Selen như tôm, cá, gan động vật, tim, thịt bò, măng, nấm, gừng, tỏi tây…

2. Cách tính hàm lượng dinh dưỡng cần thiết mỗi ngày 

Do thể chất, giới tính, tuổi tác và lao động của mỗi người không giống nhau, nên lượng Calo cần dùng cho mỗi người cũng khác nhau.

Công thức tính cân nặng tiêu chuẩn:

Cách tính thô: Chiều cao cơ thể (cm) – 105 = trọng lượng cơ thể (kg)

Cách tính chuẩn: [Chiều cao cơ thể (cm) – 100] x 0,9 = trọng lượng cơ thể (kg)

Hai công thức này tính cho nam thanh niên. Nếu là nữ thì khi đo giảm đi 2cm.

Cách tính toán phân biệt nam nữ:

Nam: 0,36 x chiều cao cơ thể (cm) = thể trọng tiêu chuẩn (kg)

Nữ: 0,34 x chiều cao cơ thể (cm) = thể trọng tiêu chuẩn (kg)

Thể trọng tiêu chuẩn nằm trong phạm vi 20% là bình thường, dưới 20% là hơi gầy, quá 20% là mập, quá 40% là quá mập.

3. Ước tính lượng calo cần nạp theo độ tuổi

Người bị bệnh tiểu đường mỗi kg cơ thể cần một nhiệt lượng cần thiết, 15 tuổi trở xuống, nhi đồng đang lớn, nhiệt lượng so với yêu cầu bình thường có nhiều hơn.

– Từ 0 đến 4 tuổi, mỗi kg thể trọng cần 50.000 Calo.

– Từ 5 đến 9 tuổi, mỗi kg thể trọng cần 40.000 – 50.000 Calo.

– Từ 10 đến 15 tuổi, mỗi kg thể trọng cần 35.000 – 40.000 Calo.

Với người bệnh tiêu hao nhiều năng lượng, nên có thể tăng lên một chút.

4. Cách tính dinh dưỡng trong thức ăn

Tùy theo tình hình nặng nhẹ của bệnh, thông thường có 2 phương pháp tính toán.

Đường, protid và chất béo là 3 dinh dưỡng tố quan trọng trong thức ăn. Sau khi xác định tổng nhiệt lượng phân phối tùy theo nhu cầu như sau:

Lượng đường chiếm tới 55 – 60% tổng nhiệt lượng, hạn chế chất protid, nếu ăn nhiều làm cho sự lọc của tiểu cầu thận quá tải, dễ phát sinh bệnh thận đái đường. Mỗi kg thể trọng cần 0,8 gam protid. Chất béo mỗi ngày cần không quá 30% tổng nhiệt lượng.

Lượng thức ăn chính nhờ gạo hoặc mì của người nghỉ ngơi từ 200 – 250 gam mỗi ngày, người lao động nhẹ từ 250 – 300 gam, người lao động trung bình từ 300 – 400 gam, người lao động nặng từ 400 – 500 gam chất protid 30 – 40 gam, chất béo 50 – 60 gam.

Người béo bị bệnh đái đường cần khống chế nhiệt lượng để hạ thấp chất đường, chất béo, chất protid, tăng cường hoạt động, cố gắng giảm nhẹ trọng lượng cơ thể. Mỗi ngày ăn chính 200 – 300 gam, ăn thêm protid 30 – 60 gam, chất béo 20 – 30 gam, ăn tăng thêm rau xanh. Nhi đồng và phụ nữ có thai, phụ nữ trong thời kỳ cho con bú bị đái đường: bột mỗi ngày là 300 – 400 gam, dặm 50 – 80 gam, chất béo 60 gam.

Bảng tham khảo nhiệt lượng cần thiết mỗi ngày của người đái tháo đường:

Đối tượngNgười mập (Mỗi kg thể trọng)Người bình thường (Mỗi kg thể trọng)Người gầy gò (Mỗi kg thể trọng)
Người nghỉ ngơi515 – 2020 – 25
Lao động nhẹ và phụ nữ chủ gia đình20 – 25 25 – 3030 – 35 
Lao động trí óc20 – 25 3035
Lao động hạng trung30 3540 
Lao động nặng35 4040 – 50
Phụ nữ mang thai 30 3541
Đang trong thời kỳ cho con bú30 – 3535 – 4040 – 45

Cách tính toán

Ví dụ nam 40 tuổi, chiều cao 168cm, thể trọng thực tế 60 kg. Căn cứ vào công thức tính toán thể trọng thô, tiêu chuẩn thể trọng ngày: 168 – 105 = 63 kg, nhiệt lượng cần có mỗi ngày là 63 x 30 = 1.890 Calo. Lượng chất đường cho mỗi ngày là 60% nhiệt lượng, tính ra được là 1.230 Calo và ứng với 1230/4 = 308 gam chất protid tính toán cho mỗi ngày là 63 gam. 

Lượng chất béo tính toán như sau:

Chất báo (gam) = (Tổng nhiệt lượng – (Protein + đường) x 4)/9 = 9 (1.890 – 1.484)/9 = 45 gam (chiếm 22% tổng nhiệt lượng). Lượng đạm là 63 gam, chất bột là 308 gam, chất béo là 45 gam.

Phân phối tổng nhiệt lượng trong một ngày, buổi sáng 1/5, trưa và tối 2/5. Sau khi đã ăn theo công thức, nếu thấy đói cần ăn thêm rau xanh là chính, vừa no bụng vừa làm chậm hấp thụ đường ở ruột, từ đó làm cho lượng đường trong máu hạ xuống, làm tăng khả năng trị liệu. Tuyệt đối không lấy việc làm tăng lượng bằng chất béo để giảm đói, cũng không nên ăn tùy tiện hoa quả và các thức ăn khác.

5. Cách tính đổi tương đương giữa giá trị dinh dưỡng và thức ăn

Trị liệu bằng ăn uống của người bị bệnh đái đường chiếm một vị trí quan trọng cần dựa vào thói quen và sở thích ăn uống hằng ngày của người bệnh để điều chỉnh cho thích hợp. 

Tỷ lệ tương đương giữa các thức ăn như sau:

100 gam thịt lợn nạc tương đương với: 4 cái trứng gà/ 250g đậu phụ/ 100g cá hoa vàng/ 90g thịt gà/ 100g thịt vịt/ 1,5g sữa bò.

100 gam đậu phụ tương đương với: 12,5g đậu nành khô/ 120g đậu phụ khô/ 150g đậu tương khô.

100 gam sữa bò tương đương với: 120g đậu tương.

6. Các loại thực phẩm nên ăn và nên kiêng cho người tiểu đường

6.1. Hoa quả

Trong hoa quả có lượng đường cao, tiêu hóa hấp thụ nhanh, người bệnh không nên dùng nhiều, nên ăn nên chọn các loại hoa quả có lượng đường thấp và phải tính toán lượng đường. 

Nước dừa, dưa hấu, dưa bạch lan chứa 4 – 5% đường; phan thạch lựu, lê, chanh, đào, mận, anh đào, mít, dưa bở, dưa thơm chứa 8 – 10%; táo, hạnh, bưởi, nho, oliu, quýt, cam chứa 10 – 13% đường; hồng, vải, thạch lựu, quế viên, chuối chứa 14 – 16% đường; đại táo, mía, sơn lý hồng chứa 20 – 23% đường. 

Trái cây khô chứa lượng đường nhiều hơn, hạnh khô chứa 60%, hồng khô, quế viên 60 – 70%. Không nên mỗi bữa ăn đều dùng trái cây.

Trái cây ngoài đường Fructose, còn có đường Glucose, đường Saccarozơ, đường bán nhủ, (đường trong sữa)… Sự thay đổi lẫn nhau giữa các loại đường phải dựa vào chất Insulin, người bị bệnh đái đường nên chọn trái cây có lượng Glucose ít. Dưa hấu, thảo mai, phan thạch lựu, tỳ bà, táo tây chứa lượng đường Glucose tương đối thấp.

6.2. Hạn chế ăn gạo

Để giảm nhẹ gánh vác cho tế bào tuyến tụy, đối với người béo, gạo mỗi ngày ăn 150 – 250 gam, nếu thấy đói ăn thêm nhiều rau xanh bổ sung. Đối với người gầy ăn mỗi ngày từ 200 – 250 gam gạo, người thể lực gầy hơn có thể ăn từ 250 – 350 gam, người thể lực bậc trung, người lao động 300 – 400 gam. Người lao động nặng ăn 400 – 500 gam. Khống chế ăn uống có thể chia ra nhiều bữa.

6.3. Bổ sung chất protid

Người bệnh đái đường do cơ thể bị rối loạn chuyển hóa, chất Protein bị phân giải quá nhanh, xảy ra tình trạng thiếu lượng Nitơ (lượng Nitơ hấp thụ vào ít, thải ra nhiều). Vì vậy trong thức ăn cần bổ sung các thứ giàu chất protid như sữa, trứng, cá, thịt nạc, các loại đậu… Mỗi ngày mỗi cân thể trọng cần hấp thụ 0,8 gam protid là được. 

Mặt khác, kết quả nghiên cứu những năm gần đây cho thấy lượng protid quá nhiều đối với bệnh đái đường cũng không tốt. Nếu lượng protid quá cao có thể dẫn tới tăng áp lực của tiểu cầu thận dễ sinh bệnh “thận đái đường”.

6.4. Ăn nhiều rau xanh

Dùng các loại rau chứa ít đường như rau cần, cải bắp, rau hẹ, cải dầu, cà chua, bí đỏ, dưa chuột, bầu, mướp… Ngoài ra các thứ quả như quýt chua, đu đủ hơi chín, cam, mận, thạch lựu, anh đào nên dùng với một lượng thích hợp.

6.5. Bổ sung đủ các khoáng chất

Đường trong bệnh đái đường thải ra ngoài bằng nước tiểu, đồng thời cũng làm hao tổn các chất Calcium, Photpho, Mangan. Vì vậy, nên dùng các thực phẩm như tảo, tôm, mộc nhĩ, các chế phẩm của đậu, những thực phẩm nào chứa nhiều Canxi, Photpho, Mangan. 

Người già mắc bệnh đái đường dẫn đến trong máu thiếu kẽm, làm trở ngại chức năng miễn dịch, ảnh hưởng làm lành mặt ngoài các vết thương. Thịt nạc, thịt gia cầm, cá và các loại đậu chứa nhiều kẽm. 

Crôm và đường trong cơ thể liên hệ mật thiết với nhau, thiếu Crôm dẫn tới việc chuyển hóa đường hỗn loạn, đường và chất béo trong mạch máu tăng cao làm xơ cứng động mạch. Có thể ăn hoa màu và một số thức ăn giàu Crôm như gan, thận (ăn ít).

6.6. Ăn mỡ ít

Do mỡ có quá nhiều Calo, ăn lượng mỡ nhiều có thể dẫn đến bệnh xơ cứng động mạch, lượng dầu mỡ hàng ngày cần khoảng 50 gam, nên dùng các loại dầu thực vật, dầu cải, tránh dùng mỡ động vật và dầu dừa.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :