Home / Sức Khỏe / Chế độ ăn uống cho người sỏi thận: nên ăn & kiêng gì

Chế độ ăn uống cho người sỏi thận: nên ăn & kiêng gì

/

Chế độ dinh dưỡng cho người mắc bệnh sỏi thận hàng ngày nên ăn nhiều thực phẩm giàu canxi, rau màu xanh đậm, giảm muối, đồ ngọt.

chế độ ăn uống cho người bệnh thận

1. Vai trò của thận với cơ thể

Thận chỉ nhỏ bằng nắm tay một em bé, hình hạt đậu, màu hồng nhạt, nặng khoảng 115 gam. Thận được cấu tạo từ hàng triệu những tiểu cầu thận tinh vi, nhỏ bé mà mỗi ngày có tới gần hai trăm lít chất lỏng với đủ các thành phần hoá chất lọc qua và khoảng 1,5 lít nước tiểu được thận bài tiết ra ngoài. 

Tuy nhỏ bé nhưng thận có những chức năng rất quan trọng. Nhiệm vụ cơ bản của thận là điều hoà toàn thể khối chất lỏng trong cơ thể, cân bằng nồng độ acid/kiềm, sa thải các cặn bã như urea, uric acid, creatinine, ammonia, giữ lại chất dinh dưỡng, đường gluco, đạm, hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. Nếu chức năng này ngưng khoảng hai tuần là con người có thể chết. 

Thận tiết ra những kích thích tố để kiểm soát sự xuất nhập của nước, khoáng sodium và photpho. Thận giúp giữ huyết áp bình thường, góp phần vào việc cấu tạo hồng cầu. Thận cũng liên quan tới việc sử dụng khoảng calcium và phosphore trong tiến trình tạo xương. Thận còn liên hệ tới sự cấu tạo hồng cầu ở tủy sống với kích tố erythropoietin do thận tiết ra.

2. Chế độ ăn uống cho người mắc bệnh thận

2.1. Chế độ ăn uống cho người suy thận

Cũng như các bộ phận khác trong cơ thể, thận có thể bị suy yếu hư hao vì nhiều lý do. Chức năng bài tiết của thận giảm một cách tự nhiên theo nhịp độ già hoá của cơ thể. Đến tuổi 70 thì số tiểu cầu thận giảm, lượng máu qua thận cũng bớt đi và thận đã có một vài khó khăn đáp ứng với sự thay đổi hoá chất trong máu. 

Bình thường, thận có thể tiếp tục nhiệm vụ bài tiết dù chỉ còn lại vài chục phần trăm tiểu cầu lọc. Các tiểu cầu này sẽ lớn lên và làm việc gấp đôi gấp ba để bù đắp cho các tiểu cầu đã bị hư hao.

Thận có thể bị viêm do các tác nhân hóa học, dược phẩm, vật lý hay tác nhân gây nhiễm. Bệnh ngoài thận như tiểu đường, cao huyết áp, hoặc một cản trở lưu thông máu tới thận cũng đủ để làm thận không làm việc được. Hậu quả của suy thận là sự ứ đọng các chất cặn bã trong máu, nhất là loại urea. Thận suy từ từ. 

Lúc đầu hầu như không có dấu hiệu. Rồi một số bệnh nhân cảm thấy hơi mỏi mệt, hay đi đái đêm vì thận không còn khả năng cô đọng nước tiểu, bàn chân hơi sưng, huyết áp hơi lên cao, hồng cầu hơi giảm. Khi bệnh trầm trọng thì các biến chứng cũng leo thang: huyết áp cao vọt, nhịp tim loạn xạ, thiếu hồng cầu, xương yếu dễ gãy, xuất huyết bao tử. 

Khoáng sodium và potassium bị giữ lại trong cơ thể. Nhiều sodium quá dẫn đến cao huyết áp, sưng phù chân. Potassium cao làm nhịp tim đập loạn. Bệnh nhân ói mửa, sụt cân, trở nên suy yếu dần nếu không được chữa trị kịp thời. Khi đã đến giai đoạn cuối cùng của thận suy thì chỉ còn có cách thay thận hoặc thẩm tách huyết (hemodialysis) mà một trong nhiều công dụng là để loại bỏ potassium và urea quá cao trong máu.

Dinh dưỡng khi bị suy thận rất quan trọng và tập trung vào các mục đích sau đây:

  • Tránh cho thận khỏi làm việc quá sức.
  • Tránh suy dinh dưỡng mà vẫn giữ sức nặng bình thường của cơ thể.
  • Tránh mất thăng bằng khoáng sodium và potassium.
  • Tránh máu nhiễm hoá chất bã ure.

Cặn bã của đạm chất trong chuyển hoá là urea mà thận phải loại ra ngoài. Ăn càng nhiều đạm chất thì cặn bã urea càng cao và thận càng phải làm việc khó nhọc hơn để bài tiết ra ngoài. Tiêu thụ chất đạm tăng hay giảm tùy theo tình trạng suy thận. Với suy thận kinh niên thì có việc hạn chế chất đạm trong phần ăn. Chất đạm cho người bệnh phải có phẩm chất tốt, với đủ các loại amino acid. Thịt động vật hội đủ điều kiện này hơn chất đạm từ thực vật. Những người bệnh vẫn cần một số calories căn bản, nên khi giảm đạm, ta có thể tăng carbohydrates hoặc chất béo loại bất bão hoà.

2.1.1. Những thực phẩm nên dùng đối với người bị suy thận

– Chất bột đường: Các loại đường, mật ong, khoai sọ, khoai lang, miến dong, bột sắn dây.

– Chất béo: Dầu, mỡ, bơ. Nên sử dụng 35 – 40g/ngày, 2/3 là thực vật.

– Chất đạm: Thịt nạc, cá 50g/ngày; Sữa 100200ml/ngày; trứng gà, vịt: 2 – 3 quả/ tuần.

– Các loại rau quả: Ăn loại ít đạm, nên dùng loại ngọt, hàm lượng kali thấp.

2.1.2. Những thực phẩm không nên dùng hoặc hạn chế

– Chất bột đường: Hạn chế gạo, mì. Chỉ nên ăn dưới 150g/ngày.

– Chất béo: Ăn ít mỡ, tránh các loại phủ tạng động vật.

– Chất đạm: Không nên ăn đậu, đỗ, lạc, vừng.

– Các loại rau quả: Tránh các loại quả có vị chua; rau ngót, mồng tơi, đay.

2.1.3. Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày

– Gạo tẻ: 50 – 100g.

– Khoai sọ, khoai lang: 200 – 300g.

– Miến dong: 100 – 120g.

– Bột sắn, bột đao: 20g.

– Đường kính: 30 – 50g.

– Sữa tươi: 100 – 200ml.

– Thịt nạc hoặc cá: 50g.

– Trứng vịt, gà 1 quả, tuần ăn: 2 – 3 lần.

– Dầu ăn: 20 – 30g.

– Rau: 200 – 300g.

– Quả chín: 200 – 300g.

2.1.4. Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần ăn

– Năng lượng: 1600 – 1700kcal.

– Tổng số đạm: 27 – 293g.

+ Đạm có nguồn gốc động vật: 16 – 18g.

+ Đạm có nguồn gốc thực vật: 11 – 13g.

– Tổng số chất béo: 40 – 45g. 

+ Chất béo động vật: 10 – 12g.

+ Chất béo thực vật: 30 – 32g.

Chú ý ăn nhạt hoàn toàn, hết phù có thể ăn 2 thìa cà phê nước mắm mỗi ngày.

2.2. Chế độ ăn uống cho người sỏi thận

Theo thống kê, trung bình có 10% nam giới và 3% nữ giới đều bị sỏi thận ít nhất một lần trong đời. Có bốn loại sỏi thận tuỳ theo hoá chất cấu tạo sạn. Mặc dù triệu chứng các loại sạn giống nhau nhưng nguyên nhân cấu tạo cũng như sự điều trị đều khác nhau. Thông thường nhất là sạn với calcium oxalate hoặc phosphate với tỷ lệ 90% và thường thấy ở nam giới vào tuổi trung niên. Các loại khác là sỏi uric acid, magnesium ammonium sulfate và cystine. 

Khi nồng độ các chất này trong nước tiểu lên cao thì chúng kết tinh thành sỏi trong thận hoặc ở ống dẫn nước tiểu. Nguyên nhân của sự kết tinh cũng như làm sao ngăn ngừa sự kết tinh đều chưa được làm sáng tỏ mặc dù đã có nhiều nghiên cứu khoa học. 

Nhưng điều chắc chắn là sỏi tái kết tinh nhiều lần trong cuộc đời người bệnh. Một số yếu tố có thể đưa tới sỏi thận như thực phẩm có ít calcium, nhiều phosphore, nhiều potassium, nhiều chất đạm động vật, thiếu sinh tố A, nhiễm trùng hoặc trở ngại lưu thông đường tiểu tiện, không uống nước đầy đủ, nằm bất động quá lâu, cao calcium và di truyền. Sạn âm thầm kết tinh. Sạn nhỏ có thể theo nước tiểu ra ngoài. 

Khi sỏi di chuyển là lúc người bệnh thấy đau ở ngang thắt lưng, chạy xuống bẹn và đùi và đi tiểu ra máu. Dù sạn lớn hay nhỏ, bệnh nhân đều được khuyến cáo là nên tiêu thụ một lượng nước lớn mỗi ngày (1,5 đến 2 lít mỗi ngày) để có 2 lít nước tiểu, ngõ hầu tránh hoá chất kết tinh dẫn tới sỏi.

2.3. Chế độ ăn uống cho người sỏi Calci

Chiếm 80% trong tất cả các loại sỏi thận, bao gồm sỏi oxalat calci và phosphat calci. Thường ở những bệnh nhân này có tỉnh trạng tăng hàm lượng calci trong nước tiểu (trên 4mg/kg/cân nặng/ngày); tăng oxalat trong nước tiểu (trên 0,7mg/kg/ngày) và nồng độ citrat trong nước tiểu giảm thấp. 

Vì vậy tiết chế dinh dưỡng được khuyến cáo như sau: Khi hàm lượng calci tăng trong nước tiểu thì nên tính toán lượng calci đưa vào cơ thể ở mức 500mg/ngày và đạm ở mức 1g/kg/ngày, uống nhiều nước, tránh ăn quá nhiều muối (không ăn quá 10g muối mỗi ngày). 

Giảm các thực phẩm làm tăng oxalate trong nước tiểu như: dâu tây, chocolate, trà, rau dền, cám của lúa mì, củ cải đường, và hạt dẻ. Nếu có tình trạng cit rate niệu thấp, người bệnh sẽ được bác sĩ cho uống thêm citrat kali mỗi ngày. Ngoài ra vitamin C không nên dùng với liều trên 1000mg/ngày.

2.4. Chế độ ăn uống cho người sỏi Acid Uric

Sỏi này thường gặp ở những người ít uống nước, hoặc dùng thuốc aspirin, probenecid kéo dài, hoặc ăn nhiều những thực phẩm có tính acid làm cho nước tiểu tăng tính acid là điều kiện thuận lợi để tạo sỏi. Trong tiết chế dinh dưỡng người bệnh cần uống nhiều nước để duy trì lượng nước tiểu hàng ngày trên 2 lít và ăn các thực phẩm có tính kiềm như:

– Sữa và các chế phẩm từ sữa.

– Dừa, hạt dẻ, quả hạnh nhân.

– Tất cả các loại rau trừ bắp, đậu lăng.

– Tất cả các loại trái cây, trừ quả việt quất, quả mận khô, nho khô.

– Mật và nước rỉ đường.

2.5. Chế độ ăn uống cho người sỏi Cystin

Sỏi này được hình thành do sự sai lệch bẩm sinh về chuyển vận acid amin dẫn đến hậu quả tiểu ra cystine. Tiết chế dinh dưỡng bao gồm uống trên 4 lít nước/ngày và ăn các thực phẩm có tính kiềm như đã kể trên.

2.6. Chế độ ăn uống cho người sỏi Struvite (sỏi san hô)

Thường tạo ra khi có nhiễm trùng tiểu do proteus, klebsiella. Vì vậy chỉ cần điều trị nhiễm trùng, không cần tiết chế dinh dưỡng. Đối với người bình thường để phòng ngừa bệnh sỏi thận cần chú ý một số điểm sau:

– Mỗi ngày nên uống từ 1,5 đến 2 lít nước.

– Ăn nhiều rau, trái cây.

Không dùng kéo dài những loại thuốc có khả năng làm nước tiểu tăng tính acid như: aspirin, probenecid. Nếu bác sĩ chỉ định sử dụng những loại thuốc trên thì cần chú ý lựa chọn những thực phẩm giàu tính kiềm trong khẩu phần ăn hàng ngày.

2.6.1. Những thực phẩm nên ăn

Ngoài ra, đối với bệnh viêm cầu thận có hội chứng thận hư, chưa suy thận thì những thực phẩm nên dùng:

– Chất bột đường: Các loại gạo, mì, khoai sắn đều được.

– Chất béo: Chỉ nên sử dụng 20 – 25g/ngày, 2/3 là dầu thực vật.

– Chất đạm: Ăn thịt nạc, cá, sữa, trứng, đậu đỗ; Lượng đạm 1,5 – 2g/kg/ngày. Nên sử dụng sữa bột tách bơ để tăng cường đạm và calci.

– Các loại rau quả: Ăn rau quả như bình thường. Nếu tiểu ít thì cần hạn chế.

2.6.2. Những thực phẩm không nên dùng hoặc hạn chế

– Chất bột đường: Không phải kiêng.

– Chất béo: Không nên sử dụng các loại có nguồn gốc động vật. Giảm số lượng.

– Chất đạm: Không nên sử dụng các phủ tạng động vật như tim, óc, thận. Hạn chế trứng, chỉ ăn 12 quả/tuần.

– Các loại rau quả: Nếu vô niệu hoặc thiểu niệu thì không ăn rau quả.

2.6.3. Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày

– Gạo tẻ: 300 – 350g.

– Thịt nạc hoặc cá: 200g hoặc 300g đậu phụ.

– Dầu ăn: 10 – 15g.

– Rau: 300 – 400g.

– Quả: 200 – 300g.

– Muối: 2g.

2.6.4. Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần

– Năng lượng: 1800 – 2000kcal.

– Tổng số đạm: 50 – 60g.

+ Đạm có nguồn gốc động vật: 20 – 25g.

+ Đạm có nguồn gốc thực vật: 30 – 35g.

– Tổng số chất béo: 20 – 25g.

+ Chất béo động vật: 7 – 10g.

+ Chất béo thực vật: 15 – 20g.

Chú ý: Trong giai đoạn phù phải ăn nhạt hoàn toàn, hết phù có thể ăn hai thìa cà phê nước mắm mỗi ngày.

2.7. Chế độ ăn uống cho người bệnh viêm cầu thận cấp

2.7.1. Những thực phẩm nên dùng

– Chất bột đường: Có nguồn gốc từ các loại đường, mật ong, khoai sọ, khoai lang, miến dong, bột sắn dây.

– Chất béo: Nên sử dụng 30 – 35g/ngày.

– Chất đạm: Giảm đạm, số lượng tùy thuộc vào cân nặng. Nên sử dụng đạm có nguồn gốc từ động vật như thịt nạc, cá, sữa, trứng.

– Các loại rau quả: Trong giai đoạn vô niệu thì không được ăn rau quả. Nếu tiểu được nhiều thì ăn rau quả như bình thường.

2.7.2. Những thực phẩm không nên dùng hoặc hạn chế

– Chất bột đường: Không nên sử dụng loại ngũ cốc nhiều đạm như gạo, mì. Chỉ nên ăn dưới 150g/ngày.

– Chất béo: Không nên sử dụng các loại có nguồn gốc động vật.

– Chất đạm: Không nên sử dụng nhiều các chất đạm có nguồn gốc thực vật.

– Các loại rau quả: Theo dõi lượng nước tiểu để sử dụng số lượng rau quả hợp lý. Nếu vô niệu hoặc thiểu niệu thì không ăn rau quả.

2.7.3. Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày

– Gạo tẻ: 100 – 150g.

– Khoai sọ, khoai lang: 200 – 300g.

– Thịt nạc hoặc cá: 50 – 100g.

– Trứng vịt, gà: 1 quả, tuần ăn 2 – 3 lần.

– Dầu ăn: 20 – 30g.

– Rau: 200 – 300g.

– Quả: 200 – 300.

– Nước: bằng số lượng nước tiểu hàng ngày cộng thêm 300 – 500ml

2.7.4. Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần ăn

– Năng lượng: 1600 – 1700kcal.

– Tổng số đạm: 30 – 40g.

+ Đạm có nguồn gốc động vật: 20 – 25g.

+ Đạm có nguồn gốc thực vật: 10 – 15g.

– Tổng số chất béo: 30 – 40g.

+ Chất béo động vật: 7 – 10g.

+ Chất béo thực vật: 20 – 30g.

Chú ý: Trong giai đoạn phủ phải ăn nhạt hoàn toàn, hết phù có thể ăn hại thìa cà phê nước mắm mỗi ngày.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :