Home / Sức Khỏe / Chẩn đoán phì đại tuyến tiền liệt tiên lượng giai đoạn bệnh

Chẩn đoán phì đại tuyến tiền liệt tiên lượng giai đoạn bệnh

/

Ngoài chẩn đoán sơ bộ các triệu chứng phì đại tuyến tiền liệt, bác sĩ sẽ để nghị bệnh nhân soi bàng quang, siêu âm trực tràng để tiên lượng giai đoạn phát triển bệnh và có phác đồ điều trị hợp lý.

Chẩn đoán phì đại tuyến tiền liệt

1. Điểm quan trọng chẩn đoán phì đại tuyến tiền liệt là gì?

– Bệnh thường gặp ở hệ sinh dục nam giới tuổi trên 50.

– Kì đầu thì đi tiểu nhiều lần, số lần đi tiểu ban đêm tăng, bài tiết nước tiểu khó khăn, dòng tiểu yếu; kỳ cuối xuất hiện đi tiểu nhiều lần nghiêm trọng, niệu cấp, bài niệu khó khăn, thậm chí tiểu nhỏ giọt và bí đái cấp tính. Cũng có thể xuất hiện tiểu ra máu và mất khả năng khống chế nước tiểu. Thường dẫn các biến chứng như phát sinh kết sỏi bàng quang. Nước tiểu ứ đọng lâu ngày dẫn đến trúng độc nước tiểu.

– Kiểm tra trực tràng sờ thấy tuyến tiền liệt tăng trưởng có thể rắn, bề mặt trơn nhẵn, rãnh giữa biến mất.

– Lượng sót nước tiểu tăng lên.

– Kiểm tra siêu âm B thấy tuyến tiền liệt tăng trưởng rõ rệt.

– Xác định tỉ lệ dòng tiểu thấy khác thường.

– Kiểm tra soi bàng quang thấy tăng trưởng tuyến tiền liệt. Chụp ảnh tuyến tiền liệt, chụp ảnh bàng quang, chụp ảnh niệu đạo và những kiểm tra xét nghiệm có liên quan cũng giúp cho chẩn đoán bệnh.

2. Cần giám định phân biệt phì đại tuyến tiền liệt với những loại bệnh nào?

Chẩn đoán tăng trưởng tuyến tiền liệt nói chung không khó khăn, nhưng các bệnh như hẹp niệu đạo, ung thư tuyến tiền liệt, lao tuyến tiền liệt, kết sỏi tuyến tiền liệt, ung thư bàng quang, đều có thể dẫn đến cản trở nơi cửa ra bàng quang, biểu hiện lâm sàng của nó tương tự với tăng trưởng tuyến tiền liệt, nên cần chú ý giám định phân biệt.

Viêm tuyến tiền liệt: khi tuyến tiền liệt bị viêm nhiễm, kiểm tra trực tràng có thể thấy tuyến thể sưng to, kiểm tra soi bàng quang và chụp ảnh X quang, biến đổi tương tự như tăng trưởng tuyến tiền liệt, dễ gây nhầm lẫn. Nhưng khi viêm tuyến tiền liệt có những biến đổi khác: thuỳ giữa không phình ra, trong dịch tuyến tiền liệt thường có tế bào mủ.

Bàng quang tổn thương do dây thần kinh: có thể dẫn đến những triệu chứng tương tự tăng trưởng tuyến tiền liệt như bài tiết nước tiểu khó khăn, bí đái hoặc viêm nhiễm hệ tiết niệu. Những bệnh nhân bàng quang do nguyên nhân thần kinh có tiền sử tổn thương thần kinh nghiêm trọng và chướng ngại thể chất chức năng thần kinh. Như bại liệt chi dưới, cảm xúc không bình thường, giãn vòng cơ hậu môn, mất phản xạ kiểm tra trực tràng tuyến tiền liệt không sưng to, không có cản trở thực chất đường nước tiểu.

Hẹp niệu đạo: có triệu chứng bài tiết nước tiểu khó khăn, dòng tiểu biến nhỏ hoặc bí đái. Nhưng có tổn thương bên ngoài niệu đạo, bệnh sử về viêm nhiễm, kiểm tra trực tràng tuyến tiền liệt không phình to, qua thăm dò mở rộng niệu đạo hoặc chụp ảnh, thấy rõ có vùng hẹp, có thể chẩn đoán rõ ràng.

Ung thư tuyến tiền liệt: tuyến tiền liệt sưng to, còn có thể xuất hiện triệu chứng tương tự như tăng trưởng. Nhưng kiểm tra trực tràng hai thuỳ bên tuyến tiền liệt thường không đối xứng, rắn hoá, kiểm tra tổ chức sống tuyến tiền liệt có thể phát hiện được tế bào ung thư. Ung thư di chuyển đến xương chậu thường có thể kết luận tồn tại của ung thư tuyến tiền liệt.

Lao tuyến tiền liệt: có thể thấy tiểu ra máu và sưng tuyến tiền liệt. Nhưng có tiền sử bệnh lao hệ tiết niệu, đồng thời có nhiều ổ nhiễm lao tinh hoàn, túi tinh hợp thành, cục bộ tuyến thể có tồn tại đầu khớp cứng, ranh giới của nó không rõ hoặc sờ vào thấy đau, có triệu chứng kích thích niệu lộ, triệu chứng cản trở không rõ ràng.

Kết sỏi tuyến tiền liệt: có triệu chứng tiểu nhiều lần, bài tiết nước tiểu khó khăn. Kiểm tra trực tràng tuyến tiền liệt phình to, hơi cứng, khi rà trên bề mặt cảm thấy sự kết sỏi, trên phim chụp X có thấy âm ảnh của vị trí kết sỏi tuyến tiền liệt, kiểm tra này cũng giúp cho giám định phân biệt.

Ung thư bàng quang: triệu chứng chủ yếu là tiểu ra máu mắt thường nhìn thấy, không cảm thấy đau, thường có triệu chứng bài tiết nước tiểu khó khăn, kiểm tra tế bào rơi rớt trong nước tiểu có thể phát hiện thấy tế bào ung thư, kiểm tra soi bàng quang có thể trực tiếp thấy chuyển biến của khối u, nếu đồng thời kiểm tra lấy các mô sống, thấy tính chất ung thư rõ ràng.

3. Bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt cần thiết làm kiểm tra trực tràng không?

Kiểm tra trực tràng bằng ngón tay là một rất khâu quan trọng của chẩn đoán phì đại tuyến tiền liệt, vì đại đa số người bệnh qua kiểm tra trực tràng có thể phát hiện tuyến tiền liệt phình to. Chỉ ở một số ít bệnh nhân có tăng trưởng ở thuỳ dưới khu tam giác (chỉ một bộ phận của thuỳ giữa tuyến tuyến tiền liệt), khi đó mô tăng trưởng hầu như đột nhập toàn bộ vào trong khoang bàng quang, kiểm tra trực tràng có thể không sờ thấy.

Tăng trưởng thuỳ giữa và thuỳ bên, khi kiểm tra trực tràng đều được phát hiện có tuyến tiền liệt to ra ở các mức độ khác nhau. Triệu chứng phì đại tuyến tiền liệt làm cản trở niệu lộ không phải hoàn toàn do mức độ tăng trưởng to nhỏ của tuyến tiền liệt quyết định, mà do vị trí tăng trưởng tuyến tiền liệt quyết định. Nếu vị trí tăng trưởng nằm ở vách sau cổ bàng quang, mức độ tăng trưởng của nó tuy không lớn lắm, nhưng vẫn có thể tạo thành kỳ đầu của bệnh và có cản trở nghiệm trọng. Vì vậy, kiểm tra trực tràng không chỉ hạn chế ở việc trông chờ vào phát hiện tuyến tiền liệt khi phình to.

4. Bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt khi làm kiểm tra trực tràng cần chú ý điều gì?

Kiểm tra trực tràng nên tiến hành sau khi đã đưa hết nước tiểu trong bàng quang ra ngoài cơ thể, như vậy kiểm tra này mới chính xác và hợp với yêu cầu. Khi kiểm tra, đầu tiên quan sát có hạch trĩ hay không, sức căng vòng cơ hậu môn như thế nào, để giúp giám định phân biệt các bệnh tật khác. Đối với bệnh nhân hậu môn bị tổn thương nặng tạm miễn kiểm tra trực tràng.

Khi tiếp xúc chẩn đoán tuyến tiền liệt cần chú ý bề ngang của nó, mức độ đột nhập trực tràng, có tồn tại đầu khớp hay không, ấn vào có đau hay không, tuyến thể có cố định không, đều cần kiểm tra rõ ràng tỉ mỉ, ghi chi tiết trong bệnh án, cung cấp bằng chứng để chẩn đoán chính xác.

5. Xác định dòng tiểu cho bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt có ý nghĩa gì?

Căn cứ vào tình hình xác định tỉ lệ dòng tiểu, có thể gián tiếp tìm hiểu chức năng hạ niệu lộ. Công năng cơ ép niệu bàng quang gặp cản trở, biến đổi sức cản niệu đạo, công năng sinh lí nơi tiếp giáp niệu đạo với bàng quang không bình thường đều có thể phản ánh trên đồ thị tia nước tiểu, nó có ý nghĩa thực tế đối với chẩn đoán biến đổi bệnh hạ niệu lộ, nhất là có giá trị chẩn đoán chắc chắn đối với bệnh nhân tăng trưởng tuyến tiền liệt kỳ đầu. Ngoài ra, cũng có thể coi là tiêu chí khách quan theo dõi thường xuyên sau phẫu thuật tăng trưởng tuyến tiền liệt.

Xác định tỉ lệ dòng tiểu, tức là xác định lượng nước tiểu chảy ra trong 1 giây. Bình thường: tỉ lệ bài tiết nước tiểu cao nhất (WVR) 20ml/giây; thời gian bài tiết (VT) trên dưới 20 giây; tỉ lệ bài tiết nước tiểu bình quân (AVR) 10ml/ giây.

Đồ thị tỉ lệ bài tiết nước tiểu của bệnh nhân tăng trưởng tuyến tiền liệt, đặc điểm chủ yếu là có cản trở. Tỉ lệ dòng tiểu cao nhất và tỉ lệ dòng tiểu bình quân đều thấp so với bình thường, thời gian tiểu kéo dài. Biến đổi đồ thị dòng tiểu đồng nhất với mức độ cản trở tuyến tiền liệt do tăng trưởng, đặc điểm của nó được phân biệt: sơ đồ người tăng trưởng mức nhẹ có thể bình thường; người tăng trưởng mức trung bình đồ thị biểu thị tỉ lệ dòng tiểu có nhiều gợn sóng, cần có phẫu thuật can thiệp; người tăng trưởng mức nghiêm trọng đồ thị dòng tiểu biểu thị là đường bằng, thấp, nên sớm làm phẫu thuật. Có thể thấy, xác định tỉ lệ dòng tiểu không những có thể chẩn đoán chính xác, mà còn chỉ dẫn để

Tăng trưởng tuyến tiền liệt dẫn đến tiểu tiện khó khăn là một loại bệnh thường gặp nhất ở nam giới cao tuổi. Đó là vì khi tuyến tiền liệt phì đại, khiến vùng cổ bàng quang nổi lên đột nhập vào bàng quang, làm thay đổi hình thái giải phẫu bình thường, niệu đạo vì chịu chèn ép trở nên dẹp và hẹp, đồng thời phát sinh biến đổi niệu đạo vươn dài, uốn lượn. Biểu hiện sớm nhất là tốn sức khi bài tiết nước tiểu, tuy rất muốn tiểu nhưng không thể đi lập tức. Theo mức độ cản trở tăng lên, nước tiểu trong bàng quang qua mỗi lần đi tiểu không thể hoàn toàn đưa ra hết, còn đọng lại trong bàng quang. Nước tiểu còn đọng lại trong bàng quang được gọi là “sót nước tiểu”.

6. Xác định sót nước tiểu đối với bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt có giá trị lâm sàng nào?

Xác định sót nước tiểu là một trong những phương pháp chẩn đoán tăng trưởng tuyến tiền liệt quan trọng. Thông qua xác định lượng nước tiểu sót nhiều hay ít, có thể trợ giúp tìm hiểu mức độ cản trở bàng quang. Phương pháp xác định sót nước tiểu thường dùng là phương pháp dẫn niệu, phương pháp đo sóng siêu âm, phương pháp chụp ảnh tĩnh mạch niệu lộ. 3 phương pháp này đều có ưu điểm riêng, có thể chọn sử dụng căn cứ vào tình hình cụ thể của bệnh nhân. Lâm sàng thường tiến hành phân biệt xác định theo 3 giai đoạn, từ sơ chẩn, trị liệu và trước phẫu thuật, để tiện phán đoán mức độ cản trở bàng quang, để cung cấp bằng chứng tìm hiểu tăng trưởng tuyến tiền liệt chuyển biến, có cần điều trị phẫu thuật hay không.

Giai đoạn sơ chẩn: Bệnh nhân phải rất cố gắng mới bài tiết được nước tiểu, nếu bàng quang vẫn phình to, thì chứng tỏ còn có một số lượng nước tiểu còn sót lại, nếu bệnh nhân sau lúc đi tiểu, sờ không thấy bàng quang phình ra thì dùng phương pháp dẫn niệu ở điều kiện vô khuẩn để xác định lượng nước tiểu sót lại. Có thể chia ra 4 cấp số để xét đoán mức độ cản trở: 0-30ml; 3060ml; 60-100ml và 100-200ml.

Giai đoạn chữa trị: sau chữa trị, chuyển biến tốt, không có triệu chứng ở niệu lộ nữa thì xác định lại lượng nước tiểu sót lại để tìm hiểu tình hình cản trở mạn tính. Nếu tương đối giảm nhẹ so với trước, có nghĩa là cản trở ngược tính, có thể chọn phương pháp phi phẫu thuật để tiến hành điều trị.

Giai đoạn trước phẫu thuật: qua kiểm tra tường tận, xác định rõ ràng quan hệ tăng trưởng và cản trở, xác định được con đường phẫu thuật loại bỏ cản trở, trước phẫu thuật vẫn cần xác định sót nước tiểu. Nếu hồi phục tương đối nhanh, loại bỏ cản trở nhanh chóng, nghĩa là nguyên nhân cản trở do viêm nhiễm, sau khi sung ứ nước thũng tiêu tan đi, triệu chứng được cải thiện rõ ràng, có khả năng chọn phương pháp điều trị phẫu thuật, cung cấp bằng chứng tương đối tin cậy cho điều trị lâm sàng.

7. Bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt có cần làm kiểm tra soi bàng quang không?

Kiểm tra soi bàng quang là phương pháp kiểm tra quan trọng. Để tiến thêm một bước xác định chẩn đoán và tìm thiểu biến đổi bệnh lý của hạ niệu lộ khi tăng trưởng tuyến tiền liệt, đặc biệt là theo dõi tăng trưởng thuỳ giữa, còn khả năng phát hiện biến đổi bệnh lí khác trong bàng quang, từ đó có thể quyết định phương thức điều trị phẫu thuật.

Đối với triệu chứng cản trở niệu lộ đã rõ ràng, mà kiểm tra trực tràng không thể chẩn đoán độ phình, nhất là đối với bệnh nhân tăng trưởng thuỳ giữa, làm kiểm tra soi bàng quang là điều cần thiết, để tìm hiểu tình hình tăng trưởng các thuỳ và mức độ thu hẹp hậu niệu đạo.

Vì vậy, trừ phi không thể làm kiểm tra soi bàng quang do bệnh tình không cho phép, còn như hẹp niệu đạo, viêm nhiễm cấp tính, tình hình cơ thể cực kỳ tồi tệ có khi kiểm tra soi bàng quang vẫn là cần thiết. Khi thao tác kiểm tra soi bàng, cần phải thận trọng, tránh nhất là thô bạo. Các điều chú ý cụ thể dưới đây:

– Do tăng trưởng tuyến tiền liệt, hậu niệu đạo thường bị cản trở, ống soi bàng quang có khi đưa vào rất khó khăn, khi đó, trước tiên dùng dụng cụ thăm dò niệu đạo F20-22 mở rộng sau niệu đạo, rồi từ từ thử đưa vào, động tác chuyên môn phải khéo léo mềm mại, để tránh làm tổn thương các mô tạo máu hoặc tạo vệt lần, mang đến cho bệnh nhân những đau đớn không cần thiết.

– Sau khi đưa kính soi vào bàng quang, quan sát khoang bàng quang (có thể thấy mô tăng trưởng trói buộc cơ bức niệu vách bàng quang hình thành rất nhiều cầu ngang nhỏ, giữa các cầu ngang là rất nhiều lỗ rỗng lớn nhỏ). Cũng cần chú ý trong bàng quang có kết sỏi hoặc khối u hay không.

– Để đề phòng dẫn đến viêm nhiễm do kiểm tra, nên dùng thuốc tẩy rửa niệu lộ hoặc thuốc kháng sinh sau khi soi.

8. Khi mắc bệnh phình tuyến tiền liệt kiểm tra soi bàng quang có phát hiện gì?

Cự ly của túi tình đến cửa cổ bàng quang khi bình thường khoảng 2cm, gờ sau cổ bàng quang là đường ngang tương đối bằng phẳng, hai bên vách và gờ trước cong thành hình cung. Khi tuyến tiền liệt tăng trưởng, có thể làm cửa trọng niệu đạo thay đổi hình dáng. Do vị trí tăng trưởng khác nhau, sự dị dạng của cửa trong niệu đạo cũng không giống nhau.

Có thể thấy, hình dáng cổ bàng quang thay đổi tùy theo mức độ tăng trưởng của các thuỳ. Khi tăng trưởng hai thuỳ bên, độ lõm bình thường của cổ bàng quang biến mất, thuỳ tuyến phình ra ở giữa thành hình chữ V hoặc, và thường thấy vật lồi ra khỏi thuỳ tuyến trong ống kính khi soi bàng quang. Khi tăng trưởng thuỳ giữa, vùng đáy bàng quang lõm xuống môi dưới nổi hẳn lên. Sống đường dẫn niệu phì dày ra, nhô lên, hình thành cầu ngang nhỏ và lỗ rỗng. Trên đây đều là chứng cứ để chẩn đoán cản trở đường ra của nước tiểu.

Chẩn đoán độ to nhỏ tuyến tiền liệt bằng soi bàng quang cũng có những khó khăn nhất định, vì hình ảnh vật to nhỏ thay đổi theo cự ly soi, dễ dẫn đến tính toán sai lầm.

9. Khi mắc bệnh phình tuyến tiền liệt làm kiểm tra siêu âm loại B có ý nghĩa gì?

Kiểm tra siêu âm loại B không những có thể đoán ra hình dạng, độ to nhỏ và tính chất của tuyến tiền liệt tăng trưởng, mà còn có thể phân tích kết cấu bên trong mô, từ đó cung cấp chứng cứ chẩn đoán giám định phân biệt, không gây tổn hại đến bệnh nhân, có thể tiến hành kiểm tra lại nhiều lần. Lâm sàng thường dùng kiểm tra siêu âm B qua trực tràng hoặc qua vùng bụng.

Kiểm tra siêu âm B qua trực tràng, có thể dùng phương pháp kiểm tra quét vòng tròn quanh trực tràng để kiểm tra tuyến tiền liệt là chính xác nhất. Từ sơ đồ hình và âm khi bài tiết nước tiểu của bệnh nhân phình tuyến tiền liệt, hiển thị ra sự biến dạng, di dời vị trí trong niệu đạo, từ đó phản ánh biến đổi động thái cản trở của ra bàng quang. Trạng thái sau khi dùng dao điện cắt bộ phận tăng trưởng qua niệu đạo tuyến tiền liệt, được đoán ra thông qua phương pháp kiểm tra quét trực tràng.

Kiểm tra siêu âm B qua vùng bụng giúp tìm hiểu hiện tượng thận ứ nước có tồn tại không, để còn có thể đo lượng sót nước tiểu. Nếu người có lượng nước tiểu sót 100ml, thì tỉ lệ chuẩn xác đạt 97%; người có lượng nước tiểu 150ml, thì tỉ lệ chuẩn xác đạt 100%, đo lượng sót nước tiểu bằng siêu âm B không gây tổn thương, tránh được khả năng xét nghiệm nước tiểu dẫn đến viêm nhiễm, đồng thời có thể kiểm tra lại nhiều lần. Nhưng khi lượng nước tiểu ít, thì kết quả không đủ chuẩn xác.

Sơ đồ hình siêu âm tăng trưởng tuyến tiền liệt biến đổi theo chiều hướng chuyển biến của bệnh. Khi tăng trưởng cấp độ trung bình, mặt cắt ngang của nó có hình bán nguyệt hoặc hình elip, tăng trưởng ở cấp độ cao thì nó có hình tròn. Trên mặt phẳng của bàng quang có thể thấy tuyến tiền liệt nhô ra bị bao bọc bởi vách bàng quang, ranh giới phản xạ tuyến tiền liệt với khu tối bàng quang rõ ràng, tuyến thể có hình tròn, nằm ở trung tâm vùng sau khu tối bàng quang. Ở đoạn trung hạ tuyến tiền liệt, mặt cắt tuyến tiền liệt có hình bán nguyệt, tuyến thể tăng trưởng có thể đối xứng, có thể không đối xứng, nhưng khi quét cho thấy tiết diện bên cạnh có hình dạng tương tự, điều này để phân biệt với ung thư tuyến tiền liệt. Tỉ lệ chẩn đoán giám định phân biệt u ác tính tuyến tiền liệt đạt 80%.

Có người cho rằng kết quả xác định độ to nhỏ tuyến tiền liệt qua kiểm tra trực tràng và kiểm tra siêu âm B không trùng khớp, tuyến tiền liệt càng to, sai lệch càng thấy rõ, vì vậy kiểm tra trực tràng không chuẩn xác bằng kiểm tra siêu âm.

10. Làm thế nào để chẩn đoán phì đại tuyến tiền liệt tái phát?

Chẩn đoán phì đại tuyến tiền liệt tái phát chủ yếu dựa vào bệnh sử, kiểm tra trực tràng và kiểm tra soi niệu đạo bàng quang. cần có 4 triệu chứng dưới đây:

– Sau phẫu thuật một thời gian tương đối dài triệu chứng mới bắt đầu tái xuất hiền, đại đa số bệnh nhân qua thời gian khoảng 10 năm trở lên.

Cần phải qua kiểm tra trực tràng, kiểm tra bàng quang và chụp ảnh bàng quang chứng thực có triệu chứng bài tiết nước tiểu khó khăn, tiểu ra máu, dẫn đến là do tuyến tiền liệt tăng trưởng trở lại gây ra, và loại bỏ nhân tố cản trở do hẹp niệu đạo, tắc phần cổ bàng quang, kết sỏi bàng quang.

– Trong giai đoạn giữa làm phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt lần đầu đến tăng trưởng tuyến tiền liệt lành tính phát sinh trở lại, phải hoàn toàn không có triệu chứng tương tự.

– Phẫu thuật cắt mô tăng trưởng lần tiếp theo, cần xác nhận của tổ chức học bệnh lí để chứng minh là tái phát. qua

11. Phì đại tuyến tiền liệt phải phân cấp và đánh giá tuyến thể to nhỏ như thế nào?

Để tiện cho ghi chép một cách chính xác tình hình tăng trưởng tuyến tiền liệt khi kiểm tra trực tràng, năm 1985 Rous đã đề xuất phương pháp phân cấp độ và đo, đánh giá trực tràng tuyến tiền liệt:

  • Tăng cấp độ 1: tuyến thể tăng hơn so với bình thường 1,5-2 lần, rãnh giữa trở nên nông, cự li đột nhập trực tràng khoảng 12cm, nặng khoảng 20-25 gam.
  • Tăng cấp độ 2: tuyến thể vượt quá bình thường 2-3 lần, rãnh giữa có thể biến mất, đột nhập trực tràng 2-3 cm trở lên, nặng 2550 gam.
  • Tăng cấp độ 3: tuyến thể vượt quá bình thường 3-4 lần, rãnh giữa biến mất, đột nhập trực tràng vượt quá 3cm, nặng khoảng 50-70 gam.
  • Tăng cấp độ 4: tuyến thể vượt quá bình thường 4 lần, kiểm tra bằng ngón tay đã không thể tiếp xúc được vùng đáy tuyến tiền liệt, một bên rãnh hoặc cả hai bên rãnh của rãnh bên biến mất do tuyến tiền liệt phình to, ước đoán nặng khoảng 75 gam trở lên.

Cần chú ý: Kiểm tra trực tràng sờ thấy tuyến tiền liệt to hay nhỏ không nhất định là thể tích thực tế của nó, nếu thuỳ bên tăng trưởng đột nhập bàng quang hoàn toàn, khi đó kiểm tra trực tràng hoàn toàn không thể sờ thấy. Một số người đưa ra phương pháp tính toán tương đối dễ sử dụng: tuyến tiền liệt bình thường khoảng bằng một hạt thóc, nếu như to bằng trứng chim bồ câu là +, to bằng trứng gà là ++, to bằng trứng vịt là +++, to hơn nữa là ++++.

12. Vì sao nói đề phòng phì đại tuyến tiền liệt cần thiết phải bắt đầu từ tuổi trung niên?

Nguyên nhân cơ bản của tăng trưởng tuyến tiền liệt là do tinh hoàn và tuổi cao. Theo tư liệu có liên quan, những người phát sinh phì đại tuyến tiền liệt ở các mức độ khác nhau, phần nhiều là ở nam giới trên 60 tuổi, trong đó người có độ tuổi 40-49 chiếm 10%, từ 50-59 chiếm 20%, điều này cho thấy, tỷ lệ phát bệnh ở lứa tuổi trung niên cũng không phải là thấp. Ở tuổi trung niên, chức năng tinh hoàn sung mãn, vậy tại sao lại xảy ra tăng trưởng tuyến tiền liệt? Điều cần suy nghĩ ở đây là phải chăng còn có một số nguyên nhân tiềm ẩn thúc đẩy khiến cho tinh hoàn teo nhỏ, hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến tuyến tiền liệt. 

Tóm lại một số nguyên nhân chính:

– Tình dục quá độ, thủ dâm, giao hợp giữa đường dừng lại, ăn thức ăn kích thích tính dục đều có thể dẫn đến sung huyết quá mức với tinh hoàn và tuyến tiền liệt, lâu ngày làm tuyến tiền liệt dễ phình to.

– Viêm nhiễm vi khuẩn gây ra viêm tuyến tiền liệt và viêm hậu niệu đạo gần tuyến tiền liệt, những kích thích do chứng viêm đó có thể dần dần phát sinh tăng trưởng tuyến tiền liệt.

– Do hạ niệu đạo không thông suốt, dễ khiến bàng quang chứa quá đầy nước tiểu, từ đó mà kích thích sung huyết bộ máy sinh dục.

Những tình huống nói trên ở tuổi trung niên thường dễ phát sinh, nếu không chú ý đề phòng, tuổi già đến, các tổ chức tuyến tính trong cơ thể teo lại, tuyến tiền liệt theo đó phì đại. Có một số ít người, sau khi bước qua tuổi 40, tuyến thể bắt đầu dần dẫn phình lên. Trọng lượng của một tuyến tiền liệt bình thường nặng không quá 20 gam, lúc này có thể nặng thêm 30-40 gam, thậm chí 80 gam, có trường hợp cá biệt độ lớn nhất có thể 100 gam hoặc 200 gam. Do vậy mức độ các thuỳ tăng trưởng tuyến tiền liệt khác nhau và vị trí tăng trưởng cũng khác nhau, có khi có triệu chứng rõ ràng, có khi không. Vì vậy, những nhân tố khởi phát tăng trưởng tuyến tiền liệt ở tuổi trung niên là không thể đánh giá thấp, việc đề phòng phì đại tuyến tiền liệt cần sớm bắt đầu từ tuổi trung niên.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :