Home / Sức Khỏe / 39 loại bệnh nội khoa thường gặp & dấu hiệu nhận biết

39 loại bệnh nội khoa thường gặp & dấu hiệu nhận biết

/

Nội khoa là một chuyên khoa y tế, trong đó các bác sĩ áp dụng kiến thức khoa học và chuyên môn lâm sàng để chẩn đoán, điều trị những vấn đề về sức khỏe bên trong cơ thể.

bệnh nội khoa là gì

1. Bệnh cảm cúm

Cảm cúm là chỉ hai loại bệnh, một là đường hô hấp trên bị viêm nhiễm, hai là bị bệnh cúm. Bệnh thứ nhất là do nhiễm loại vi rút hoặc vi khuẩn gây nên, biểu hiện ở những hiện tượng như: Tắc mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, ngứa cổ họng, nhức đầu, sợ lạnh; bệnh thứ hai là do vi rút của bệnh cúm xâm nhập gây nên. Biểu hiện bệnh chủ yếu: Sợ lạnh, nhiệt độ cao, buồn nôn, đau mỏi toàn thân, nhưng hiện tượng viêm đường hô hấp trên tương đối nhẹ. Cảm cúm có thể xảy ra quanh năm, nhưng về mùa xuân và mùa đông thường nhiều hơn. Vì có nhiều loại vi rút gây nên bệnh này, hơn nữa lại dễ biến dị. Hiện nay, trên thế giới chưa có loại thuốc đặc hiệu, nên thường điều trị theo từng bệnh cụ thể.

Đông y gọi cảm cúm là “thương phong” và “thời hành cảm mạo”. Họ cho rằng bị nhiễm gió độc, có phân biệt giữa cảm nóng và cảm lạnh, vì vậy dùng thuốc cũng phân biệt.

2. Bệnh ho

Ho đối với Tây y chỉ là một triệu chứng. Rất nhiều bệnh tật như viêm nhiễm đường hô hấp, giãn khí quản, viêm phổi, viêm yết hầu đều là triệu chứng bị ho. Phương pháp điều trị chủ yếu là tiêu diệt viêm nhiễm, chống ho.

Đông y gọi ho là một loại bệnh, có thể chia làm hai loại lớn: Ho ngoại cảm và ho nội thương. Ho ngoại cảm cũng chia làm hai loại hàn và nhiệt, đặc trưng của chứng – phát bệnh nhanh, quá trình diễn biến bệnh ngắn, thường kèm theo cảm cúm. Đặc trưng của ho nội thương là quá trình diễn biến bệnh kéo dài, do công năng của ngũ tạng thất thường gây nên.

3. Bệnh viêm phế quản mạn tính

Bệnh nội khoa này phần lớn là do viêm phế quản cấp tính nhưng không kịp thời điều trị, biến thành mãn tính. Triệu chứng chủ yếu của bệnh là ho, khạc đờm, có khi kèm theo thở suyễn. Nếu trong một năm có ba tháng bị ho, liên tục trong hai năm, ngoài tim phổi và các bệnh khác ra, đúng là bệnh viêm phế quản mạn tính. Sức đề kháng của cơ thể giảm sút, viêm nhiễm, dị ứng và kích thích lí hóa (giá lạnh, bụi công nghiệp) thường có quan hệ mật thiết với nguyên nhân gây ra bệnh này. Bệnh khí buồng phối và bệnh đau tim là chứng bệnh cùng phát sinh với bệnh viêm phế quản mạn tính thường gặp nhất.

Đông y cho rằng, bệnh này có quan hệ với thể chất và công năng tạng phủ. Y học cổ cho rằng: “Lục phủ ngũ tạng đều gây nên bệnh ho, chứ không phải chỉ riêng có phổi”, vì vậy khi điều trị cần chú ý điều trị công năng của tỳ và thận.

4. Bệnh hen suyễn

Tên đầy đủ của bệnh nội khoa này là bệnh hen suyễn khí quản. Nguyên nhân phát bệnh rất phức tạp, địa bộ trên cơ sở di truyền lại gặp phải một số nhân tố trong và ngoài cơ thể như dị ứng viêm nhiễm, quá mệt mỏi, yếu tố tinh thần gây nên. Khi phát bệnh, cơ trơn trong khí quản bị co giật, niêm mạc sưng lên, từ đó gây khó thở, ho, nhiều đờm mà không khạc ra được, mặt tái môi thâm, trong lòng khó chịu, hay ra mồ hôi trộm, hít thở khó khăn kèm tiếng khò khè.

Đông y chia triệu chứng bệnh suyễn đang trong thời kỳ cấp tính làm hai loại lớn: Nhiệt tính và hàn tính. Biểu hiện của nhiệt tính là họ có đờm trắng, lỏng, không nhiều, đờm có bọt, màu trắng, không khát nước hoặc thích uống nước nóng. Biểu hiện của hàn tính là họ có đờm vàng, đặc, khó họ ra đờm, khát nước, thích nước lạnh, đắng miệng, người nóng, mặt đỏ. Trong thời kỳ điều trị chủ yếu là bồi bổ cho phổi, lá lách và thận để nâng cao khả năng chống bệnh của cơ thể, giảm bớt số lần phát bệnh, cho đến khi khỏi hẳn.

5. Bệnh quai bị

Bệnh quai bị là một loại bệnh truyền nhiễm đường hô hấp cấp tính do virus tuyến mang tai gây nên. Đặc trưng của bệnh này là tuyến mang tai bị sưng nhưng không thành mủ, đau nhức, nóng ran và có thể lan tới tuyến tinh hoàn và buồng trứng… hoặc hệ thống thần kinh và ngũ quan như gan, thận, tim gây nên những chứng bệnh tương ứng. Nhi đồng từ 5-9 tuổi hay mắc bệnh này. Bệnh có thể mắc quanh năm, nhưng mùa đông và mùa xuân thì nhiều hơn. Sau khi mắc bệnh này, khả năng miễn dịch rất lâu, rất ít người mắc bệnh lần thứ hai. Khi mắc bệnh này có thể kèm theo bệnh viêm tinh hoàn, viêm não nặng và bệnh tim.

Bệnh này Đông y chia làm hai loại: Một là ôn độc tập biến hình (triệu chứng khi mới mắc bệnh một má hoặc hai má hơi sưng, đau cục bộ, không nóng lắm. Phương pháp điều trị là hạ nhiệt và giải độc). Loại thứ hai là ôn độc nội kết hình (triệu chứng là tuyến má sưng rõ rệt, có thể sờ thấy cục cứng, đau nhiều, thậm chí nuốt thức ăn cũng đau, sốt cao không giảm, trong người khó chịu, táo bón, nước đái vàng. Phương pháp điều trị: Giải nhiệt, giải độc, tiêu tan vết sưng).

6. Bệnh đau đầu

Đau đầu là một trong những bệnh thường gặp. Có thể chia ra các loại sau: thần kinh, tinh thần hoảng sợ, mạch máu thông không tốt, trong đó bệnh đau đầu vì công năng thần kinh thường gặp nhiều nhất. Các loại đau đầu thường xuất hiện quá trình tái phát mạn tính. Y học Trung Quốc chia làm hai loại lớn, một là ngoại cảm tà khí, hai là tạng phủ nội thương. Phương pháp điều trị cũng khác nhau.

7. Bệnh đường tiêu hóa trên xuất huyết

Đường tiêu hóa trên bao gồm thực quản, dạ dày, tụy tạng, mật, tá tràng, đoạn trên ruột non. Do nguyên nhân viêm hoặc loét làm cho niêm mạc hoặc huyết quản bị tổn thương mà gây nên triệu chứng chảy máu. Ngoài việc nôn ra máu, ỉa ra máu (màu đen) khi bệnh tình nặng nhẹ khác nhau, còn có những triệu chứng khác như choáng váng, hoa mắt, mệt mỏi, đau bụng ỉa chảy, tim đập quá nhanh, nét mặt xanh tái, ra mồ hôi trộm.

Y học cổ truyền cho rằng, nguyên nhân xuất huyết rất nhiều. Nguyên nhân không giống nhau, phương pháp điều trị cũng không giống nhau. Nên điều trị theo ba nguyên tắc sau: Trị hỏa (tả hỏa, giáng hỏa), trị khí, trệ huyết.

8. Bệnh ỉa chảy mạn tính

Bệnh ỉa chảy mạn tính có thể xuất hiện trong nhiều loại bệnh. Ở đây chỉ bệnh ỉa chảy do công năng ruột rối loạn gây nên, bao gồm các loại ỉa chảy do kết tràng dị ứng, tinh thần tiêu hóa không tốt. Biểu hiện của triệu chứng này: Đau bụng chướng khí, sau khi tiểu tiện, đại tiện xong thấy dễ chịu hoặc khỏi đau, phân đặc và phân lỏng lẫn lộn. Loại ỉa chảy có kèm theo các triệu chứng như bụng cảm thấy lạnh, chân tay lạnh, sợ rét, sáng sớm đau bụng đi ỉa.

Loại này Đông y gọi là ỉa chảy do tỳ thận hư hàn. Nếu ăn không ngon, tiêu hóa kém, bụng chướng khí, sau khi tiểu tiện, đại tiện xong thấy dễ chịu hoặc khỏi đau, phân đặc và phân lỏng lẫn lộn gọi là ỉa chảy do tỳ vị khí hư. Tinh thần bực bội thì mót ỉa, ỉa xong đỡ đau bụng, loại này gọi là ỉa chảy do can vượng khắc tì. Quá trình bệnh ỉa chảy thường kéo dài, tái phát nhiều lần, có khi vài tháng, vài năm không khỏi.

9. Bệnh đi ngoài phân ra máu

Máu chảy từ hậu môn gọi là ỉa ra máu. Rất nhiều bệnh tật có thể thấy được triệu chứng này. Ở đây chỉ loại bệnh ỉa ra máu do bệnh trĩ, hậu môn bị nứt, hậu môn bị viêm, niêm mạc của trực tràng kết tràng bị thương tổn gây nên. Phần mềm thành khuôn hoặc vón cục, máu tươi dính bên ngoài phân, có khi máu ra trước phân ra sau, có khi phân ra trước, máu ra sau, màu máu phần nhiều là đỏ tươi, cũng có lúc màu thâm vẩn đục. Có khi máu ra nhiều nhỏ thành giọt, sau khi đại tiện hậu môn càng đau dữ dội.

10. Bệnh sa dạ dày

Sa dạ dày thường là một bộ phận nội tạng sa xuống, người mắc bệnh thường thấy gầy còm, mệt mỏi, ăn xong thấy chướng bụng, ấn bụng nghe tiếng nước róc rách, không muốn ăn, hay ợ, buồn nôn, váng đầu, tim đập mạnh. Đông y cho rằng, bệnh này là do tì vị khí hư, trung khí hạ xuống, khả năng co bóp kém gây nên. Thường điều trị bằng phương pháp kiện tỳ, ích khí, tăng khả năng co bóp.

11. Bệnh viêm dạ dày mạn tính

Viêm dạ dày mạn tính là một loại biến chứng của viêm niêm mạc dạ dày do kích thích làm thương tổn lâu ngày, bị tổn thương vì cọ xát nhiều lần, ăn uống không điều độ, tinh thần không ổn định gây nên. Viêm dạ dày mạn tính thường chia làm hai loại: Viêm dạ dày bề mặt và viêm dạ dày khô quắt. Loại thứ nhất thường có biểu hiện bụng trên khó chịu, có cảm giác chướng khí, ăn cơm xong càng khó chịu, ợ hơi, có lúc râm rẩm đau. Loại thứ hai, ngoài những triệu chứng trên còn có triệu chứng thân thể suy nhược như gầy mòn, thiếu máu, ỉa chảy, ợ chua, dịch vị giảm đi rất nhiều. Bệnh viêm niêm mạc dạ dày chuyển sang viêm bờ cong sẽ nguy hiểm, có khi thành ung thư dạ dày, vì vậy phải hết sức chú ý chữa chạy.

Đông y coi những triệu chứng như sắc mặt xanh xao, thân thể mệt mỏi, ăn kém, thích xoa bụng và ấn bụng gọi là kiểu tỳ vị hư hàn. Những triệu chứng đau bụng lan cả sang bên sườn, miệng khô và đắng, nôn nóng dễ cáu kỉnh, táo bón, nấm lưỡi dày và vàng gọi là loại cam hỏa phạm vị. Triệu chứng miệng khô, lưỡi đỏ, nấm lưỡi bị tróc, ngủ không ngon, hay mơ mộng, ỉa khô thuộc loại vị âm tổn thương. Khi điều trị cần phải phân biệt.

12. Bệnh nấc

Nấc là do một loại kích thích nào đó làm cho thần kinh cơ hoành quá hưng phấn, cơ hoành co thắt gây nên. Nấc có thể xuất hiện trong nhiều loại bệnh, thông thường bệnh nấc chia làm hai loại: Cấp tính và mãn tính. Nấc liên tục, nhiều và ngắn, tiếng nấc kêu to sẽ trị tiêu tan rất nhanh. Nấc có khi kéo dài mấy tiếng, mấy tuần và dài hơn nữa, chữa mãi không khỏi.

Đông y cho rằng, nấc là do ăn uống không điều độ, ăn uống những thứ sống, lạnh làm cho hàn kết trong dạ dày, bực tức, u sầu, trạng thái tinh thần không cân bằng làm cho can khí phạm gây nên. Cũng có một số ít trường hợp do âm dịch trong dạ dày tổn thương hoặc tỳ vị khí kém gây nên. Khi điều trị cần phân biệt.

13. Bệnh táo bón

Táo bón là một loại bệnh phân khô cứng khó ỉa, thời gian đại tiện rất lâu, muốn ỉa mà không ỉa được. Thông thường, sau khi ăn cơm 48 tiếng mà không đại tiện, coi là bệnh táo bón. Nhưng vì thói quen đại tiện của mọi người không giống nhau, phải căn cứ vào thói quen đại tiện của từng người. Chỉ khi nào đại tiện được dễ dàng mới có thể phán đoán chính xác được người đó có bị táo bón hay không.

Đông y cho rằng, táo bón không những có quan hệ đến việc công năng truyền dẫn của đại tràng thiếu cân bằng mà còn có quan hệ mật thiết với việc nhận, vận chuyển lên, xuống của tì vị, nhiệt độ và công năng khí hóa của thận thất thường. Đông y chia táo bón làm hai loại hư và thực, thực có nhiệt lí và khí lí, hư có hư bí và lãnh bí. Người bị nhiệt bí thì mặt đỏ, người nóng, mồm thối, môi lở, nước tiểu vàng, người bị khí bí hay ợ hơi, tức ngực, đau bụng. Người bị hư bí đều do khí huyết không đủ, hoặc sắc mặt xanh xao, mệt mỏi yếu đuối, tới gần nhà vệ sinh thì mệt mỏi, vã mồ hôi, đại tiện không khô lắm đó là táo bón do khí hư. Sắc mặt xanh xao, váng đầu, tim đập mạnh, mắt hoa, đó là táo bón huyết hư. Đặc trưng của người thuộc lãnh bí là dương khí hư tổn, nước tiểu trong, chân tay lạnh, thích nóng, sợ lạnh.

14. Bệnh kiết lỵ

Kiết lỵ là một loại bệnh truyền nhiễm đường ruột do vi khuẩn kiết lị gây nên, một trong những loại bệnh đường ruột cấp tính thường thấy trong mùa hè và mùa thu. Đặc điểm lâm sàng của loại bệnh này là tăng nhiệt độ, đau bụng, ỉa chảy, mót ỉa mà không ỉa được, ỉa ra máu và mủ.

15. Bệnh viêm gan

Viêm gan truyền nhiễm là do nhiều loại virus viêm gan gây nên. Viêm gan ít nhất có thể chia ra năm loại. Về quá trình bệnh có thể phân biệt cấp tính và mãn tính, nhưng về mặt triệu chứng cũng có biểu hiện giống nhau, chỉ khác nhau về mức độ: Buồn nôn, kém ăn, ghét dầu mỡ, đau bụng khó chịu, đại tiện lúc đặc, lúc loãng, dễ mệt mỏi, vã mồ hôi, mất ngủ, vùng gan khó chịu hoặc đau nhói hay đau âm ỉ, công năng gan không bình thường. Sau khi chẩn đoán, xác định bệnh viêm gan, có điều trị tại bệnh viện khó khăn, hoặc có nằm viện cũng thiếu phương pháp điều trị. Người bệnh nếu thực hiện được việc cách ly ăn riêng, ở riêng, hoàn toàn có thể tự điều trị tại nhà.

16. Bệnh xơ gan

Xơ gan là một loại bệnh mạn tính toàn thân do tế bào gan bị hủy hoại, kết cấu bị phá vỡ, chất xơ tăng lên. Có thể do viêm gan mạn tính, bệnh trùng hút máu, dinh dưỡng kém kéo dài, trúng độc rượu mạn tính, bệnh ống mật mạn tính gây nên. Biểu hiện lâm sàng thời kỳ đầu có những triệu chứng: Bụng trên đau tức, buồn nôn, nôn mửa, ỉa chảy, mệt mỏi, chán ăn, thời kỳ cuối có những triệu chứng: Da mặt đen sạm, gầy mòn, bụng chướng lên, có báng bụng, bệnh hoàng đản, xuất huyết. Người bị bệnh nghiêm trọng có thể xuất hiện “bệnh tổng hợp gan não”.

17. Bệnh viêm túi mật mãn tính

Viêm túi mật mạn tính là loại thường thấy nhất trong bệnh túi mật. Bệnh này có khi là di chứng của bệnh viêm túi mật cấp tính, nhưng nhiều bệnh điển hình thường không có tiền sử bệnh cấp tính. Phần lớn, bệnh viêm túi mật đều có nhân tố tắc ống mật, mật lưu thông khó khăn. Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm túi mật mạn tính cũng không giống nhau do mức độ nhẹ có thể không có triệu chứng. Nói chung, những người bị bệnh đều chướng bụng ở mức độ khác nhau, có cảm giác khó chịu ở bụng trên hoặc bên phải bụng trên, đau kéo dài, hoặc đau ở bả vai phải, có cảm giác nóng ruột, ợ hơi, mỏi mệt nhất là sau khi ăn cơm no hoặc ăn những thứ chiên, rán, thức ăn nhiều mỡ càng cảm thấy khó chịu.

Đông y cho rằng, bệnh này là do ăn uống không sạch sẽ, ăn loại thực phẩm nướng, đốt nhiều dầu mỡ, ấm lạnh thất thường, tư tưởng không thoải mái, nhiễm trùng gầy nên, khí trong mật tích tụ thấp nhiệt không thông.

18. Bệnh sỏi mật

Bệnh sỏi mật là một loại bệnh kết sỏi ở bất cứ bộ phận nào của hệ thống mật (bao gồm túi mật và ống mật). Theo thành phần kết sỏi có thể chia làm hai loại: Sỏi bilirubin, sỏi cholesterol, sỏi hỗn hợp. Tỷ lệ phát bệnh của bệnh sỏi mật và tình hình lưu hành rất khó xác định, vì có gần 50% người bị bệnh sỏi mật mà suốt đời không có triệu chứng và không bị phát hiện. Biểu hiện lâm sàng của bệnh là đau nhói ở phía bên phải bụng trên, mắt vàng và sốt, thường đau vào ban đêm, sau khi ăn cơm hoặc ăn những thức ăn nhiều mỡ, thường đau ở phía phải hoặc bả vai phải.

19. Bệnh tim đập quá nhanh

Bệnh này có thể xuất hiện ở nhiều loại bệnh, nhịp đập của tim mỗi phút tới 100 đến 200 lần, đập nhanh thành từng cơn, đột nhiên đập nhanh, đột nhiên mất đi, lặp đi lặp lại | nhiều lần. Thời gian phát bệnh có khi vài phút, vài giờ thậm chí vài ngày. Người bệnh cảm thấy khu vực trước tim tức tối khó chịu, đầu, cổ có cảm giác căng thẳng, tinh thần không ổn định, sợ hãi. Người bệnh thường do thể chất kém, ngày thường hay váng đầu mệt mỏi, đêm ngủ dễ tỉnh, mơ mộng nhiều, nhiệt độ thấp, lòng bàn tay nóng, dễ kích động. Bệnh này phần nhiều do làm việc quá sức, lo lắng, sợ sệt gây ra.

Đông y cho rằng, nguyên nhân làm cho tim đập quá nhanh là âm huyết hư tổn, tâm hỏa quá mức, làm việc trí óc nhiều, hao tổn huyết hoặc tinh thần bất ổn kéo dài làm cho gan khí tích tụ hóa hóa gây nên.

20. Bệnh huyết áp thấp mãn tính

Thông thường, mọi người cho rằng huyết áp chỉ trên thấp hơn 90/60 cột thủy ngân là huyết áp thấp. Do huyết áp thấp mà máu tuần hoàn chậm và yếu, đoạn cuối của mao mạch thiếu máu, ảnh hưởng đến việc đưa oxy dinh dưỡng vào các tổ chức tế bào và màng oxit cacbon và những chất thải đi ra ngoài. Nếu kéo dài sẽ làm cho công năng của cơ thể giảm sút rất nhanh. Rất nhiều bệnh nhân còn có những triệu chứng như váng đầu, đau đầu, tức ngực, đoản hơi, tinh thần mệt mỏi, ngủ không sâu, khẩu vị kém, sưng chân. Về mùa hè trời nóng, những biểu hiện đó càng rõ rệt. Bệnh này thường thấy ở người thể chất kém và phụ nữ, nhưng cũng có người không thấy cảm giác gì rõ rệt.

Đông y cho rằng, huyết áp thấp là do dưỡng khí của tỳ thận suy tổn gây nên, điều trị chủ yếu là làm cho tỳ thận ấm lên, tăng dưỡng khí.

21. Bệnh buồn phiền u uất

Bệnh buồn phiền u uất là một loại bệnh tinh thần mang tính tình cảm. Nguyên nhân, tình cảm không thoải mái, khí chất ngưng trệ gây nên. Biểu hiện chủ yếu về lâm sàng, trong lòng u uất, tinh thần bất ổn, tiêu cực chán đời, tư duy chậm chạp, đau tức hai bên sườn, dễ cáu gắt, khóc lóc, ngủ không yên giấc, trong họng hình như có vật gì nuốt vào không được mà khạc ra cũng không xong, nhưng không ảnh hưởng gì đến ăn uống.

Đông y gọi là “mai hạch khí”. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh này là nội thương thất tình (bảy tình cảm bị thương tổn: hỷ, nộ, ưu, tư, ái, lạc, kinh) muốn đạt nhưng không đạt được, làm cho gan không khỏi thông, tì không khỏe mạnh, tâm thần không được bồi bổ, khí âm dương trong tạng phủ không cân bằng mà gây nên.

22. Bệnh mất ngủ

Mất ngủ là do tính hưng phấn của đại não tăng cường làm cho khó ngủ, ngủ không sâu, dễ tính, hay mơ mộng, dậy sớm. Người bệnh vì không được ngủ đầy đủ, ban ngày tinh thần ủy mị, sức chú ý không tập trung, khẩu vị kém, có một số người còn kèm thêm bệnh ù tai, hay quên, run tay, đầu óc choáng váng, dễ nổi khùng. Mất ngủ dẫn đến tâm lý mất thăng bằng, người bệnh luôn cảm thấy gánh nặng tâm lý.

Đông y cho rằng, nguyên nhân gây bệnh rất nhiều, có “vị bất hòa tắc bất an” (dạ dày không tốt nên nằm không yên), “Hư loa hư phiền bất đắc miên” (lao lực phiền muộn nên ngủ không ngon). Nó có liên quan chặt chẽ tới tâm, can, tỳ, thận, tạng, mất cân đối và âm huyết không đủ. Những người thần kinh suy nhược thường hay mắc bệnh này. ngọa

23. Bệnh thiếu máu

Bệnh thiếu máu xuất hiện trong rất nhiều loại bệnh. Bình thường chỉ thiếu máu do dinh dưỡng không đủ (nhất là thiết sắt), mất máu mạn tính, có thể suy nhược, lượng máu không đủ gây nên. Biểu hiện của thiếu máu ngoài việc huyết sắc tố giảm thiểu ra (nam 135 – 175g/l, nữ 120 – 160g/l) còn kèm theo hàng loạt triệu chứng như nóng đầu, hoa mắt, ù tai, sắc mặt xanh xao, hoảng sợ, tim đập nhanh, ngủ không yên, mệt mỏi rã rời, móng tay lõm xuống dễ bị nứt nẻ, sức chú ý không thể tập trung được, ăn không ngon, kinh nguyệt thất thường.

Đông y cho rằng, điều trị bệnh thiếu máu vừa phải tăng cường dinh dưỡng và bổ máu nghiêm trọng, cần phải bắt đầu từ bổ thận, vì tinh hoa trong thận được biến thành máu.

24. Bệnh huyết áp cao

Cao huyết áp là một loại bệnh kéo dài. Mọi người vẫn thường cho đó là do kích thích của bên ngoài quá mạnh, lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài làm cho công năng vỏ đại não rối loạn, mất đi sự điều tiết bình thường của huyết quản mà gây nên bệnh huyết áp cao. Áp huyết của người bệnh áp huyết cao lên quá 140/90 cột thủy ngân. Người bệnh thường kèm thêm các triệu chứng đau đầu gay gắt, mắt hoa tim đập mạnh, mất ngủ, người mất thăng bằng, sức chú ý không tập trung, dễ mệt mỏi. Thời kỳ cuối thường kèm thêm bệnh đau nhói tim, công năng thận suy giảm, trúng phong.

Đông y cho rằng, huyết áp cao âm hương của gan thận mất cân bằng gây nên, coi những triệu chứng váng đầu, mắt hoa, buồn bực, ù tai, mất ngủ, bước đi lâng lâng là triệu chứng âm suy dương vượng; coi những triệu chứng như nhức đầu ghê gớm, mặt đỏ bừng bừng, khô mồm, dễ phát khùng, nước tiểu đỏ, táo bón là triệu chứng gan tích hỏa.

25. Bệnh chóng mặt

Chóng mặt là tên bệnh đông y, chóng mặt tức là mắt hoa, đầu váng. Người nhẹ triệu chứng đó đến một lát qua ngay, người bị nặng mọi vật trước mặt quay cuồng, có khi không đứng vững, còn kèm thêm nôn oẹ, vã mồ hôi, tay run, mặt xanh bạch. Chóng mặt là một loại bệnh thường gặp, rất dễ sinh ra với những người béo phì, yếu đuối và tuổi già.

Đông y chia chóng mặt làm hai loại: Một là hư chứng do khí hư thận suy, hai là thực chứng do đờm làm tắc huyệt. Biểu hiện của loại thứ nhất là đầu óc nặng trĩu, thân thể mệt mỏi, chân tay rã rời, sợ lạnh, khẩu vị kém. Loại thứ hai có những hữu hiệu: Đầu nặng trĩu, chân tay rã rời, môi thâm, mạch máu dưới lưỡi thô và thêm nấm lưỡi dầy, trơn và di chứng của những vết thương ở đầu.

26. Bệnh máu nhiễm mỡ

Mỡ trong máu tăng lên là do hậu quả chuyển hóa chất mỡ trong máu rối loạn. Thường phải dựa vào kết luận khi đo hàm lượng cholesterol và glycerin-este trong huyết tương mới có thể khẳng định được. Di truyền, môi trường và ăn uống thất thường là nguyên nhân chủ yếu sinh ra bệnh mỡ nhiều trong máu. Triệu chứng chủ yếu của bệnh này: Đau đầu, chân tay tê, mắt hoa đầu váng, đau trong ngực, thở gấp, tim đập mạnh. Bệnh nhân mỡ trong máu đến thời kỳ cuối có thể dẫn tới bệnh đau tim, xơ cứng động mạch não, công năng thận giảm sút, huyết áp cao. Y học hiện đại điều trị bệnh này chỉ yếu dựa vào ăn uống để hạ thấp mỡ, hạ thấp đường.

Đông y cho rằng, bệnh nhiều mỡ trong máu là do can, tỳ, thận hư tổn, đờm tích bên trong, thường dùng phương pháp điều chỉnh công năng của can, tỳ, thận, thông đờm mới thấy được tỷ lệ mỡ trong máu.

27. Bệnh viêm đường tiết niệu

Bệnh này phần nhiều do vi khuẩn xâm nhập hệ thống tiết niệu gây nên, bao gồm viêm niệu đạo, viêm bàng quang, viêm thận, viêm cầu thận. Biểu hiện chủ yếu của lâm sàng là nóng sốt, sợ rét, đau lưng, đái nhiều, đái gấp, niệu đạo bị đau, nước tiểu có mủ, có vi khuẩn. Do đặc điểm sinh lý của nữ giới (niệu đạo ngắn và rộng, sát với âm đạo), vì vậy bệnh này thường thấy ở phụ nữ và trẻ em gái. Nếu thời kỳ cấp tính không chữa triệt để, dễ chuyển thành mãn tính và tái phát liên tục.

28. Bệnh nước tiểu có máu

Nước tiểu có máu là đi tiểu ra máu. Lượng máu nhiều mắt thường nhìn thấy, gọi là nước tiểu có máu. Còn nếu phải dùng kính hiển vi mới phát hiện được gọi là nước tiểu có máu qua kính hiển vi. Nguyên nhân dẫn tới nước tiểu có máu rất nhiều, ngoài bệnh tật về hệ thống tiết niệu như đường tiết niệu cơ sỏi, thận có sỏi, hệ thống tiết niệu có khối u ra, còn có bệnh tật toàn thân như bệnh máu trắng, bệnh thiếu máu. Ngoài ra, trong nước tiểu có máu do tính vận động như vận động quá mạnh, hay quá mệt mỏi gây ra. ս

Nước tiểu có máu thuộc phạm vi rướm máu trong đông y. Đông y cho rằng, bệnh này là do âm hư hỏa vượng, tâm hỏa kháng thịnh, tỳ thận lưỡng khuy, nhiệt bức bàng quang gây nên.

29. Bệnh di tinh

Di tinh là một loại bệnh chưa giao hợp mà tinh dịch đã tự động xuất ra. Trong đó có mấy loại, một là vì nhớ người tình da diết, đêm ngày tơ tưởng. Nếu trong mộng giao hợp với người khác mà xuất tinh gọi là mộng tinh; hai là giữa ban ngày lúc tỉnh táo hoặc nhìn thấy nữ giới mà xuất tinh gọi là hoạt tinh.

Di tinh quá nhiều, thậm chí một ngày mấy lần, sẽ xuất hiện hàng loạt triệu chứng trên người. Đông y coi những triệu chứng như thân hình xanh xao mệt mỏi, mắt hoa đầu váng, ù tai lưng đau thuộc loại thận hư, van ống dẫn tinh không chắc. Ngủ thì mộng tinh, dương vật dễ cứng, ngủ không sâu, ù tai, tim đập nhanh thuộc loại thận âm bất túc, dục hóa thượng kháng. Di tinh có máu, tiểu tiện đau buốt, cuối nước tiểu là một loại dịch màu trắng, nấm lưỡi vàng, dày, trơn thuộc loại hạ bộ thấp nhiệt uẩn tích.

30. Bệnh đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường là do chất insulin trong cơ thể tiết ra không đủ, chuyển hóa đường rối loạn, hàm lượng đường máu nâng cao mà gây nên. Triệu chứng điển hình của bệnh này là uống nhiều, ăn nhiều và đái nhiều (còn gọi là bệnh “ba nhiều”). Những triệu chứng phụ khác như gầy gò, mệt mỏi, chân tay rã rời, ỉa chảy, da dẻ ngứa ngáy, phụ nữ bộ phận sinh dục ngoài ngứa ngáy, da dẻ lở loét. 

Đông y gọi bệnh này là bệnh “đái tháo”, cho rằng khí âm trong người hao tổn, gây nên khô và nóng. Nuôi dưỡng khí âm, giảm bớt hỏa nhiệt đó là nguyên tắc phòng và chữa bệnh đái tháo đường.

Nếu sớm phát hiện và điều trị ngay, tích cực áp dụng biện pháp cắt đứt tuần hoàn ác tính của căn bệnh, khống chế không cho bệnh phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với kết quả điều trị và cả cuộc đời con người.

31. Bệnh bướu cổ

Bệnh này do thiếu iốt, hoặc hoocmon của tuyến giáp trạng tiết ra không đủ làm cho tuyến giáp trạng sưng to, ngoài tuyến. giáp trạng sưng to, nói chung toàn thân không có triệu chứng gì khác. Phụ nữ từ 20 – 40 tuổi, nhiều người mắc bệnh này. Bệnh này phát triển chậm, thời kỳ đầu tuyến giáp trạng mềm và nhẵn. Thời kỳ cuối cứng và có thêm những hạch nhỏ, có thể chèn khí quản và thực quản. Đông y gọi bệnh này là bệnh “tràng nhạc”.

32. Bệnh béo phì

Trọng lượng thân thể vượt quá trọng lượng bình thường 20% trở lên mà không do các bệnh tật khác gây ra, chẩn đoán là bệnh béo phì. Bệnh này thường xảy ra đối với phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, bệnh có liên quan mật thiết đến yếu tố di truyền và ăn uống. Người bệnh thường sợ nóng, nhiều mồ hôi, hụt hơi, dễ mệt mỏi, váng đầu, đau đầu, tim đập mạnh, bụng chướng, hai chân phù sũng. Vì sức đề kháng của người bệnh kém nên dễ bị bệnh tim, huyết áp cao, đái tháo đường, sỏi mật, kinh nguyệt thất thường.

Phương pháp đo trọng lượng bình thường:

  • Trọng lượng thân thể nam giới (kg) = chiều cao(cm) – 100cm – (chiều cao(cm) – 150)/4.
  • Trọng lượng thân thể nữ giới (kg) = chiều cao(cm) – 100cm – (chiều cao (cm) – 150)/2.

33. Bệnh sốt nhẹ

Sốt nhẹ là một loại sốt mà kiểm tra và quan sát lâu không tìm ra nguyên nhân, nhiệt độ trong miệng thông thường từ 37,3 – 38 độ C. Sáng sớm hoặc buổi sáng bình thường, buổi chiều hoặc buổi tối, nhiệt độ tăng cao (tăng cao không phải vì hoạt động chân tay). Có người sau khi tinh thần bị xáo động, xuất hiện sốt nhẹ. Có người chỉ xuất hiện sốt nhẹ ở mùa hạ, nhưng đến mùa đông lại khỏi. Nói chung, những người mắc bệnh này thường kèm thêm các triệu chứng như thể chất kém, khẩu vị kém, mệt mỏi, tim đập nhanh, đau lưng, mất ngủ, miệng lưỡi khô nóng, bàn chân bàn tay nóng…

Đông y cho rằng, sốt nhẹ là do tỳ khí hư nhược và thận âm bất túc gây nên. Điều trị bằng hai phương pháp bổ khí và dưỡng âm là tốt nhất.

34. Bệnh vã mồ hôi trộn

Vã mồ hôi là khi tỉnh cũng ra mồ hôi, nếu vận động thì càng ra nhiều, thường kèm thêm triệu chứng sắc mặt xanh xao, tinh thần mệt mỏi, đoản hơi, ít nói, ăn ít, phân lỏng, người và chân tay đều lạnh. Ra mồ hôi trộm là chỉ khi ngủ thì ra mồ hôi, có lúc ra như tắm, tỉnh dậy thì thôi, thường có những biểu hiện gầy mòn, hai má nóng ran, mồm lưỡi khô nóng, đau lưng, ù tai. Nguyên tắc điều trị của đông y đối với bệnh này là vã mồ hôi thì ích khí cố biểu, ra mồ hôi trộm thì dưỡng âm giáng hỏa.

35. Bệnh thấp khớp

Bệnh này là một loại bệnh do sự chuyển hóa bị trục trặc gây nên, chủ yếu là do sự chuyển hóa purin trong chất alumin thất thường làm cho lượng axit uric trong máu tăng cao, muối axit uric tích tụ ở các khớp xương, tổ chức mềm sụn, thận, tạng. Từ đó xuất hiện bệnh máu có nhiều axit uric (bệnh thấp khớp cấp tính) phát ra nhiều lần, bệnh viêm khớp mạn tính, bệnh thận biến chứng, sỏi thận. Bệnh này phát ra nhanh, quá trình bệnh lâu dài, thường phát bệnh ở đàn ông trung tuổi, người bệnh thường ban đêm đột nhiên thấy đau nhói ở các khớp, kèm theo nhiệt độ cao, toàn thân đau đớn. Bệnh này có quan hệ chặt chẽ với ăn uống, di truyền, hoàn cảnh, ngoại thương.

36. Bệnh đau thần kinh tọa

Nhiễm lạnh, lao lực hoặc ngoại thương là nguyên nhân chính gây nên bệnh đau thần kinh tọa. Triệu chứng, đau từ hông đến mông đít, sau đùi, đến bắp chân, gót chân và mu bàn chân, đau kéo dài như lửa đốt hoặc kim châm, ban đêm đau nhiều. Để giảm đau đớn người bệnh thường nằm đè lên chỗ đau, bệnh kéo dài, chỗ đau sẽ bị teo cơ. Bệnh thường phát ra ở tuổi thanh niên.

37. Bệnh sốt rét

Sốt rét là một loại bệnh truyền nhiễm do cơ thể sau khi nhiễm phải vi trùng sốt rét gây nên, bệnh này thường phát sinh vào mùa hè và mùa thu. Người mắc bệnh sốt rét điển hình, thường chia ra ba giai đoạn rõ rệt.

Thời kỳ phát lạnh: Sợ rét, tuy đắp chăn rất dày, nhưng vẫn rét run bần bật, mặt mũi tái xám, môi thâm, toàn thân lạnh toát, thời kỳ này kéo dài khoảng 10 phút đến 1 giờ sau đó nhiệt độ trong người đột ngột tăng lên và bước sang thời kỳ phát nhiệt.

Thời kỳ phát nhiệt: Sốt cao (39 – 41 độ C) mặt đỏ, nhức đầu, khát nước, hô hấp khó khăn. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 4 đến 8 giờ.

Giai đoạn ra mồ hôi: Sau khi sốt cao, đột nhiên đổ mồ hôi, nhiệt độ trong người trở lại bình thường, mạch đập bình thường, cảm thấy dễ chịu đi vào giấc ngủ dễ dàng. Giai đoạn này kéo dài từ 2 đến 3 tiếng.

Đặc trưng lâm sàng: Sốt cao, thiếu máu cấp tính, củng mạc, da và nước tiểu vàng, huyết sắc tố và thận tạng bị tổn hại. Nếu phát hiện đúng bệnh, phải dừng ngay thuốc chống sốt về sau cũng không được dùng loại thuốc này nữa. Đồng thời phải đi ngay bệnh viện cấp cứu.

38. Bệnh giun đũa

Bệnh giun đũa là một loại bệnh do giun đũa ký sinh trong cơ thể gây nên. Người bệnh thường đau bụng trên hoặc đau xung quanh rốn do giun đũa gây nên. Giun đũa thường có các triệu chứng kém ăn, buồn nôn, ỉa chảy hoặc táo bón. Người bị nặng dẫn tới suy dinh dưỡng, trí tuệ và thể lực kém phát triển, có lúc tinh thần bất ổn, khó chịu, nghiến răng, ngứa ngáy, hoảng hốt. Có một số bệnh nhân bị dị ứng như thần kinh huyết quản sưng tấy, hoặc bị bệnh sởi, có lúc gây nên bệnh giun chui ống mật, tắc ruột, thủng ruột, viêm phúc mạc.

Đông y cho rằng, bệnh giun đũa là do nguyên nhân ăn uống không sạch sẽ, ăn những thứ lạnh, sống, khó tiêu, nhiệt bị tích trong người gây nên.

39. Bệnh giun kim

Bệnh giun kim là một loại bệnh ký sinh trùng thường gặp, nhất là ở trẻ con, có khi gây truyền nhiễm trong tập thể nhi đồng, thỉnh thoảng cũng có người lớn bị bệnh này. Ban đêm, giun kim bò ra hậu môn đẻ trứng làm cho xung quanh hậu môn và vùng âm môn ngứa ngáy, làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của người bệnh.

Biểu hiện bệnh, trẻ con ban đêm bỗng khóc thét lên, bực bội khó chịu, ủ rũ, mệt mỏi, không muốn ăn, gầy mòn xanh xao. Ở những bé gái giun có thể bò vào âm đạo, niệu đạo, gây viêm âm đạo, viêm niệu đạo; có một số ít người bị giun kim chui vào ruột thừa, phúc mạc gây nên viêm ruột thừa, viêm phúc mạc. Móng tay và ngón tay người bệnh có mang trứng giun kim là nguyên nhân chủ yếu gây cho mình mắc bệnh và truyền nhiễm cho người khác. Triệu chứng của bệnh này tuy không nghiêm trọng, nhưng ảnh hưởng tới sức khỏe.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :