Home / Sức Khỏe / 11 loại bệnh phụ khoa thường gặp và dấu hiệu nhận biết

11 loại bệnh phụ khoa thường gặp và dấu hiệu nhận biết

/

Bệnh phụ khoa ở nữ giới chỉ các loại bệnh lý thuộc cơ quan bộ phận sinh dục nữ như: âm đạo, âm hộ, cổ tử cung, buồng trứng, vòi trứng,…

bệnh phụ khoa thường gặp

1. Kinh nguyệt muộn và ít kinh nguyệt

Chu kỳ kinh nguyệt muộn một tuần trở lên gọi là kinh nguyệt muộn. Thời kỳ kinh nguyệt vẫn bình thường, nhưng số lượng kinh nguyệt ít gọi là ít kinh nguyệt. Kinh nguyệt muộn và ít kinh nguyệt thường đồng thời xuất hiện. Bệnh này chia làm hai loại hư và thực. Nếu thấy lưng đau, chân tay lạnh, ù tai váng đầu, đau bụng, đói mà có cảm giác nặng bụng, thích ấn bụng và ấn bụng. Đó là triệu chứng hư hàn do thận và huyết hư tổn. Nếu thấy đau bụng dưới kinh nguyệt màu sẫm mà có từng cục, cục huyết ra, bụng giảm đau, tinh thần u uất, đó là thực chứng do khí huyết trì trệ.

2. Kinh nguyệt sớm và nhiều kinh nguyệt

Chu kỳ kinh nguyệt sớm 7 ngày trở lên gọi là kinh nguyệt sớm; chu kỳ kinh nguyệt vẫn đúng, nhưng lượng kinh nguyệt tăng lên nhiều gọi là nhiều kinh nguyệt. Kinh nguyệt sớm và nhiều kinh nguyệt thường thường đồng thời xuất hiện. Người bệnh ngoài hành kinh sớm và số lượng nhiều, nếu có triệu chứng như màu kinh đỏ nhạt, chất lượng loãng, tinh thần mệt mỏi, mỏi lưng mỏi chân, váng đầu chóng mặt, đó là thể nhược hư chứng, có thể điều trị bằng phương pháp bổ khí ích thận. Nếu có thêm triệu chứng màu kinh đỏ thẫm và có từng cục máu, miệng khô thích uống nước lạnh, buồn bực dễ phát khùng đó là huyết nhiệt thực chứng. Có thể điều trị bằng phương pháp huyết thanh nhiệt.

3. Rối loạn kinh nguyệt

Loạn kinh nguyệt là chỉ chu kỳ kinh nguyệt hoặc sớm hoặc muộn từ 7 ngày trở lên. Chủ yếu là do khí huyết không điều hòa, công năng điều khiển rối loạn gây nên. Nếu biểu hiện là kinh nguyệt ít, màu nhạt, loãng, chóng mặt ù tai, chân tay rã rời, đó là do nguyên nhân tỳ thận suy tổn. Nếu biểu hiện hành kinh khó khăn, vú sưng, bụng dưới đau nhiều, đó là do nguyên nhân can khí uất kết, khí huyết trì trệ. Người bị suy tổn, dùng phương pháp bồi bổ; người bị ứ tắc, dùng phương pháp khơi thông.

4. Băng huyết

Băng huyết là một triệu chứng tương đối nghiêm trọng và phức tạp trong bệnh kinh nguyệt của phụ nữ. Băng huyết là hành kinh ra nhiều như nước chảy, hoặc số lượng ít nhưng cứ chảy mãi, trong một thời gian dài, hai trường hợp này luôn thay đổi nhau. Nếu người bệnh yếu đuối hoặc tuổi cao, tinh thần mệt mỏi, chân tay lạnh, hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi, nhiều mồ hôi, hành kinh màu nhạt và loãng, nước tiểu trong và nhiều, đó là do nguyên nhân tì thận hao tổn. Nếu người bệnh thể chất tốt mà có biểu hiện khát nước, buồn bực, nước tiểu vàng, táo bón, đau đầu, hay cáu gắt, hành kinh màu đỏ và đặc là do nhiệt tà trong huyết bức ép hành kinh xuất ra. Phương pháp điều trị là chỉ tổn phải bồi dưỡng; nhiệt thì phải giải nhiệt.

5. Đau bụng khi hành kinh

Phụ nữ khi hành kinh hoặc trước, sau khi hành kinh thấy đau bụng dưới từng cơn, có tính chu kỳ gọi là “đau kinh” hoặc “đau bụng khi hành kinh”. Bệnh này thường gặp ở phụ nữ chưa chồng, hoặc có chồng nhưng chưa có thai. Biểu hiện lâm sàng của bệnh này là, trước hoặc sau khi hành kinh hoặc trong thời kỳ hành kinh thấy đau từng cơn ở bụng dưới, có lúc đau lan tới cả âm môn, xương cùng, cơn đau có thể kéo dài vài ba tiếng hoặc 1 – 2 ngày, thường kèm theo các triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, đái rắt, táo bón, hoặc ỉa chảy, thậm chí mặt mũi xanh xao, chân tay lạnh, có khi bị choáng.

Đông y cho rằng, đau bụng kinh có bốn loại khác nhau Hàn, nhiệt, hư, thực. Thông thường, đau bụng trước hoặc khi hành kinh phần lớn thuộc “hàn”, đau sau khi hành kinh phần lớn thuộc “hư”, đau dữ dội phần lớn thuộc “thực”, đau âm y thích xoa bóp phần lớn thuộc “thực”, đau âm ỷ thích xoa bóp phần lớn thuộc “hư”. Đang đau chườm nóng thấy đỡ phần nhiều thuộc “nhiệt”; đau thậm chí chướng bụng, sau khi ra từng cục máu thấy đỡ đau hoặc đau nhói là ứ máu; chướng bụng và đau phần lớn là do khí không lưu thông được. Nguyên nhân chủ yếu gây nên đau bụng kinh là do khí huyết ứ đọng, hàn thấp ngưng trệ, khí huyết suy nhược, can thận bất túc, thấy nhiệt hạ xuống. Điều trị đau bụng kinh, trong khi hành kinh, điều huyết giảm đau, trị ngọn là chính, sau khi hành kinh tìm ra nguyên nhân mới trị gốc là chính.

6. Bế kinh

Nữ giới qua tuổi 18 mà chưa thấy kinh, hoặc đã có chu kỳ kinh nguyệt lại mất kinh từ 3 tháng trở lên, gọi là bế kinh. Loại thứ nhất gọi là bế kinh bẩm sinh, loại thứ hai gọi là bế kinh giữa chừng. Đông y gọi bế kinh là “nữ tứ bắt nguyệt” hoặc “nguyệt sự bất lai”. Căn cứ vào tính chất của bế kinh, có thể chia làm 2 loại: Hư và thực, hư là can thận bất túc, khí huyết hư nhược, huyết hải không hư, âm hư huyết táo, vô huyết khả hạ; thực là khí huyết ngưng trệ, hàn thấp ứ đọng, dẫn đến đường nước tiểu không thông, kinh nguyệt không thể xuất ra được. Nguyên tắc điều trị bệnh bế kinh: Hư thì phải bổ dưỡng để khơi thông, thực thì phải khơi ra cho dễ chảy.

7. Khí hư

Khi hư là một nước màu trắng hoặc chất nhầy như lòng trắng trứng gà chảy từ âm đạo ra, số lượng nhiều và chảy liên tục, có người mùi hôi thối và kèm theo nhiều triệu chứng khác.

Đông y chia bệnh này ra làm 2 loại: Một là tỳ hư thấp tụ thành khí hư, hai là do thận hư không giữ được nguyên khí mà thành khí hư. Triệu chứng biểu hiện của loại thứ nhất: Người hay mệt mỏi, mặt mũi xanh xao, nhiều đờm, nấm lưỡi trơn. Triệu chứng thứ 2: Lưng đau chân mỏi, chân tay lạnh sợ rét, khí hư loãng nhưng nhiều.

8. Sưng vú trước khi hành kinh

Sưng vú trước khi hành kinh là chỉ trước khi hành kinh 2 – 3 ngày, thậm chí mười mấy ngày, một bên vú hoặc hai bên vú sưng lên đau đớn. Có người còn thấy một cục cứng, động vào rất đau, có người đầu vú rất đau, rất ngứa không động áo vào được. Nhưng sau khi sạch kinh, nhiều người khỏi bệnh. Có một số ít người, cục cứng chỉ giảm đi hoặc nhỏ lại.

Đông y gọi cục cứng ấy là hạch đờm, ứ kết. Tây y gọi là “sinh lá chét”, “khối u sơ”, về mặt điều trị rất phức tạp và lâu dài hơn việc sưng vú đơn thuần rất nhiều. Đông y cho rằng, bệnh này phần lớn là do can khí uất kết gây nên, còn cục cứng là do khí, thấp, đờm kết hợp mà thành. Tây y cho rằng, bệnh này có quan hệ chặt chẽ với nội tiết và tình cảm. Thường chủ trương điều trị bằng phẫu thuật. ս

9. Phù nề khi mang thai

Sau khi mang thai thân thể chân tay mặt mũi đều nặng ra gọi là bệnh phù nề khi mang thai, đông y gọi là “Tử thũng”. Bệnh phù nề khi mang thai, phần lớn sinh ra ở giai đoạn cuối. Căn cứ vào mức độ phù nề có thể chia làm 3 loại: nhẹ, vừa, nặng. Loại nhẹ bắp chân và bàn chân sưng rõ rệt, sau khi nghỉ ngơi có thể khỏi. Loại vừa có thể sưng tới đùi và bộ phận sinh dục ngoài, có khi bụng cũng sưng loại nặng: Toàn thân phù thũng, thậm chí có cả bóng nước.

10. Nôn ọe khi mang thai

Nôn oẹ khi có thai tức là sau khi thụ thai xuất hiện hiện tượng buồn nôn, nôn oẹ, chóng mặt, chán ăn hoặc ăn vào là nôn ra. Đông y gọi là “ác trở”, “tử bệnh” “bệnh nhỉ”, “trở bệnh”. Nguyên nhân chủ yếu là do khí thai bốc lên, dạ dày không ép xuống được mà gây nên. Về phương diện lâm sàng chia làm 2 loại: Một là tỳ vị hư nhược, hai là can vị bất hòa. Loại một thường thấy buồn nôn, nôn ra nước trong, chán ăn, tinh thần mệt mỏi, thích ngủ.

Cách điều trị chủ yếu là bổ tỳ bổ vị, hạ khí thai không cho nôn oẹ. Loại thứ hai thường thấy buồn nôn, nôn ra nước chua hoặc nước đắng, tức ngực, tinh thần u uất, đẳng miệng, nóng ruột. Phương pháp điều trị là điều hòa gan và dạ dày, hạ khí thai không cho nôn oẹ. Nếu sau khi có thai chỉ thấy buồn nôn, thèm của chua, kém ăn hoặc thỉnh thoảng buổi sáng nôn oẹ ra đờm rãi. Đó là phản ứng thường có khi mới thụ thai, là hiện tượng bình thường, thường là sau 3 tháng sẽ khỏi.

11. Thai nhi không nằm đúng ngôi

Vị trí thai nhi không đúng ngôi là chỉ sau khi có thai 8 tháng, kiểm tra thai xác định đầu thai không ở bụng dưới mà chỉ thấy mông lưng, chân thai nhi. Nguyên nhân gây ra hiện tượng này có thể do tử cung phát triển không tốt, xương chậu hẹp, thai nhi phát triển không bình thường gây nên.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :