Home / Sức Khỏe / 7 chất chống oxy hóa mạnh nhất trong thực phẩm & cách dùng

7 chất chống oxy hóa mạnh nhất trong thực phẩm & cách dùng

/

Chất chống oxy hóa nổi tiếng với tác dụng ngăn ngừa lão hóa và chống ung thư, có chức năng ngăn chặn trước quá trình oxy hoạt tính tấn công tế bào gây ra lão hóa và biến đổi gen.

chất chống oxy hóa mạnh nhất trong thực phẩm

1. Chất chống oxy hóa là gì?

Chất chống oxy hóa nổi tiếng với tác dụng ngăn ngừa lão hóa và chống ung thư, có chức năng ngăn chặn trước quá trình oxy hoạt tính tấn công tế bào gây ra lão hóa và biến đổi gen.

Cơ thể chúng ta rất tinh tế nên nó không tạo ra những thứ không cần thiết, đồng thời có sức mạnh phòng tránh trước khi xảy ra tác dụng phụ. Oxy hoạt tính vốn dĩ phải thực hiện vai trò dây lui vi rút, vi khuẩn, và tấn công tế bào ung thư. 

Thế nhưng, có quá nhiều những yếu tố tạo ra oxy hoạt tính trong cuộc sống của người hiện đại, như ô nhiễm môi trường, hút thuốc trực tiếp/gián tiếp, stress và vận động nặng, tia tử ngoại, tia phóng xạ, sóng điện tử, chất gây ung thư trong thức ăn (thực phẩm gia công như thịt nguội, đồ chiên rán, đồ ăn cháy khét), dư lượng thuốc nông nghiệp trong rau hay hoa quả,… Tất cả những yếu tố này đều gây ra các vấn đề đa dạng từ những vết nhăn nhẹ tới ung thư nặng.

Khi cơ thể chúng ta không thể chịu đựng được khối lượng oxy hoạt tính lớn, một đồng minh giải vây xuất hiện. Đó chính là chất chống oxy hóa. Khi bị thiếu chất chống oxy hóa, cơ thể chúng ta phải nạp thêm càng sớm càng tốt. 

Đại đa số chất chống oxy hóa đều có trong thực phẩm mà chúng ta thường ăn. Đặc biệt hóa chất thực vật (như carotenoid, vitamin C) – chất tạo màu và hương vị đặc trưng mà rau và hoa quả tự tạo ra để bảo vệ chính chúng khỏi gió, ánh nắng và động vật cấp cao hơn như chim chính là chất chống oxy hóa rất hiệu quả.

Những chất chống oxy hóa tiêu biểu có các loại đa dạng như carotenoid (vitamin A), vitamin C, vitamin E. Hiện nay không những vẫn còn nhiều thành phần chưa được nghiên cứu ra, mà các ý kiến về hiệu năng của chúng cũng khác nhau. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những chất chống oxy hóa mạnh nhất có trong thực phẩm được biết đến rộng rãi hiện nay.

2. Các loại chất chống oxy hóa mạnh nhất

2.1. Carotenoid ngăn ngừa lão hóa

Carotenoid được gọi là “người tình trong mộng ” trong số các thành phần chống lão hóa của thế kỷ 21. Chúng là các sắc tố hòa tan trong chất béo, có màu vàng, đỏ, xanh lá cây, da cam. Nó được phân chia thành carotenoid không chuyển hóa và pro-vitamin A được hấp thụ thành vitamin A bằng đúng lượng mà cơ thể chúng ta cần. 

Carotenoid chịu nhiệt tốt và không bị hòa tan trong nước, do đó chất dinh dưỡng của nó vẫn không bị phá hủy kể cả khi nấu chín. Dù vậy, vì nó có tính hòa tan trong dầu, nên nếu nấu chín trước khi ăn thì cơ thể chúng ta sẽ dễ hấp thụ hơn so với khi ăn sống, và nấu với dầu ăn tốt hơn là luộc hay hấp.

2.2. Beta-carotene

Beta-carotene là provitamin A chuyển hóa thành vitamin A vừa đủ với khối lượng cơ thể cần, cùng với alpha-carotene, phần còn lại không bị chuyển hóa thành vitamin A sẽ nhận được sự quan tâm đặc biệt, vì đây là chất chống oxy hóa mạnh.

Tác dụng của beta-carotene làm giảm mạnh sự phát triển và tăng trưởng của ung thư, đặc biệt nó có hiệu quả mạnh mẽ để bảo vệ biểu mô như da, phổi, tử cung, hệ tiêu hóa.

Giống như vitamin E, nó có hiệu quả giảm cholesterol không tốt trong máu (LDL) để ngăn ngừa bệnh tim mạch, và có hiệu quả giảm bệnh tim mạch vượt trội hơn aspirin. 

Tuy nhiên khác với beta-carotene thiên nhiên, beta-carotene tổng hợp hầu như không có hiệu quả chống oxy hóa, mà trái lại nó còn cản trở hấp thụ beta-carotene thiên nhiên. Khi uống beta-carotene tổng hợp, chúng ta phải uống cùng thuốc chống oxy hóa khác như vitamin E thì mới an toàn.

Mặt khác, bệnh nhân xơ gan hay bệnh nhân tiểu đường, bệnh nhân mất chức năng tuyến giáp không thể chuyển hóa alpha-carotene và beta-carotene thành vitamin A, do đó, chúng ta phải tránh uống thuốc dinh dưỡng có những thành phần này.

Beta-carotene có một lượng phong phú trong rau củ và hoa quả có màu vàng cam sáng như cà rốt và bí đỏ nấu chín, súp lơ xanh, cải bó xôi, mơ vàng, khoai lang, dưa lưới, dào.

2.3. Lycopen

Lycopen là carotenoid hoàn toàn không có hoạt tính của provitamin A, nên có năng lực chống ung thư và ngăn ngừa lão hóa vượt trội hơn beta-carotene. Công dụng của lycopen đặc biệt có hiệu quả ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt nam giới, và còn “tự hào” với hiệu năng xuất chúng do ngăn ngừa bệnh ung thư phổi cho người hút thuốc lá. 

Tuổi càng cao thì nồng độ lycopen trong máu càng giảm, do đó điều quan trọng là người già phải quan tẩm bổ sung đủ lycopen vào cơ thể.

Lycopen có nhiều trong rau củ và hoa quả có màu đỏ như cà chua, dưa hấu, bưởi hồng. Đặc biệt, hàm lượng lycopen được hấp thụ vào cơ thể sẽ khác nhau hoàn toàn giữa khi ăn cà chua được nấu chín với khi ăn sống. Vì vậy, nếu có thể, bạn nên nấu chín trước khi ăn. 

Phần lớn thành phần dinh dưỡng đi theo mạch máu, truyền tới từng tế bào trong cơ thể, nhưng tế bào thần kinh của mắt có cánh cửa đặc biệt, nên rất hiểm chất dinh dưỡng có thể bước qua được cửa này.

Lutein là thành phần duy nhất đi qua được cánh cửa võng mạc, cùng với astaxanthin mà tôi sẽ giải thích ở phần dưới. Nhờ đó, nó có hiệu quả ngăn ngừa thoái hóa điểm vàng – nguyên nhân gây mù mắt nhiều nhất người già trên 65 tuổi.

Lycopen có nhiều trong rau lá xanh như cải bó xôi, bắp cải, súp lơ xanh, và phải chế biến bằng dầu thì tỷ lệ hàm lượng hấp thụ mới cao. Mặt khác, giống như axit axeto, nếu ăn cùng với thành phần cản trở hấp thụ chất béo thì lycopen cũng không thể phát huy hiệu quả hoàn toàn.

2.4. Astaxanthin

Vì con mình, cá hồi phải bơi ngược dòng nước chảy xiết và chiến thắng tia tử ngoại bỏng rát để quay trở về dòng sông để sinh con. Cội nguồn của sức mạnh để cá hồi bơi được ngược dòng nước sông chảy cuồn cuộn chính là astaxanthin.

Astaxanthin có trong vi tảo (tảo đơn bào), thông qua chuỗi thức ăn tiếp nối từ vi tảo – sinh vật phù du – động vật giáp xác (tôm, cua ghẹ) – ấu trùng – cá hồi. Nó được tích lũy trong thịt đỏ của cá hồi. Khả năng chống oxy hóa của astaxanthin được bình chọn là số một trong tự nhiên, tới mức gấp 100 lần vitamin E – chất được biết đến là chất chống oxy hóa xuất sắc.

Hơn nữa cùng với lutein, astaxanthin còn xuyên qua cửa võng mạc của mắt để cải thiện thủy tinh thể bị đục do tia tử ngoại, nên có hiệu quả phòng ngừa đục thủy tinh thể. Không chỉ cửa võng mạc, nó còn thông qua cả cửa vào não, nên trong cơ thể thật hiếm có chỗ nào mà năng lực chống oxy hóa của astaxanthin không gây ảnh hưởng.

Astaxanthin có nhiều không chỉ trong cá hồi, mà còn trong động vật giáp xác có vỏ đổi thành màu đỏ khi nấu chín như các loại cá hanh (cá tráp biển), cá pô-lắc, cá đổi Nhật (cá mắt vàng), tôm hoặc cua ghẹ. Quan trọng là ăn động vật giáp xác nguyên vỏ.

2.5. Isoflavones – estrogen thiên nhiên

Phụ nữ trung niên có chỉ số estrogen – hormone nữ tính giảm, nên trong quá trình đó, nhiều khả năng họ sẽ xuất hiện các triệu chứng mãn kinh như đỏ mặt, cảm giác nóng bừng bừng, chứng trầm cảm, bệnh loãng xương, béo phì, hay bệnh tim. 

Nếu bổ sung estrogen theo phương pháp thay thế hormone, phụ nữ có thể ngăn chặn những triệu chứng này, nhưng estrogen tổng hợp cũng có không ít tác dụng phụ như gây ung thư vú, hay ung thư nội mạc tử cung, chứng bất an.

Chất có thể giải quyết dứt điểm cả hội chứng thời kỳ mãn kinh và tác dụng phụ chính là isoflavones, còn được gọi là estrogen thiên nhiên. Hơn nữa, nó còn được biết đến là chất vượt trội để giảm tỷ lệ phát sinh ung thư đại tràng, và kiềm chế ung thư phát triển, có khả năng kiềm chế các loại ung thư như: ung thư gan, ung thư phổi, ung thư thực quản. 

Công dụng của  isoflavones hiệu quả giảm chỉ số chất béo trung tính và cholesterol để phòng ngừa bệnh tim.

Trong isoflavones – một loại hóa chất thực vật có genistein và daidzein, genistein chỉ có trong thực phẩm gia công từ đầu như các loại đậu, đậu phụ, tương bản, còn daidzein lại phong phú trong sắn dây. Nhờ đó, daidzein không chỉ có vai trò estrogen, mà còn có hiệu quả giảm cảm giác khát do say rượu, hay giải rượu.

2.6. Coenzyme Q10 ngăn chặn quá trình oxy hóa tế bào

CoQ10 được gọi là coenzyme Q10, là thành phần chống oxy hóa được phát hiện trong tế bào còn sống. Công dụng của coenzyme Q10 góp phần tổng hợp năng lượng ở ty thể, “nhà máy phát điện” của tế bào. Nếu hấp thụ đủ CoQ10, cho dù có bị thiếu oxy hoạt động của tế bào cũng không bị cản trở, nhưng chỉ cần không có CoQ10, thì tế bào phải bất lực dừng hoạt động.

CoQ10 cũng được coi như là một loại vitamin vì có cấu trúc hóa học tương tự vitamin E, vitamin K. Và khác với vitamin, nó là thành phần chỉ được sản xuất đủ lượng cần thiết trong cơ thể. 

Hơn nữa, coenzyme Q10 gần như có mặt trong hầu hết các loại thực phẩm, nên chúng ta gần như không phải lo thiếu. Nhưng có một vấn đề, đó là tuổi càng cao thì chỉ số càng thấp và nó không được cung cấp đầy đủ cho tế bào trong trường hợp người có thói quen ăn uống không lành mạnh, stress, bị lây nhiễm vi rút.

Rất nhiều bệnh tật có nguyên nhân từ lão hóa được xem là có liên quan đến việc giảm CoQ10. Đặc biệt bệnh Parkinson – bệnh do thoái hóa có liên quan trực tiếp đến CoQ10. 

Bởi lẽ, bệnh nhân Parkinson là những người có chỉ số CoQ10 trong ty thể tương đối thấp, họ có thể giảm tốc độ tiến triển bệnh nếu uống CoQ10. Hơn nữa, với những trường hợp uống thuốc thuộc họ statin để giảm cholesterol do cao huyết áp, vì statin phá hủy CoQ10 bên trong cơ thể nên họ cần bổ sung riêng thuốc CoQ10.

CoQ10 có mặt trong đại đa số thực phẩm, đặc biệt phong phú nhất trong các loại cá lưng xanh như cá thu Nhật, cá hồi, cá ngừ, cá mòi, đồng thời cũng có nhiều trong lạc, cải bó xôi. CoQ10 có tính hòa tan trong dầu, nên việc chế biến thực phẩm chứa CoQ10 cùng với dầu như xào, chiên sẽ giúp hấp thụ hiệu quả hơn.

2.7. Allicin phòng chống ung thư hiệu quả

Không quá lời khi nói rằng thành phần allicin thành phần có vị cay của tỏi, chính là nguồn gốc cho khả năng chống ung thư của loại gia vị này. Tác dụng của allicin giúp chống ung thư mạnh mẽ khi tác động làm cho tế bào loại bỏ chất gây ung thư, giảm huyết áp và chỉ số cholesterol, ngăn chặn máu dồn lại và đóng cục. 

Vì thế, tuần hoàn máu dược cải thiện để phòng ngừa xơ cứng động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Ngoài ra, nó còn có hiệu quả tuần hoàn máu cho người có tay chân và bụng dưới lạnh nếu ăn uống thực phẩm có chất allicin.

Đặc biệt, có báo cáo nghiên cứu rằng nếu bổ sung allicin trong tỏi cùng với selen, vitamin E thì mao quản được trẻ hóa, khiến máu tuần hoàn đều trong thời kỳ sinh sản, do đó nó có hiệu quả với cả bệnh vô sinh.

Allicin còn có tác dụng hỗ trợ giải độc cho gan, và có hiệu quả phòng ngừa bệnh dị ứng và hen suyễn. Nó có hiệu quả kích thích bài tiết dịch dạ dày và để phòng ngừa ung thư dạ dày, đặc biệt nó ngăn ngừa vi khuẩn Helicobacter pylori – nguyên nhân của ung thư dạ dày.

Tuy nhiên, nếu ăn quá nhiều tỏi sống lại có thể gây tác động lên cuống dạ dày. Do đó, nếu có thể, chúng ta nên nấu chín để ăn. Allicin không bị phá hủy dù được nấu chín.

Allicin phong phú trong tỏi, hành tây, họ. Thực phẩm có hàm lượng allicin chiết xuất từ tỏi nổi tiếng là thuốc phục hồi kiệt sức và tăng khả năng tình dục.

Khi kết hợp với vitamin B1 (Thiamin) trong ngũ cốc, allicin sẽ chuyển hóa thành allithiamine có tỷ lệ hấp thụ cao. Khác với vitamin B1, allithiamine thường không dễ bị đào thải và tồn lại bên trong cơ thể, nên đặc biệt nó có hiệu quả hồi phục mệt mỏi và cải thiện tinh lực

Ăn uống vitamin B1 chính là chúng ta đã “tiêm tỏi” vào cơ thể. Chỉ cần ăn tỏi đều đặn là chúng ta có thể được bổ sung đầy đủ allicin.

Rau củ có chứa lượng allicin phong phú, và nó còn chứa nồng độ cao selen, vitamin C, flavonoid, cùng các hợp chất lưu huỳnh, có tác dụng chống ung thư mạnh, giúp hiệu quả chống ung thư tăng gấp bội.

Xem thêm:

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :