Home / Sức Khỏe / Bệnh vô sinh: nguyên nhân, chẩn đoán, điều trị, phòng tránh

Bệnh vô sinh: nguyên nhân, chẩn đoán, điều trị, phòng tránh

/

Vô sinh có thể là nguyên phát với người vợ, hay với người chồng hay là với cả hai vợ chồng. Tương tự, vô sinh có thể thứ phát với người vợ, người chồng hoặc cả hai vợ chồng.

bệnh vô sinh là gì
Bài viết về bệnh vô sinh chỉ mang tính chất tham khảo, không thể thay thế kiến thức chuyên môn của các y bác sĩ chuyên khoa hiếm muộn

1. Bệnh vô sinh là gì?

Bệnh vô sinh là gì? Một cặp vợ chồng mới cưới, có sức khoẻ bình thường, sau 12 tháng chung sống, trong sinh hoạt tình dục không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào mà chưa có con thì được xếp vào nhóm vô sinh.

Vô sinh nam giới là vô sinh do nguyên nhân của người nam (có hay không kết hợp với nguyên nhân từ phía nữ giới).

Vô sinh I (Vô sinh nguyên phát) là tình trạng người phụ nữ chưa bao giờ mang thai mặc dù đã có quan hệ tình dục trong 01 năm mà không dùng các biện pháp ngừa thai.

Vô sinh II (Vô sinh thứ phát) là tình trạng mà trong tiền sử, người phụ nữ đó đã có ít nhất một lần mang thai, sinh, sẩy hoặc phá thai kế hoạch, rồi quá thời hạn 01 năm sau đó muốn có thai mà vẫn không có thai được.

Vô sinh có thể là nguyên phát với người vợ, hay với người chồng hay là với cả hai vợ chồng. Tương tự, vô sinh có thể thứ phát với người vợ, người chồng hoặc cả hai vợ chồng.

2. Nguyên nhân bệnh vô sinh ở nam và nữ

2.1. Nguyên nhân vô sinh ở nam giới

Tinh hoàn là nơi sản sinh ra tinh trùng. Tinh hoàn chịu sự chi phối nội tiết từ tuyến nội tiết trên não (vùng dưới đồi, tuyến yên) để đảm bảo cơ chế sinh tinh trùng bình thường. Tinh trùng sinh ra cần được phóng ra qua ống dẫn tinh và niệu đạo khi xuất tinh trong giao hợp để gặp trứng. Vì vậy, nguyên nhân vô sinh nam giới cũng chia thành 3 nhóm:

2.1.1. Nguyên nhân trước tinh hoàn

Là các nguyên nhân từ các tuyến trên não (vùng dưới đồi, tuyến yên): hội chứng suy sinh dục tiên phát, suy tuyến yên, u tuyến yên, tăng prolactin máu,…

Sự sinh tinh bình thường đòi hỏi phải có nội tiết tố FSH (follicle stimulating hormone), LH (luteinizing hormone) và testosterone.

FSH và LH tiết ra từ tuyến yên khi GnRH (gonadotropin releasing hormone) được kích thích tiết ra từ tuyến dưới đồi. Lượng FSH, LH tiết ra được kiểm soát bởi cơ chế phản hồi (feedback) của testosterone. Một nội tiết tố khác tên là inhibin do tế bào Sertoli tiết ra cũng có tác dụng phản hồi kiểm soát lượng GnRH và FSH sinh ra.

Hệ thống hoạt động các nội tiết tố liên quan với nhau phức tạp và khi mất cân bằng nội tiết tố, như quá nhiều inhibin, suy giảm tuyến yên, hoặc có sự bất thường của thụ cảm nội tiết tố ở bất cứ cơ quan nào sẽ có thể làm sự sinh tinh thất bại, làm giảm số lượng tinh trùng hay không có tinh trùng.

2.1.2. Nguyên nhân tại tinh hoàn

Các nguyên nhân tại tinh hoàn gồm có:

– Các bất thường nhiễm sắc thể – gen (hội chứng Klinefelter, hội chứng thừa nhiễm sắc thể Y,…).

– Không có tinh hoàn.

– Hội chứng chỉ có tế bào Sertoli.

– Nhiễm độc sinh dục (do thuốc, tia xạ).

– Viêm, chấn thương tinh hoàn.

– Bệnh toàn thân (suy thận, bệnh gan, bệnh hồng cầu hình liềm,…).

– Bệnh tinh hoàn ẩn, giãn tĩnh mạch tinh, xoắn tinh hoàn đã bị cắt,…

– Tăng nhiệt độ hoặc tác dụng tĩnh điện quanh tinh hoàn.

2.1.3. Nguyên nhân sau tinh hoàn

– Các rối loạn vận chuyển tinh trùng: các bất thường bẩm sinh hoặc mắc phải, các rối loạn chức năng, tật không có ống dẫn tinh bẩm sinh,…; điều trị kém hoặc không điều trị các loại nhiễm chlamydia, xuất hiện tế bào viêm trong tinh dịch, tắc mào tinh hay ống dẫn tinh do sẹo, lậu hoặc chlamydia.

– Các rối loạn về tính di động và chức năng của tinh trùng: các khuyết tật về đuôi tinh trùng, rối loạn về miễn dịch, nhiễm khuẩn.

– Các rối loạn về tình dục: rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh (khó xuất tinh, không xuất tinh, xuất tinh ngược dòng,…).

2.1.4. Một số nguyên nhân gây vô sinh khác

– Do cách sinh hoạt như uống nhiều rượu, hút thuốc lá, stress.

– Kháng thể bất động tinh trùng.

– Điều trị hoá chất chống ung thư.

– Tinh dịch bất thường tự phát như hội chứng OAT (oligoasthenoteratozoospermia) hoặc không tìm thấy nguyên nhân.

2.2. Nguyên nhân vô sinh ở nữ giới

2.2.1. Ống dẫn trứng

– Do nhiễm khuẩn lao, lậu cầu nhiễm các vi khuẩn thông thường qua việc hút thai, phá thai to, đặt vòng tránh thai… Nhiễm khuẩn ngược dòng từ âm đạo → buồng tử cung → vòi trứng.

– Do viêm nhiễm trong ổ bụng viêm ruột thừa, nhất là bị vỡ mủ viêm dính vùng chậu do chlamydia.

– Do lạc nội mạc tử cung gây dính vòi trứng, buồng trứng, tử cung.

– Do triệt sản.

2.2.2. Rối loạn phóng noãn

– Do suy vùng dưới đồi (yếu tố tâm lý, tổn thương não).

– Suy, u tuyến yên.

– Suy sớm buồng trứng (buồng trứng chấm dứt hoạt động trước tuổi 40).

– Buồng trứng đa nang, không có buồng trứng.

– Rối loạn kinh nguyệt (vô kinh hay thiểu kinh).

2.2.3. Tử cung

– Không có tử cung (không có tử cung và âm đạo bẩm sinh, teo âm đạo bẩm sinh).

– Dính buồng tử cung (nạo hút niêm mạc tử cung quá sâu, lao nội mạc tử cung).

– Nhân xơ tử cung dưới niêm mạc hay u xơ tử cung đẩy lồi vào buồng tử cung.

– Polyp buồng tử cung.

2.2.4. Cổ tử cung

– Do chất nhầy cổ tử cung giảm số lượng hay chất lượng.

– Do chất nhầy cổ tử cung có nhiều bạch cầu, hậu quả của viêm mãn.

– Do cổ tử cung hở eo trên các bệnh nhân có tiền căn nong cổ tử cung.

– Do cổ tử cung chít hẹp trên các bệnh nhân có mẹ dùng DES trong quá trình mang thai. Mặc dù tinh trùng và trứng bình thường nhưng vẫn không thể thụ thai.

2.2.5. Yếu tố di truyền

– Người bị hội chứng Turner thì cặp nhiễm sắc thể giới tính là XO, không thể thụ thai vì tử cung hay buồng trứng bị teo không hoạt động được.

– Hội chứng buồng trứng đa nang là rối loạn liên quan đến mất cân bằng hormon và kháng insulin gia tăng nồng độ hormon nam trong máu, đặc biệt là testosterone, gây nên rất nhiều triệu chứng: chu kỳ kinh không đều, không có kinh, rậm lông, mụn, thừa cân, rụng tóc, buồng trứng rất nhiều nang khi siêu âm… Nguyên nhân gây nên hội chứng này là do buồng trứng không thể sản xuất các hormon theo đúng tỷ lệ bình thường, có thể dẫn đến trứng rụng thưa hoặc không rụng trứng, thường thể hiện qua tình trạng kinh nguyệt thưa. Bệnh di truyền từ thế hệ trước, kết hợp với một số yếu tố từ môi trường như lối sống, chế độ ăn.

– Nhờ chất nhầy ở cổ tử cung và cấu trúc bình thường của cổ tử cung giúp tinh trùng bơi qua dễ dàng. Nếu vì một lý do nào đó gây ảnh hưởng tới chất nhầy hoặc cấu trúc của cổ tử cung làm cho tinh trùng khó sống sót và không thể bơi qua được sẽ khiến cho tỷ lệ có thai giảm.

2.2.6. Các yếu tố bệnh lý

Phụ nữ có tiền sử về nhiễm trùng bộ phận sinh dục như viêm cổ tử cung, tử cung, ống dẫn trứng, nhiễm trùng tiểu dẫn tới làm chít hẹp, viêm tắc vòi trứng do đó trứng không thể di chuyển vào buồng tử cung…

Nếu bị viêm tắc vòi trứng thì trứng và tinh trùng không thể gặp nhau để thụ tinh được, thậm chí, có thể gây ra những tình trạng như thai chết lưu, tử vong ở trẻ sơ sinh. 

Điều đặc biệt nghiêm trọng là một số loại viêm nhiễm phụ khoa nếu không được phát hiện, chữa trị sớm có thể gây ra vô sinh như chlamydia 2. Nhiễm chlamydia ở phụ nữ có thể sẽ dẫn đến những tổn thương ở vòi trứng, tắc vòi trứng. 

Một người mẹ khi bị mắc chlamydia có thể gây tử vong cho thai nhi, trẻ sơ sinh hoặc các loại bệnh khác như viêm kết mạc hay viêm phổi. Hậu quả của loại viêm nhiễm này còn nghiêm trọng hơn nếu người mắc bệnh là nam giới.

2.2.7. Các yếu tố lý, hóa

– Do uống thuốc tránh thai kéo dài. Nếu sử dụng ở liều lượng và thời gian hợp lý thì thuốc tránh thai không có ảnh hưởng gì đến sức khoẻ của bạn cũng như khả năng sinh con. Nhưng việc sử dụng thuốc tránh thai kéo dài sẽ làm ảnh hưởng tới chu kỳ kinh nguyệt, làm kinh nguyệt bị rối loạn, ảnh hưởng tới sự rụng trứng, có thể gây khó có thai lại trong vòng 6 tháng đầu sau khi dùng thuốc.

Hóa chất sinh hoạt: Các nhà nghiên cứu của Đại học California tại Los Angeles (Mỹ) đã tìm ra những bằng chứng về các hoá chất dùng trong sinh hoạt hằng ngày có trong bao bì thực phẩm, hóa chất nông nghiệp, hóa chất xử lý vải, thảm nhà và các hóa chất chăm sóc vệ sinh cơ thể liên quan đến hiện tượng vô sinh đang có chiều hướng ngày càng gia tăng của phụ nữ.

2.2.8. Các yếu tố môi trường xã hội

– Thông qua hút thuốc nicotin trong khói thuốc gây hại không chỉ với nam giới, mà ở nữ giới, việc tiếp xúc với nicotin cũng có thể gây co thắt ống dẫn trứng, làm tăng nguy cơ mang thai ngoài tử cung. 

– Hiện tượng béo phì làm thay đổi môi trường nuôi dưỡng cho trứng phát triển.

– Ở nước ta, hiện nay tỷ lệ nạo phá thai ở phụ nữ khá cao. Một biến chứng lâu dài rất thường gặp của nạo phá thai là hiếm muộn – vô sinh. Rất nhiều phụ nữ sau vài lần nạo thai đã bị vô sinh do tắc vòi trứng hoặc viêm dính buồng tử cung. Do đó, nếu chưa muốn có con, tốt nhất bạn nên sử dụng một biện pháp ngừa thai thật an toàn để dự phòng khả năng bị biến chứng vô sinh sau nạo thai.

3. Chẩn đoán bệnh vô sinh

3.1. Chẩn đoán vô sinh bằng phương pháp lâm sàng

3.1.1. Hỏi bệnh

– Nam giới:

+ Tiền sử có thói quen hút thuốc, uống rượu, nhiễm độc, tiếp xúc hóa chất.

+ Tiền sử hôn nhân và thai sản: lấy vợ mấy năm, thời gian từ khi muốn có con đến nay.

+ Tiền sử bệnh tật: quai bị, bệnh mạn tính, bệnh viêm nhiễm – lây truyền qua đường tình dục,…

+ Đặc điểm nhu cầu sinh lý, sinh hoạt tình dục, có rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh không?

+ Tiền sử gia đình về sinh sản: trong gia đình có ai chậm có con không?

– Nữ giới:

+ Tiền sử hôn nhân và thai sản: lấy chồng mấy năm, thời gian từ khi muốn có con đến nay.

+ Tình hình kinh nguyệt (chu kỳ kinh, màu sắc kinh nguyệt, đau khi có kinh), đau khi giao hợp,…

+ Tiền sử đẻ, sảy theo thứ tự thời gian.

+ Tiền sử sản khoa (đẻ thường, đẻ khó, sót rau, băng huyết).

+ Tiền sử phụ khoa (viêm nhiễm, khí hư, sốt).

+Tần suất giao hợp (bao nhiêu lần trong 1 tuần).

3.1.2. Chẩn đoán vô sinh bằng phương pháp khám bệnh

(1) Toàn thân: trạng thái tinh thần, hình dáng bên ngoài, vú, hệ thống lông (lông mu, lông nách).

(2) Thực thể: bệnh nội tiết, tim mạch, hệ tiết niệu. 

(3) Tại chỗ:

Nữ giới:

+ Bộ phận sinh dục (vú, lông mu, âm vật, môi lớn, môi bé).

+ Phát hiện các tổn thương viêm đường sinh dục (âm đạo, phần phụ cổ tử cung).

+ Phát hiện các khối u buồng trứng, u tử cung, ứ nước, ứ mủ vòi trứng.

Nam giới:

+ Bộ phận sinh dục ngoài có dị tật (không có tinh hoàn trong bìu, lỗ đái thấp, cong vẹo dương vật), viêm nhiễm, chảy mủ hoặc dịch bất thường.

+ Nhìn: vị trí lỗ niệu đạo; các hình dạng và kích thước khác nhau của dương vật và bìu, cách mọc lông mu.

+ Sờ: sờ tinh hoàn đánh giá hình dạng, kích thước, mật độ, vị trí.

+ Sờ nắn mào tinh hoàn (giãn, nang mào tinh). 

+ Sờ nắn đám rối tĩnh mạch tinh.

+ Ống dẫn tinh (xem có ống dẫn tinh không, tính chất ống dẫn tinh, hay bất sản ống dẫn tinh).

3.2. Chẩn đoán vô sinh bằng phương pháp cận lâm sàng

3.2.1. Nam giới

(1) Xét nghiệm tinh dịch đồ: Các điều kiện lấy mẫu xét nghiệm tinh dịch đồ: kiêng giao hợp từ 2 ngày đến 7 ngày, dùng ống đựng tinh dịch tiêu chuẩn và vô khuẩn. Không nên lấy tinh dịch từ nhà mang đến, không được dùng bao cao su thông thường khi lấy mẫu (vì các bao cao su thông thường có chứa chất diệt tinh trùng).

Đánh giá đại thể:

+ Sự hóa lỏng của tinh dịch (< 60 phút/37 độ C).

+ Thể tích và màu sắc (bình thường màu trắng sữa).

+ Xác định pH, bình thường > 7,2, nếu < 7,2 thì có thể tắc ống dẫn tinh 2 bên.

Đánh giá vi thể:

+ Tính chất di động của tinh trùng. Dựa vào tốc độ di chuyển của tinh trùng chia thành 4 loại: (A) di động nhanh về phía trước (> 25µm/s), (B) di động chậm chạp hoặc lờ đờ về phía trước (5µm/s đến < 25µm/s), (C) di động tại chỗ, không tiến tới (< 5µm/s) và (D) nằm im, không di động (vận tốc = 0).

+ Mật độ tinh trùng.

+ Các tế bào khác: tiền tinh trùng, tế bào biểu mô, bạch cầu.

+ Ngưng kết tinh trùng (tinh trùng kết đám). Nếu các tinh trùng ngưng kết, dính vào nhau nhiều sẽ hạn chế khả năng di chuyển của tinh trùng và hạn chế khả năng thụ tinh.

+ Hình thái tinh trùng.

Ngoài ra, còn có thể dùng các test về chức năng tinh trùng:

+ Các test đánh giá sự trưởng thành nhân tế bào.

+ Các test khảo sát tính chất nguyên vẹn của màng tinh trùng.

+ Tình trạng cực đầu của tinh trùng: kích thích phản ứng cực đầu trong môi trường thí nghiệm.

+ Tương tác giữa tinh trùng và noãn.

– Test thâm nhập noãn Hamster (HOP-test)

– Kỹ thuật xâm nhập nửa vùng trong suốt

+ Phân tích tinh trùng có hỗ trợ bằng máy tính (CASA).

+ Phân tích các vệt di chuyển của tinh trùng

(2) Xét nghiệm sinh hoá tinh dịch:

Túi tinh chứa nhiều fructose, tuyến tiền liệt chứa phosphatase acid và kẽm, mào tinh hoàn chứa carnitine và a-glucosidase. Dựa vào các đặc điểm này có thể chẩn đoán tắc đoạn nào của đường xuất tinh.

(3) Xét nghiệm kháng thể kháng tinh trùng: Chú ý loại kháng thể và hiệu giá kháng thể.

(4). Chẩn đoán hình ảnh:

Siêu âm hệ tiết niệu – sinh dục (lưu ý: tuyến tiền liệt, túi tinh, tinh hoàn, mào tinh hoàn, tĩnh mạch tinh) xem có bất thường không? Có giãn tĩnh mạch tinh không? Đo kích thước tinh hoàn… 

Chụp ống dẫn tinh: Mục đích là tìm chỗ tắc trên đường dẫn tinh.

+ Cách thức làm: gây tê tại chỗ, rạch da bìu, bộc lộ ống dẫn tinh, mở ống dẫn tinh, bơm thuốc cản quang vào ống dẫn tinh và chụp X quang. Ống dẫn tinh lưu thông tốt khi thấy thuốc cản quang làm hiện rõ ống dẫn tinh, túi tinh, bóng tinh và bóng bàng quang trên phim X quang. Nếu thấy thuốc cản quang dừng lại trên đường đi chứng tỏ có bít tắc.

3.2.2. Nữ giới

(1). Kiểm tra sự phóng noãn bằng đường cong thân nhiệt

(2). Kiểm tra tử cung, vòi trứng

– Bơm hơi vòi trứng.

Nghiệm pháp Huhner: chụp tử cung, vòi trứng, thăm dò độ thâm nhập tinh trùng vào chất nhầy cổ tử cung.

– Chụp X quang tử cung, vòi trứng để phát hiện các dấu hiệu bất thường.

(3). Kiểm tra cơ quan sinh dục

Siêu âm: phát hiện các bất thường cơ quan sinh dục như bướu, nang.

Nội soi chẩn đoán và can thiệp: chẩn đoán các bất thường sinh dục, nội soi gỡ dính vòi trứng, buồng trứng, bơm thông vòi trứng, đốt điểm buồng trứng.

3.2.3. Xét nghiệm chung

(1). Xét nghiệm nội tiết tố

– Nam giới:

+ Định lượng các giá trị cơ bản của các nội tiết tố LH, FSH, prolactin, estradiol, testosterone. Testosterone là một chỉ điểm quan trọng nhất về chức năng của tinh hoàn. Ngoài ra, có thể định lượng inhibin B. Bên cạnh FSH, inhibin B là một chỉ điểm nội tiết quan trọng nhất của quá trình sinh tinh (chức năng ngoại tiết của tinh hoàn). Khi có rối loạn quá trình sinh tinh thì nồng độ inhibin B thấp và FSH tăng cao.

+ Các chẩn đoán chức năng (các test kích thích hormone): test hCG (phát hiện được khả năng hoạt động về nội tiết của tinh hoàn do giống cấu trúc với LH); test kích thích GnRH (kiểm tra khả năng sản xuất nội tiết tố hướng sinh dục của tuyến yên).

+ Các chẩn đoán nội tiết chuyên sâu: bệnh vú to, ngoài xét nghiệm định lượng estradiol, làm thêm xét nghiệm a-fetoprotein, hCG, LDH-cholesterol. Các rối loạn tổng hợp testosterone: định lượng các chất chuyển hoá trung gian.

+ Kháng androgen: phân tích sinh học phân tử các thụ thể của androgen,…

Nữ giới:

+ Nội tiết tố hướng sinh dục (LH, FSH), nội tiết tố sinh dục (estrogen, progesteron), nội tiết tố thai nghén (hCG)… Tiến hành các thử nghiệm nội tiết để đánh giá chức năng của vùng dưới đồi, tuyến yên hay buồng trứng qua đáp ứng của nội tiết tố.

(2). Xét nghiệm về di truyền học

Xét nghiệm về di truyền học (nhiễm sắc thể, gen) để đánh giá mức độ rối loạn nhiễm sắc thể và gen.

(3). Xét nghiệm về mô học

Nam giới:

+ Chọc hút dịch mào tinh hoàn tìm tinh trùng.

+ Sinh thiết tinh hoàn (dùng kim sinh thiết hoặc mổ sinh thiết).

Nữ giới:

+ Sinh thiết niêm mạc tử cung từ ngày 21-24 của chu kỳ kinh 28 ngày, tìm thấy hình ảnh chế tiết, chỉ sử dụng 1 lần trước khi điều trị để chẩn đoán khi các xét nghiệm nói trên không rõ ràng. 

+ Lấy dịch cổ tử cung tìm hình dương xỉ.

4. Dấu hiệu nhận biết bệnh vô sinh

4.1. Dấu hiệu vô sinh ở nam giới

4.1.1. Dấu hiệu vô sinh nam tại bộ phận sinh dục

– Dương vật nhỏ, teo; dương vật không có khả năng cương cứng, hoặc chỉ cương cứng trong thời gian ngắn.

– Bìu lép, nhỏ, khi sờ vào thấy lớp da mỏng chứng tỏ tinh hoàn bị teo hoặc nằm ở vị trí khác như bụng, ống bẹn, nơi không có điều kiện thích hợp để tạo tinh dịch.

– Khi xuất tinh thì rất ít tinh dịch, tinh trùng yếu. Tinh dịch có lẫn máu, có thể do viêm tuyến tiền liệt hay viêm tinh hoàn, ung thư tinh hoàn.

– Dương vật sưng đau, tổn thương do các vết loét. Quy đầu dương vật chảy mủ xanh là biểu hiện của các bệnh như lậu, giang mai, sùi mào gà.

– Đi tiểu cảm thấy đau buốt, tiểu rắt, tiểu nhiều, nhất là vào ban đêm.

– Bị hẹp bao quy đầu, dài bao quy đầu.

– Thân và đầu dương vật bị tổn thương nhưng không đau. Điều này rất dễ dẫn đến nguy cơ ung thư, u sùi hay giang mai.

– Cảm giác sưng đau ở bìu do viêm mào tinh hoàn hay xoắn tinh hoàn.

– Tinh hoàn bị đau nhưng không phải do chấn thương. Đó có thể do viêm mào tinh hoàn thể nặng, xoắn tinh hoàn, khiến tinh trùng không di chuyển được ra ngoài và bị chết yểu. 

4.1.2. Các dấu hiệu khác chứng tỏ vô sinh

Bộ phận sinh dục là nơi có biểu hiện rõ nhất. Tuy nhiên cũng có một số biểu hiện ở các bộ phận khác cho thấy bạn cũng đang có nguy cơ bị vô sinh như:

– Cơ thể béo phì, hoặc gầy gò quá mức, da vàng, da nhăn nheo.

– Tóc rụng nhiều, bạc sớm.

– Nói thều thào, hụt hơi, giọng nói yếu ớt.

– Mắc các bệnh như suy thận, bệnh ung thư gan, tim mạch, máu trắng.

– Thường xuyên căng thẳng, stress trong thời gian dài.

4.2. Dấu hiệu vô sinh ở nữ giới

4.2.1. Chu kỳ kinh nguyệt

– Chu kỳ kinh nguyệt không đều: chu kỳ kinh nguyệt đều đặn hoặc tương đối đều đặn là biểu hiện của việc người phụ nữ có sức khỏe sinh sản tốt. Nếu người nào có chu kỳ không đều, quá ngắn hoặc quá dài (ít hơn 24 ngày, hoặc nhiều hơn 35 ngày) phải đi gặp bác sĩ ngay để phát hiện và điều trị vô sinh sớm. Một chu kỳ không đều có thể là một dấu hiệu của các bệnh liên quan đến việc rụng trứng như: rối loạn hormone làm trứng chín và rụng; có u ở tử cung, buồng trứng đa nang, bệnh u xơ tử cung, viêm khung chậu hay tử cung di dang…

– Lượng máu ở mỗi chu kỳ quá nhiều và kéo dài: thông thường, kinh nguyệt chỉ kéo dài khoảng 3-7 ngày, kéo dài hơn được coi là bất thường và nếu hầu như chu kỳ nào bạn cũng bị như thế thì rất có thể đó là dấu hiệu sớm của vô sinh. Ngoài ra, thường xuyên bị chuột rút khi đang trong chu kỳ, bạn cần đến gặp bác sĩ ngay để điều trị kịp thời, tránh những biến chứng ảnh hưởng tới khả năng sinh sản.

4.2.2. Mất cân bằng nội tiết

– Hormon điều tiết hệ thống sinh sản của cơ thể xảy ra sự mất cân bằng có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Hội chứng buồng trứng đa nang là một nguyên nhân của vô sinh được đặc trưng bởi sự gia tăng và vượt quá kích thích tố nam (androgen) ở phụ nữ.

– Các triệu chứng sau đây có liên quan tới sự mất cân bằng nội tiết và có thể là một dấu hiệu của buồng trứng đa nang: mụn trứng cá mãn tính, thường xuyên stress; quá nhiều tóc, lông mà không phải là do di truyền.

4.2.3. Các triệu chứng đau

– Chuột rút khi có kinh nguyệt.

– Giao hợp đau: khi bạn quan hệ tình dục thường xuyên thấy đau cơ quan sinh dục như âm đạo… có thể là một dấu hiệu của khối u xơ.

– Đau vùng chậu có thể là triệu chứng của một số bệnh như u xơ, bệnh viêm vùng chậu, hư hỏng tử cung, hoặc khuyết tật bẩm sinh tử cung và âm đạo.

– Đau và phình nhỏ ở bụng dưới.

4.2.4. Nhiễm trùng

– Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể là bệnh viêm vùng chậu hay các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng sinh miễn dịch.

– Nhiễm trùng do các bệnh lây lan qua đường tình dục như chlamydia có thể dẫn đến sẹo vĩnh viễn và bệnh viêm vùng chậu.

– Nhiễm nấm men thường xuyên có thể là một dấu hiệu của bệnh viêm vùng chậu hay các vấn đề miễn dịch.

4.2.5. Bên cạnh đó còn có các triệu chứng khác về thể chất có thể là dấu hiệu của vô sinh hiếm muộn

– Giảm cân hay tăng cân do các yếu tố như béo phì hoặc tập thể dục quá nhiều có thể gây gián đoạn cho các chu kỳ kinh nguyệt và dẫn đến đa nang buồng trứng.

– Bị thoát vị có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, từ bụng đẩy thông qua thành bụng, gây ra các triệu chứng bao gồm một phần lồi ra ở bụng, áp lực, đau đớn, và cảm giác khó chịu.

– Sốt cao có thể là một dấu hiệu của bệnh viêm vùng chậu hoặc đường tiết niệu bị nhiễm trùng, cần phải đưa đến bệnh viện ngay lập tức.

5. Quan điểm vô sinh theo y học cổ truyền

Trong y học cổ truyền, vô sinh cũng được chia làm hai loại: vô sinh nam và vô sinh nữ. Vô sinh nam thuộc phạm vi các chứng bệnh như “bất dục”, “vô tử”, “tuyệt dục”, “nam tử nán tự”, “vô tinh”, “thiểu tinh”, “lãnh tinh”… Vô sinh nữ thuộc phạm vi các chứng bệnh như “bất dựng”, “toàn vô tử”, “đoạn tự”, “chủng tử”, “tử tự”, “tự dục”, “cầu tự”… Phương pháp trị liệu vô sinh nam và vô sinh nữ cũng khác nhau.

5.1. Vô sinh nam giới theo y học cổ truyền

Suy giảm chức năng sinh sản nam đã được đề cập trong y học cổ truyền. Y học cổ truyền cho rằng công năng sinh dục của nam giới là tổng hợp công năng của các tạng phủ, khí huyết, tân dịch. Khi bất cứ một yếu tố nào xuất hiện bất thường đều có khả năng ảnh hưởng đến chức năng sinh dục mà dẫn đến suy giảm chức năng sinh sản.

5.1.1. Nguyên nhân

Tiên thiên bất túc, phòng dục quá độ, tình chí thất điều, cửu bệnh lao quyện, ẩm thực bất tiết, độc tà xâm phạm.

5.1.2. Cơ chế bệnh sinh

– Thận dương hư suy, công năng sinh tinh bất túc.

– Thận âm hư tổn, âm tinh bất túc, tướng hỏa vong động.

– Tỳ thận dương hư, thận mất ôn ấm, thận tinh không hóa, tỳ mất kiện vận, dẫn tới thủy thấp nội đình.

– Khí huyết khuy tổn, thận mất nguồn hóa sinh. Can uất khí trệ, huyết mạch ứ trở mà can mất chức năng sơ tiết.

– Tỳ mất kiện vận, đàm thấp nội uẩn.

5.2. Vô sinh nữ giới theo quan điểm y học cổ truyền

Theo y học cổ truyền, vô sinh do nữ gọi là chủng tử môn. Chủng tử môn bao gồm các chứng trạng không thụ thai được hoặc đã thụ thai được mà không có khả năng giữ để noãn bào đã thụ thai ở lại trong bào cung hoặc không phát triển thành thai nhi.

5.2.1. Nguyên nhân

Người phụ nữ vô sinh thường do 2 loại nguyên nhân: tiên thiên bất túc và bệnh lý hậu thiên. Về bệnh lý hậu thiên thường gặp là: thận dương hư, huyết hư và đờm thấp, can khí uất.

5.2.2. Cơ chế bệnh sinh

Thận dương hư: người phụ nữ vốn có cơ thể hư nhược hoặc do bệnh tật ảnh hưởng, do phòng dục vô độ, lao động quá sức hoặc tình chí rối loạn đều làm cho thận dương hư, thận khí yếu nên tinh huyết kém, mạch xung nhâm hư tổn, bào cung không được nuôi dưỡng tốt.

Huyết hư: cơ thể suy yếu, huyết không đủ nuôi dưỡng bào cung.

Đờm thấp: cơ thể vốn đờm thấp thịnh hoặc ăn nhiều chất béo bổ sinh đờm thấp tích trệ ở bào cung làm ảnh hưởng đến chức năng sinh dục của bào cung.

Can khí uất: do sự thay đổi tình chí, can khí uất, khí cơ không thông lợi, mạch xung nhâm thất điều cũng ảnh hưởng đến thụ tinh.

6. Phương pháp điều trị vô sinh hiếm muộn

Thụ tinh ở người là một hiện tượng phức tạp và kém hiệu quả. Trong đa số trường hợp vô sinh ít nhiều đều có vai trò của cả hai vợ chồng, mặc dù nguyên nhân chính có thể chỉ thấy ở một người. Đối với những cặp vợ chồng không may mắn, cần thiết phải có sự hỗ trợ của y khoa. Tùy theo nguyên nhân, các cặp vợ chồng sẽ được điều trị bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thích hợp.

Theo phân loại của nhiều trung tâm, thụ tinh nhân tạo không xếp vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Người ta định nghĩa các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bao gồm những kỹ thuật điều trị vô sinh, trong đó có chọc hút trứng và đem trứng ra ngoài cơ thể. Tuy nhiên, trong điều kiện các kỹ thuật điều trị vô sinh vừa mới phát triển, để đơn giản và dễ hiểu trong việc sử dụng thuật ngữ, đề nghị nhập kỹ thuật thụ tinh nhân tạo vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

6.1. Nguyên tắc điều trị vô sinh

Điều trị vô sinh cần dựa vào nguyên nhân gây ra vô sinh.

6.2. Điều trị nội khoa

– Điều trị kháng sinh đặc hiệu cho các trường hợp viêm nhiễm đường tiết niệu sinh dục.

– Dùng corticoid trong vô sinh có kháng thể kháng tinh trùng.

– Điều chỉnh nội tiết tố trong các trường hợp có rối loạn nội tiết tố: nhóm LH, nhóm FSH, nhóm androgen,…

– Điều trị rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh,…

– Dùng thuốc y học cổ truyền.

6.3. Điều trị ngoại khoa

6.3.1. Điều trị tắc vòi trứng

Bơm hơi hoặc bơm KS chống dính, chụp tử cung, vòi trứng. Khi vòi trứng bị tắc có chỉ định nội soi. Trong trường hợp vòi trứng tắc nhiều, có chỉ định thụ tinh trong ống nghiệm (I.V.F.).

6.3.2. Phẫu thuật một số bệnh gây ảnh hưởng đến sự thụ tinh và đời sống tinh trùng

Phẫu thuật cắt bỏ khối u xơ tử cung, bóc tách u nang buồng trứng, thắt tĩnh mạch tinh giãn, hạ tinh hoàn.

6.3.3. Phẫu thuật tạo hình phục hồi đường dẫn tinh và dương vật

– Nối ống dẫn tinh – ống dẫn tinh, nối ống dẫn tinh – mào tinh hoàn.

– Mổ dị tật lỗ đái, xơ cứng vật hang dương vật.

– Cắt nội soi mở rộng ụ núi hoặc mở rộng cổ túi tinh trong những trường hợp bị chít hẹp không phóng xuất được tinh dịch.

6.4. Các phương pháp hỗ trợ sinh sản

6.4.1. Bơm tinh trùng vào buồng tử cung – IUI

Thuật ngữ bơm tinh trùng vào buồng tử cung (intrauterine insemination – IUI) được dùng để chỉ kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bằng bơm tinh trùng trực tiếp vào buồng tử cung nhằm giảm một số tác dụng có hại lên tinh trùng như pH acid của âm đạo, chất nhầy cổ tử cung (trong trường hợp chất nhầy có hại cho tinh trùng). IUI còn có một lợi điểm lớn là mang số lượng tinh trùng có độ di động tốt, khả năng thụ tinh cao, cô đặc trong một thể tích nhỏ đến gần trứng hơn.

Từ khi các kỹ thuật chuẩn bị tinh trùng như sử dụng thang nồng độ, swim-up phát triển, sử dụng tinh trùng đã chuẩn bị và cô đặc đã trở thành chuẩn mực trong kỹ thuật IUI. Kỹ thuật này hiện tại trở thành kỹ thuật điều trị hiếm muộn phổ biến và hiệu quả cho những trường hợp buồng trứng và vòi trứng còn hoạt động bình thường.

Việc sử dụng tinh trùng qua lọc rửa đã làm tăng tỷ lệ thụ thai và giảm các tai biến như nhiễm trùng, co thắt tử cung, sốc phản vệ.

Các chỉ định thực hiện IUI hiện nay:

+ Bất thường phóng tinh: lỗ tiểu đóng thấp, xuất tinh ngược dòng, bất lực do nguyên nhân thực thể hay tâm lý.

+ Vô sinh nam: tinh trùng ít, yếu, dị dạng.

+ Yếu tố cổ tử cung: chất nhầy cổ tử cung không thuận lợi, ít chất nhầy.

+ Miễn dịch: kháng thể kháng tinh trùng ở nam giới (tụ kháng thể), kháng thể kháng tinh trùng ở nữ (cổ tử cung, huyết thanh).

+ Vô sinh không rõ nguyên nhân.

+ Lạc nội mạc tử cung: nhẹ, vừa.

+ Rối loạn phóng noãn.

+ Phối hợp nhiều bất thường trên.

Ưu điểm điều trị vô sinh bằng phương pháp IUI:

+ Kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, có thể thực hiện nhiều lần.

+ Kết quả điều trị thay đổi tùy tiên lượng bệnh nhân và chỉ định điều trị. Nếu có thể thực hiện nhiều lần (trung bình 3 lần), tỷ lệ có thai dồn rất khả quan.

Nhược điểm:

+ Tỷ lệ thành công thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào chỉ định điều trị và kỹ thuật thực hiện của từng trung tâm.

+ Thường phải thực hiện nhiều chu kỳ điều trị, phối hợp kích thích buồng trứng.

+ Nguy cơ quá kích buồng trứng và đa thai.

Kết quả:

+ Thường tính bằng tỷ lệ có thai trên chu kỳ điều trị. Tỷ lệ thành công của IUI có thể thay đổi từ 0% đến 50%. Tỷ lệ thành công trung bình của một chu kỳ nói chung khoảng 10-15%.

+ Tỷ lệ có thai lâm sàng giảm dần theo tuổi người phụ nữ. Tỷ lệ này giảm hẳn nếu bệnh nhân trên 35 tuổi. Đối với các trường hợp trên 40 tuổi, tỷ lệ có thai thường không quá 5%. Theo một số thống kê, tỷ lệ có thai đối với bệnh nhân trên 40 tuổi chỉ khoảng 1-2%.

6.4.2. Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi – IVF/ET

Kể từ năm 1978, khi Louise Brown, em bé đầu tiên trên thế giới ra đời theo phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm do hai tác giả Robert Edwards, và Patrick Steptoe thực hiện, phương pháp này đã có những bước phát triển vượt bậc giúp cho các bệnh nhân hiếm muộn có được con, điều trước đây là không thể.

Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm có nghĩa là cho trứng và tinh trùng kết hợp với nhau trong phòng thí nghiệm, sau đó phôi hình thành sẽ được chuyển trở lại buồng tử cung. Quá trình phát triển của phôi và thai sẽ diễn ra bình thường trong tử cung người mẹ. Thụ tinh trong ống nghiệm chiếm trên 50% các chu kỳ điều trị với ART hiện nay trên thế giới.

Khởi đầu, phương pháp này được chỉ định trong những trường hợp tắc ống dẫn trứng hai bên, hoặc hai vòi trứng đã bị cắt do phẫu thuật phụ khoa hay do thai ngoài tử cung, làm cho tinh trùng và trứng không thể gặp nhau được trên vòi trứng và do đó không thể có sự thụ tinh. 

Nhưng sau đó, phương pháp đã được mở rộng ra những chỉ định khác, ngoài chỉ định tắc vòi trứng đơn thuần cổ điển, như: lạc nội mạc tử cung vùng chậu, vô sinh không rõ nguyên nhân, thất bại nhiều chu kỳ với phương pháp bơm tinh trùng vào lòng tử cung, vô sinh nam do bất thường tinh trùng dạng nhẹ.

Nguyên tắc của thụ tinh trong ống nghiệm là kích thích buồng trứng để nhiều nang noãn phát triển trong một chu kỳ, sau đó chọc hút nang noãn để lấy noãn ra bên ngoài cơ thể. Cho tinh trùng và noãn tiếp xúc với nhau bên ngoài cơ thể (trong phòng thí nghiệm). Khi phôi hình thành sẽ được chuyển trở lại buồng tử cung người phụ nữ để phát triển thành thai bình thường.

Để thực hiện một trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm, các bước sau đây sẽ được thực hiện:

Bước 1: Chích thuốc cho người vợ với những liều thích hợp và với những phác đồ khác nhau tùy từng bệnh nhân để tạo nhiều nang noãn phát triển từ 2 buồng trứng.

Bước 2: Chọc hút qua đầu dò siêu âm để lấy những noãn bào trong các nang trứng đó, cho vào labo.

Bước 3: Cho tinh trùng thụ tinh với trứng.

Bước 4: Sau khi phát triển thành phôi, thực hiện việc chuyển phôi vào buồng tử cung. Sau bước này, việc có thai phụ thuộc vào sự làm tổ của phôi vào nội mạc tử cung.

Bước 5: 2 tuần sau chuyển phôi, định lượng beta HCG để xác định có thai hay không. Nếu beta HCG (+), bệnh nhân được xem là có thai sinh hóa.

Bước 6: Sau khi có tim thai trên siêu âm, bệnh nhân được xem là có thai lâm sàng.

Bước 7: Nếu thai duy trì được đến ít nhất 12 tuần, thai được xem là thai đang diễn tiến. 

Ưu điểm điều trị vô sinh bằng phương pháp IVF/ET:

+ Ưu điểm lớn nhất của thụ tinh trong ống nghiệm là hiệu quả điều trị cao hơn hẳn IUI. Hiệu quả của phương pháp điều trị này vượt trội so với các nguy cơ có thể có trong điều trị.

+ Thụ tinh trong ống nghiệm có thể xem là một phương pháp vừa có giá trị chẩn đoán vô sinh. vừa điều trị.

Nhược điểm:

+ Có một số nguy cơ có thể xảy ra cho người phụ nữ và trẻ như: hội chứng quá kích buồng trứng, đa thai, sinh non.

+ Chi phí điều trị cao.

+ Thụ tinh trong ống nghiệm không trực tiếp điều trị nguyên nhân gây vô sinh mà chỉ tạo điều kiện để quá trình thụ tinh diễn ra bên ngoài cơ thể.

+ Kết quả: Tỷ lệ thành công của mỗi chu kỳ điều trị IVF trung bình trên thế giới hiện nay khoảng 25%. Tỷ lệ có thai lâm sàng hiện nay phổ biến trong khoảng 35-40%. Tỷ lệ này phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, chỉ định điều trị và phác đồ của từng trung tâm.

6.4.3. Bơm tinh trùng vào bào tương noãn – ICSI

Vào giữa thập niên 1990, phương pháp bơm tinh trùng vào bào tương noãn được đưa vào lâm sàng, lập tức đã được sự quan tâm đặc biệt trong chuyên ngành hiếm muộn. Với chỉ 1 tinh trùng bơm vào bào tương noãn của một trứng, phương pháp này đã mở ra một cuộc cách mạng trong điều trị những trường hợp hiếm muộn do nguyên nhân nam bị nặng mà với phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm thông thường không thể giải quyết được.

Từ phương pháp ICSI, các chuyên gia thụ tinh trong ống nghiệm mở rộng ra việc điều trị cho các trường hợp vô tinh. Trên các bệnh nhân này, người ta có thể lấy ra một số lượng rất ít tinh trùng từ trong mào tinh, hoặc tinh hoàn, rồi sau đó thực hiện thủ thuật ICSI vào trứng của người vợ; đồng nghĩa với việc người cha có được một đứa con với gen của mình, điều mà trước đây họ có nằm mơ cũng không thấy được.

Nguyên tắc của kỹ thuật ICSI là tiêm trực tiếp một tinh trùng vào bào tương noãn trưởng thành để tạo phôi. Phôi sau đó được chuyển vào tử cung người vợ để đậu thai và phát triển bình thường. 

Cũng như IVF, trong ICSI người ta cũng thực hiện kích thích nhiều nang noãn phát triển, chọc hút noãn để lấy noãn ra ngoài cơ thể. Với ICSI, ta chỉ cần một tinh trùng sống để có thể thụ tinh noãn, tạo phôi phát triển thành thai.

Tuy chỉ mới phát triển chưa đầy 20 năm nhưng ICSI đã chiếm gần 50% các chu kỳ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Ở một số trung tâm, 100% các chu kỳ hỗ trợ sinh sản đều thực hiện ICSI. Hiện nay ICSI được xem là phương pháp điều trị vô sinh nam hiệu quả nhất, tỷ lệ có thai của một chu kỳ điều trị thường trên 30%.

Ưu điểm: tỷ lệ thụ tinh cao hơn, làm số phôi có được nhiều hơn; nhiều khả năng chọn lọc được phôi tốt để chuyển vào buồng tử cung khiến tỷ lệ có thai cao hơn.

Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy, đối với các trường hợp vô sinh có nguyên nhân không liên quan đến nam giới, tỷ lệ thành công của ICSI tương đương với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển.

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của ICSI như tuổi người vợ, nguyên nhân vô sinh, số phôi chuyển, chất lượng phôi. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công của ICSI không phụ thuộc vào chất lượng tinh trùng. Trong một báo cáo năm 2002, tuổi người vợ và số phôi tốt được chuyển vào buồng tử cung là hai yếu tố có giá trị tiên lượng tốt nhất khả năng thành công của một chu kỳ ICSI.

6.4.4. Những phương pháp hỗ trợ sinh sản khác

Hiện nay đã có nhiều phương pháp mới giúp nâng tỷ lệ thành công trong hỗ trợ sinh sản lên cao hơn:

Nuôi trưởng thành trứng non trong ống nghiệm (IVM): chọc hút trứng non từ buồng trứng vì nhiều lý do không thể kích thích buồng trứng của bệnh nhân. Sau đó cấy trứng trong môi trường chuyên biệt, thụ tinh rồi cấy phôi và chuyển phôi vào buồng tử cung. IVM thường áp dụng cho những trường hợp hội chứng buồng trứng đa nang cần làm thụ tinh trong ống nghiệm.

Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng: là kỹ thuật làm mỏng hoặc tạo một lỗ thoát trên màng của phôi nhằm cải thiện tỷ lệ có thai và tỷ lệ làm tổ của phôi. Kỹ thuật này có hiệu quả trên một số đối tượng như bệnh nhân lớn tuổi (> 37 tuổi), bệnh nhân làm IVF thất bại nhiều lần, bệnh nhân có nồng độ FSH cao, phôi có độ dày ZP > 15µm.

Các phương pháp phẫu thuật lấy tinh trùng:

+ Vô sinh do không có tinh trùng là trường hợp không tìm thấy tinh trùng trong tinh dịch. Không có tinh trùng chia làm hai nhóm: tắc nghẽn và không tắc nghẽn. Trong trường hợp không có tinh trùng do tắc, tinh hoàn vẫn sinh tinh bình thường nhưng tinh trùng không thể ra bên ngoài. Nguyên nhân thường gặp là do bẩm sinh, nhiễm trùng đường sinh dục hoặc do thắt ống dẫn tinh. Trong cả hai trường hợp vô sinh không có tinh trùng do tắc hay không do tắc, người ta đều có thể phẫu thuật để lấy tinh trùng và thực hiện ICSI.

+ Lấy tinh trùng từ mào tinh bằng vi phẫu thuật (MESA): là phương pháp thụ tinh trùng qua phẫu thuật mào tinh. Tỷ lệ thành công của MESA trên 90% và tinh trùng thường thu được nhiều và có thể trữ lạnh. Tuy nhiên phương pháp này cũng có một số khuyết điểm như tính xâm lấn cao, dịch thu được lẫn nhiều hồng cầu và tình trạng dây dính nhiều sẽ gây khó khăn cho những trường hợp phải phẫu thuật lần sau. Kỹ thuật này chỉ thực hiện với trường hợp không có tinh trùng do tắc.

+ Lấy tinh trùng từ mào tinh bằng xuyên kim qua da (PESA): là phương pháp thụ tinh trùng mà không cần phẫu thuật mở bao tinh hoàn và bộc lộ mào tinh. So với MESA, tỷ lệ thành công của PESA thấp hơn (khoảng 65%), nhưng là phương pháp ít xâm lấn, có thể thực hiện được nhiều lần, đơn giản hơn và tinh trùng thu được thường ít lẫn máu và xác tế bào. Tương tự MESA, kỹ thuật lấy tinh trùng từ mào tinh bằng xuyên kim qua da thường chỉ được áp dụng cho những trường hợp không có tinh trùng do tắc.

+ Lấy tinh trùng từ tinh hoàn bằng chọc hút (TESA): sau khi gây tê và cố định tinh hoàn, phẫu thuật viên đâm kim qua da vào mô tinh hoàn và hút từ từ ra mẫu mô. Thường phải hút nhiều mẫu mô ở nhiều vị trí khác nhau. Kỹ thuật này có thể thực hiện cho cả 2 trường hợp không có tinh trùng do tắc hoặc không do tắc.

+ Lấy tinh trùng từ tinh hoàn bằng phẫu thuật xẻ tinh hoàn (TESE): kỹ thuật này tương tự sinh thiết tinh hoàn. Phẫu thuật bộc lộ tinh hoàn và lấy nhiều mẫu mô tinh hoàn. Các mẫu thu được sẽ được tách nhỏ hoặc sử dụng một số loại men để tăng khả năng thu được tinh trùng từ các ống sinh tinh. Tỷ lệ thu được tinh trùng khoảng 50% đối với các trường hợp không có tinh trùng không do tắc. Kỹ thuật này có thể thực hiện cho cả 2 trường hợp không có tinh trùng do tắc hoặc không do tắc.

– Chẩn đoán di truyền phôi tiền làm tổ.

– Trữ lạnh phôi, tinh trùng, noãn.

7. Điều trị vô sinh theo quan điểm y học cổ truyền

7.1. Điều trị vô sinh nam

Y học cổ truyền chia vô sinh nam thành 8 thể bệnh:

7.1.1. Thận âm hư

Chứng trạng: tinh dịch lượng ít, số lượng tinh trùng giảm, lưng đau, gối mỏi, đầu choáng, mắt hoa, nóng lòng bàn tay và bàn chân, có cảm giác sốt về chiều, ngủ kém, vã mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưỡi đỏ ít hoặc không rêu.

Phương pháp điều trị: tư âm bổ thận, điền tinh.

7.1.2. Thận dương bất túc

Chứng trạng: tinh dịch lạnh loãng, số lượng tinh trùng giảm, độ di động kém, mệt mỏi, khó thở, sắc mặt trắng bệch, tay chân lạnh, sợ lạnh, liệt dương hoặc di tinh, tiểu đêm nhiều lần, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch yếu nhược.

Phương pháp điều trị: ích thận ôn dương, bổ tinh.

7.1.3. Khí huyết hư

Chứng trạng: tinh dịch loãng, số lượng tinh trùng giảm, không ham muốn tình dục, liệt dương hoặc xuất tinh sớm, gầy yếu, sắc mặt không tươi, hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, hay quên, ăn kém, đại tiện lỏng nát, lưỡi nhợt ít rêu.

Phương pháp điều trị: ích khí kiện tỳ, dưỡng huyết sinh tinh.

7.1.4. Tỳ thận lưỡng hư

Chứng trạng: tinh dịch lạnh loãng, số lượng và chất lượng tinh trùng suy giảm, không ham muốn tình dục, liệt dương hoặc di tinh, lưng đau, gối mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, bụng đầy chậm tiêu, ăn kém, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch chìm và yếu.

Phương pháp điều trị: ôn bổ tỳ thận, ích khí sinh tinh.

7.1.5. Thấp nhiệt hạ chú

Chứng trạng: tinh dịch đặc lâu hóa lỏng và có nhiều bạch cầu, chất lượng tinh trùng giảm, tỷ lệ chết nhiều. Sau sinh hoạt hay đau tức dương vật và tinh hoàn, tiểu tiện sẻn đỏ, có cặn đục, chân tay mỏi nặng, tâm phiền miệng khát, đại tiện khó, lưỡi đỏ rêu vàng dính.

Phương pháp điều trị: phải thanh nhiệt lợi thấp, tiêu thũng giải độc.

7.1.6. Đàm trọc ngưng trệ

Chứng trạng: tinh dịch lượng ít, không có hoặc có rất ít tinh trùng, khó xuất tinh, tinh hoàn hay sưng nề đau cứng, đầu choáng mắt hoa, tức ngực, béo trệ, lưỡi bệu và có vết hằn răng.

Phương pháp điều trị: hóa đàm lý khí, hóa kết thông lạc.

7.1.7. Huyết ứ trở trệ

Chứng trạng: giãn tĩnh mạch thừng tinh, đau khi xuất tinh, không có hoặc có rất ít tinh trùng, tỷ lệ chết cao, trong tinh dịch có hồng cầu, bụng dưới và dịch hoàn đau chướng, lưỡi có nhiều điểm ứ huyết.

Phương pháp điều trị: phải hoạt huyết hóa ứ thông tinh.

7.1.8. Hàn trệ can mạch

Chứng trạng: tinh dịch lạnh loãng, bộ hạ đau chướng và lạnh, sau sinh hoạt bụng dưới và tinh hoàn đau tức, lưng đau gối mỏi, tay chân lạnh, sợ lạnh, lưỡi nhợt và bệu, mạch căng như dây đàn.

Phương pháp điều trị: noãn can tán hàn, ôn kinh hành khí.

7.2. Một số kinh nghiệm điều trị vô sinh khác

7.2.1. Tinh suy

Triệu chứng: lưng đùi tê mỏi, tinh thần mỏi mệt yếu sức, kiêm chứng tinh dịch loãng, không thiết tha về sinh lý, tinh trùng giảm ít.

Phương pháp điều trị: thận hư tinh yếu.

7.2.2. Dương hư

Triệu chứng: Không có con, kiêm các chứng dương nuy, tảo tiết hoặc kiểm tra số lượng tinh trùng quá ít, hoặc số tinh trùng hoạt động không nhiều, hoặc tinh trùng dị dạng phần nhiều do tinh suy dương yếu.

7.2.3. Vô tinh

Triệu chứng: Nếu kiểm tra không có tinh trùng thì phải bổ thận trợ dương sinh tinh ích tuỷ.

7.2.4. Dương hư ứ trệ

Triệu chứng: Dương hư tinh yếu mà kiêm chứng sắc mặt đen sạm, chất lưỡi tía tối là do tinh huyết của thận nguyên dương bất túc, lại kiêm cả ứ trệ.

7.2.5. Tỳ hư

Triệu chứng: Kiêm chứng đại tiện lỏng, ăn kém là do tỳ khí hư yếu thận tinh kém.

Phương pháp điều trị: Kiện tỳ bổ thận.

7.2.6. Thấp nhiệt

Triệu chứng: Phòng lao quá độ hoặc có tiền sử tổn thương bộ phận sinh dục mà không sinh con được, kiêm chứng phát sốt về chiều, tâm phiền khát nước, tiểu tiện vàng, đại tiện táo, lưng đùi tê mỏi, đổ mồ hôi trộm, lưỡi ít rêu hoặc rêu vàng nhớt, hoặc kiểm tra tinh dịch không biến hoá.

Phương pháp điều trị: Can thận âm hư kiêm cả thấp nhiệt.

7.2.7. Tỷ phế khí hư

Triệu chứng: Vô sinh dễ bị cảm, tắc mũi, họng đau khái thấu, đại tiện nhão hoặc ăn uống không giữ gìn nóng lạnh là đại tiện lỏng, nôn mửa, buồn nôn, trướng bụng, đau bụng hoặc váng đầu tự ra mồ hôi, sắc mặt kém tươi, mạch tế nhược, lưỡi nhạt rêu trắng, cạnh lưỡi có vết răng.

7.3. Điều trị vô sinh nam không dùng thuốc

Thanh tâm quả dục: tinh sinh huyết, không những giao cấu tổn tinh mà tất cả những việc làm tổn huyết cũng phải kiêng. Do đó cần phải lao động có tiết độ (tiết lao).

– Thận chủ bế tàng, can chủ sơ tiết, hai tạng này đều có tướng hỏa, đều liên hệ vào tâm mà tâm là quân hỏa. Vì vậy giận tổn thương can, tướng hỏa động thì động đến chức năng sơ tiết của can, bế tàng của thận, tuy không giao cấu mà tinh cũng chảy ngầm. Do đó, phải luôn cho tinh thần được thư thái, thanh tâm kiềm chế cái ham muốn, cái dục vọng vào trong.

– Rượu làm động huyết, uống rượu thì mặt đỏ, tay chân đỏ, đó là làm loạn huyết. Người khí huyết suy, phải vài ba tháng không giao cấu thì tinh mới đặc lại. Nếu đêm nào say rượu thì tinh loãng ngay. Do đó phải kiêng rượu. 

Sách Nội kinh nói: tinh không đủ thì bổ bằng vị ăn. Nhưng vị nồng gắt thì không thể sinh tinh được, chỉ có vị điềm đạm mới có thể bổ tinh. Thiên hồng phạm bàn về vị ăn có nói: các sản vật thế gian chỉ có ngũ cốc là vị chính yếu, nếu có thể ăn thuần ngũ cốc rất hay sinh tinh, như nấu cháo và cơm, trong đó có chất nước đặc tụ lại thành đám, đó là dịch của gạo tụ lại, ăn vào rất có thể sinh tinh, cho nên phải cẩn thận thức ăn.

– Châm cứu chữa bệnh vô sinh của nam.

Châm cứu có thể có vai trò trong việc chữa trị một số dạng vô sinh nam nhất định. Các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Christian Lauritzen (Đức) đã ghi nhận được sự cải thiện về chất lượng tinh trùng sau khi châm cứu, đặc biệt là tính nguyên vẹn về cấu trúc của tinh trùng.

Một nghiên cứu đã làm liệu pháp châm cứu ở 28 đàn ông có những dị tật về tinh trùng, bao gồm tinh trùng không di động, dị dạng và số lượng tinh trùng thấp. Một tập hợp các huyệt đạo tiêu chuẩn trên toàn cơ thể đã được sử dụng. Kết quả châm cứu cho thấy sự gia tăng đáng kể tỷ lệ phần trăm và số lượng tinh trùng không có dị tật về cấu trúc.

7.5. Điều trị vô sinh nữ

Theo y học cổ truyền, vô sinh nữ chia làm 4 thể:

7.5.1. Thể thận hư

Triệu chứng: Bụng dưới lạnh, có lúc đau âm ỉ, hành kinh thường muộn, sắc nhợt lượng ít, lưng gối mỏi, tiểu nhiều lần, nước tiểu trong, ít dục tính, thân lưỡi bệu rêu ít, mạch trầm trì vô lực.

Phương pháp điều trị: Ôn bổ thận dương.

7.5.2. Thể huyết hư

Triệu chứng: Sắc mặt tái nhợt, da kém tươi nhuận, hay hoa mắt chóng mặt, hành kinh ít, sắc nhợt, kinh thường muộn, môi lưỡi tái nhợt, rêu mỏng, mạch tế nhược hoặc tế sác.

Phương pháp điều trị: Dưỡng huyết tư âm. Bài thuốc: Tứ vật thang gia vị

7.5.3. Can khí uất

Triệu chứng: Chu kỳ kinh sớm muộn không đều, lúc hành kinh người bứt rứt, tính tình nóng nảy hoặc đau kinh, lượng kinh ít nhiều thất thường, màu thâm tím hoặc có máu cục, chất lưỡi tươi nhuận hoặc đỏ tím, mạch huyền.

7.5.4. Thể đàm thấp

Triệu chứng: Hình thể béo mập, kinh nguyệt thường muộn, sắc nhợt, huyết trắng ra nhiều hoặc ngực, vú tức, bụng đầy, người mệt mỏi, thân lưỡi bệu, rêu dày dính, mạch trầm hoạt hoặc nhỏ hoạt.

Phương pháp điều trị: Hóa đờm táo thấp hành khí kiện tỳ.

7.6. Châm cứu chữa bệnh vô sinh nữ

Một nghiên cứu của Đức cho thấy, bổ sung châm cứu vào chương trình điều trị của những phụ nữ cần thụ tinh trong ống nghiệm có thể làm tăng cơ hội mang thai của họ. Họ đã tiến hành nghiên cứu trên 160 phụ nữ muốn sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, ở độ tuổi trung bình là 32. Họ đã từng làm thụ tinh trong ống nghiệm 2 lần. Các phụ nữ này được chia đều thành 2 nhóm:

Nhóm 1: Được châm cứu.

Nhóm 2: Không được châm cứu.

Việc châm cứu được thực hiện 25 phút trước và sau khi đưa phôi vào tử cung nhằm làm tăng luồng máu và năng lượng tới tử cung, đồng thời tạo hiệu quả an thần và ổn định hệ miễn dịch. Kết quả cho thấy 42,5% phụ nữ của nhóm 1 đã mang thai so với 26,3% của nhóm 2.

Một kết luận được rút ra là: sự kích thích vào các điểm châm cứu được chọn có thể đã làm giảm co thắt tử cung (hiện tượng hay gặp khi chuyển phôi vào tử cung, gây trở ngại cho việc cấy phôi). Với phương pháp châm cứu này hy vọng rằng những cặp vợ chồng hiếm muộn sẽ sớm có niềm vui đón đứa con đầu lòng.

8. Cách phòng tránh bệnh vô sinh

8.1. Phương pháp phòng tránh vô sinh ở nam giới

8.1.1. Giáo dục sức khỏe

– Kiên trì quan hệ tình dục thường xuyên, đều đặn, không sử dụng bất kỳ phương pháp tránh thai nào, tốt nhất quan hệ về đêm thì khả năng thụ thai cao hơn.

Tích lũy tinh trùng: người chồng cần “để dành” tinh trùng cho ngày người phụ nữ rụng trứng. Tích lũy tinh trùng càng nhiều thì khả năng thụ thai càng lớn. Cụ thể, có thể ngừng quan hệ tình dục trong vài ngày trước ngày người vợ rụng trứng.

“Tung quân đúng lúc”: Trong giai đoạn rụng trứng, tăng cường mật độ quan hệ tình dục, ít nhất một ngày một lần, liên tục trong 3 ngày. Nếu không theo dõi được ngày rụng trứng thì hãy quan hệ ít nhất một lần/ngày, liên tục từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 20 (tính từ ngày đầu tiên thấy kinh). Cần lưu ý: Tinh trùng chỉ sống được 3 ngày trong cơ thể người phụ nữ, với mật độ quan hệ dày như vậy sẽ giúp nâng cao cơ hội tinh trùng gặp được trứng để thụ tinh.

– Vệ sinh cơ thể và bộ phận sinh dục sạch sẽ. Mặc quần áo rộng rãi, đặc biệt là quần lót, tránh chèn ép bộ phận sinh dục.

– Ăn uống theo chế độ hợp lý, kiểm soát trọng lượng cơ thể. Tuy nhiên vẫn phải ăn uống hợp lý và có chế độ dinh dưỡng phù hợp sẽ tăng cường “nam tính” cho đàn ông: bổ sung kẽm, đồng… là các yếu tố vô cùng cần thiết để tăng nồng độ testosterone trong cơ thể, bổ sung cả chất và lượng cho tinh trùng. Ngoài ra, các loại vitamin (C, E…) giúp ngăn chặn tình trạng vón cục tinh trùng, đảm bảo sức khỏe cho các “tinh binh”. Để tăng cường chất và lượng cho các “tinh binh”, có thể bổ sung vào bữa ăn của mình các món ăn chế biến từ sò, ốc, cá, thịt, ngũ cốc… Đồng thời, có chế độ ăn cung cấp đủ lượng axit folic có trong gan động vật, men bia, các loại rau lá xanh (bông cải xanh, măng tây, rau diếp, bầu, bí), đậu, ngũ cốc, thịt, sữa, trái cây (chanh, cam, quýt, chuối, dưa) và các chế phẩm của sữa (như sữa chua), chè… Đặc biệt, nên uống nhiều nước để cung cấp đủ lượng nước cho cơ thể.

– Tập thể dục thể thao đều đặn. Thư giãn cơ thể, thoải mái tinh thần, tránh căng thẳng, lo lắng.

– Tránh các chất kích thích như ma túy, bia rượu, cà phê, thuốc lá.

– Chữa các bệnh toàn thân ảnh hưởng đến chức năng sinh sản như quai bị.

– Chữa dứt điểm các bệnh lý lây lan qua đường tình dục như lậu, giang mai… và một số bệnh lý như viêm tuyến tiền liệt, viêm mào tinh hoàn, tắc ống dẫn tinh, xuất tinh sớm, rối loạn cương dương

– Tránh tiếp xúc với các hóa chất độc hại. Nếu phải làm việc cùng thì phải có bảo hộ lao động hoặc chuyển công việc khác nếu có thể.

– Không dùng các chất bôi trơn khi quan hệ tình dục.

– Thăm khám định kỳ và điều trị đúng phác đồ theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

8.1.2. Phòng bệnh vô sinh nam

– Chế độ ăn có nhiều hoa quả và rau xanh, giàu chất chống oxy hóa giúp cải thiện sức khỏe “tinh binh”. Đàn ông cũng không nên ăn thức ăn có chứa nhiều dầu mỡ, không để béo phì.

– Không nên hút thuốc và uống rượu. Cần chú ý tránh tiếp xúc với những vật chất độc hại trong cuộc sống.

– Duy trì thói quen vệ sinh sạch sẽ để phòng ngừa các căn bệnh truyền nhiễm có hại đến khả năng sinh sản của đàn ông như các bệnh quai bị, viêm tuyến tiền liệt… Nên tiêm vacxin phòng ngừa.

– Một số nghiên cứu cho thấy, thừa cân và béo phì ảnh hưởng không tốt đến chất lượng tinh trùng, làm giảm số lượng cũng như khả năng di chuyển của “tinh binh”. Vì vậy duy trì cân nặng hợp lý sẽ giúp bảo vệ “con giống”.

– Cần hiểu một số kiến thức nhất định về tình dục, hiểu được đặc trưng sinh lý của đàn ông cũng như các kiến thức bảo vệ sức khoẻ. Nếu thấy tinh hoàn có những hiện tượng khác lạ như sưng to, cứng, đau buốt thì cần phải đi khám bác sĩ ngay.

– Stress có thể làm giảm khả năng tình dục và ảnh hưởng đến những hormone cần thiết để sản xuất tinh trùng. Hãy học cách kiểm soát và đối phó với stress để cải thiện sức khỏe tổng thể.

– Tập luyện thể chất không chỉ giúp cải thiện sức khỏe tinh trùng mà còn giúp tăng cường sức khỏe nói chung. Hãy chọn hình thức tập luyện phù hợp và đặt mục tiêu tập luyện hàng ngày.

– Nếu thường xuyên phải tiếp xúc với các chất phóng xạ hoặc làm việc trong môi trường nhiệt độ cao và có nhiều chất độc thì cần phải nghiêm túc thực hiện thao tác làm việc theo chế độ bảo hộ lao động. Khi muốn có con thì cần phải ra khỏi những môi trường làm việc như vậy trong vòng nửa năm rồi mới nghĩ đến chuyện sinh con.

– Tinh hoàn là cơ quan quan trọng trong sinh sản. Tinh hoàn hoạt động tốt nhất trong môi trường nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể 1 độ C. Nếu nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản tinh trùng. Vì vậy mà mọi nguyên nhân khiến nhiệt độ tinh hoàn tăng cao đều cần phải tránh như đi xe đạp lâu, tắm ngâm nước nóng, mặc quần bò.

– Các bệnh lây truyền qua đường tình dục như chlamydia và bệnh lậu là nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh ở cả nam và nữ. Để bảo vệ bản thân khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nên quan hệ chung thủy với một bạn tình và sử dụng các biện pháp bảo vệ khi giao hợp.

– Không dùng các chất bôi trơn khi quan hệ tình dục.

– Khi lập gia đình thì nên thường xuyên nói chuyện với vợ về những vấn đề rắc rối trong cuộc sống tình dục. Hiểu nhau, cùng nhau hợp tác thì sẽ tránh được các hiện tượng như xuất tinh sớm, liệt dương.

– Thăm khám nam khoa định kỳ hoặc khi có triệu chứng bất thường.

8.2. Phương pháp phòng tránh vô sinh ở nữ giới

8.2.1. Giáo dục sức khỏe

– Ăn uống theo chế độ hợp lý, giảm cân nếu béo phì, tăng cân nếu quá gầy.

– Tập thể dục, thể thao nhẹ nhàng như yoga. Thư giãn cơ thể, thoải mái tinh thần, tránh căng thẳng, lo lắng.

– Tránh các chất kích thích như bia rượu, cà phê, thuốc lá.

– Kiên trì quan hệ tình dục thường xuyên, đều đặn, không sử dụng bất kỳ phương pháp tránh thai nào, tốt nhất quan hệ về đêm để khả năng thụ thai cao hơn.

– Chữa các bệnh toàn thân ảnh hưởng đến chức năng sinh sản như suy tuyến yên, vùng dưới đồi…

– Chữa dứt điểm các bệnh lý phụ khoa như u xơ tử cung, viêm ống dẫn trứng, viêm tử cung, viêm cổ tử cung và viêm âm đạo âm hộ.

– Tránh tiếp xúc với các hóa chất độc hại.

– Giữ gìn vệ sinh vùng kín đúng cách: nhiều phụ nữ vì không biết hoặc biết mà vẫn cố tình xối mạnh nước vào thẳng trong âm đạo vì nghĩ rằng như thế sẽ sạch sẽ hơn. Điều này là một thói quen rất xấu, vì nó có thể sẽ khiến vi khuẩn bị đẩy ngược đi lên tử cung gây viêm loét, tắc ống dẫn trứng gây vô sinh.

– Thăm khám định kỳ và điều trị đúng phác đồ theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

– Xác định ngày rụng trứng để quan hệ làm tăng khả năng mang thai. Có rất nhiều cách tính khác nhau:

+ Tính theo chu kỳ kinh: Nếu chu kỳ kinh đều 28-32 ngày: Thời gian rụng trứng ước tính có thể vào khoảng từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 21 tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. 

Ví dụ: Ngày đầu tiên của ngày hành kinh là mùng 2 tháng 9 thì thời gian rụng trứng dự tính là từ ngày 13 tháng 9 đến ngày 23 tháng 9 năm.

Hoặc trong khoảng 12 đến 16 ngày tính ngược từ ngày bắt đầu hành kinh của tháng tới. Ví dụ: Ngày bạn dự tính hành kinh trong tháng tiếp theo là ngày mùng 6 tháng 6 thì thời gian dự tính rụng trứng sẽ là trong khoảng 20 tháng 5 đến ngày 24 tháng 5. 

+ Tính theo biểu đồ nhiệt độ cơ thể: theo dõi nhiệt độ hàng ngày ngay sau khi thức dậy vào buổi sáng (chưa bước ra khỏi giường) và vẽ trên biểu đồ để tìm khoảng tăng và hạ nhiệt.

+ Cách tính thời điểm rụng trứng là 14 ngày trước ngày đầu tiên của kỳ kinh tiếp theo trong chu kỳ kinh 28 ngày. Đây là sự ước tính bình quân thời điểm rụng trứng trên rất nhiều phụ nữ. Nhưng rất nhiều phụ nữ không rụng trứng vào ngày thứ 14 của chu kỳ 28 ngày. Vì vậy đây là cách ước tính không thích hợp.

+ Theo dõi dịch âm đạo: Trong khoảng thời gian trứng rụng trong vòng 12 đến 24 giờ, dịch âm đạo sẽ ra nhiều hơn. Nếu quan hệ trong thời gian này hoặc trước thời gian này một vài hôm cũng có thể có kết quả.

+ Bộ que thử ngày trứng rụng (LH test kit): nhằm xác định lượng hormone luteinizing có tác dụng kích thích phóng noãn (rụng trứng) và hình thành hoàng thể. Lượng hormon này sẽ tăng lên trước khi rụng trứng. Vì vậy que thử có tác dụng kiểm tra liệu chuẩn bị có trứng rụng hay chưa chứ không thể chắc chắn rằng bạn có rụng trứng hay không? Nhiều phụ nữ có lượng hormone LH cao như buồng trứng đa nang, suy buồng trứng sớm hoặc phụ nữ ở độ tuổi tiền mãn kinh đều làm cho kết quả có dương tính giả.

+ Dựa vào một hoặc vài những triệu chứng sau: Ra nhiều dịch nhầy âm đạo màu trắng trong; Đau nhẹ ở một bên bụng dưới; Ra chút máu; Tăng ham muốn tình dục; Đau nhẹ vú; Bụng chướng nhẹ; Nhạy cảm thị giác, mùi và vị.

8.2.2. Phòng bệnh

Quan hệ tình dục lành mạnh: luôn sử dụng bao cao su để phòng tránh những bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, viêm nhiễm phụ khoa. Tránh quan hệ tình dục với nhiều bạn tình. Quan hệ tình dục thường xuyên, đều đặn, tốt nhất quan hệ về đêm để khả năng thụ thai cao hơn.

Tránh nạo, hút thai nhiều lần: việc nạo hút thai nhiều lần sẽ làm ảnh hưởng nhiều tới dạ con, buồng trứng, gây nguy cơ vô sinh cao.

Tránh stress thường xuyên: thường xuyên bị stress chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến chức năng của bộ não và tuyến yên làm cho nội tiết tố sinh dục sẽ giảm xuống, khả năng thụ thai sẽ khó hơn rất nhiều.

Kiểm tra, thăm khám định kỳ: nên thăm khám, kiểm tra định kỳ sức khỏe sinh sản để phát hiện sớm những bệnh dễ gây vô sinh như tắc vòi trứng, viêm nhiễm khuẩn đường sinh dục, viêm tử cung. –

Tránh các thói quen có hại: các thói quen như uống rượu, hút thuốc, thụt rửa âm đạo liên tục… đều có thể làm suy giảm chức năng buồng trứng và dễ gây mãn kinh sớm.

– Có chế độ ăn uống hợp lý, tránh ăn kiêng, bỏ bữa, giảm cân, hay ăn quá nhiều. Bổ sung các loại vitamin cần thiết để bồi bổ sức khỏe, đặc biệt là vitamin E có tác dụng tăng cường chức năng hoạt động của buồng trứng làm tăng khả năng sinh sản.

– Không uống thuốc giảm đau trong thời kỳ rụng trứng.

– Tránh tiếp xúc với các hóa chất độc hại.

– Mặc quần áo rộng rãi, sạch sẽ. Đồ lót phải thay giặt hàng ngày và phơi dưới ánh sáng mặt trời.

– Vệ sinh sạch sẽ trong thời kỳ kinh nguyệt. Giữ gìn vệ sinh đúng cách, tránh xối nước thẳng vào âm đạo hay thụt rửa âm đạo.

– Nên sử dụng một biện pháp tránh thai an toàn, không sử dụng thuốc tránh thai bừa bãi, đặc biệt là thuốc tránh thai khẩn cấp. Thuốc tránh thai hàng ngày cũng không nên dùng quá lâu (nên uống 6 tháng thì nghỉ một thời gian, dùng biện pháp bảo vệ khác như dùng bao cao su cho chồng). Nếu đặt dụng cụ tử cung, phải thường xuyên thăm khám tránh viêm nhiễm. Trước khi đặt vòng, cần điều trị các viêm nhiễm phụ khoa nếu có.

– Nên điều trị dứt điểm các viêm nhiễm phụ khoa. Khi đã xảy ra viêm nhiễm thì việc chữa trị đúng cách cũng rất quan trọng. Bên cạnh việc sử dụng các loại thuốc kháng sinh đặc trị, biện pháp điều trị được sử dụng phổ biến nhất là đốt điện. Về cơ bản, biện pháp này đưa lại những hiệu quả nhất định nhưng cũng không nên quá lạm dụng, do việc điều trị bằng biện pháp đốt điện có thể gây chai cổ tử cung, từ đó dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi cho các lần sinh nở sau.

8.2.3. Một số điều cần biết về chăm sóc trong thời kỳ kinh nguyệt

Bộ phận sinh dục ở phụ nữ khá nhạy cảm, chỉ cần những thay đổi nhỏ cũng khiến cho “vùng kín” bị mất cân bằng và gây ra những bệnh viêm nhiễm phụ khoa. 

Đặc biệt hơn, trong thời kỳ kinh nguyệt, bộ phận sinh dục thường nhạy cảm hơn, thêm vào đó là việc mặc băng vệ sinh khiến vùng này luôn “bỉ”, kết hợp với máu kinh thấm ra ngoài là môi trường thích hợp cho vi khuẩn khu trú, sinh sôi và gây bệnh. Do vậy, việc vệ sinh vùng kín trong kỳ kinh nguyệt cần hết sức chú trọng.

Máu kinh khi ở bên trong cơ thể thì có thể rất sạch, nhưng khi ra môi trường bên ngoài thì nó lại là nguồn gây ra nhiều bệnh tật cho “vùng kín” của phụ nữ. Hơn nữa, trong thời gian này, cổ tử cung thường “hé mở”, dễ khiến vi khuẩn xâm nhập vào cả bên trong và gây bệnh. 

Để tránh tình trạng đó, trong thời gian hành kinh, phụ nữ cần lưu ý những điểm sau:

– Chỉ sử dụng băng vệ sinh sạch và còn khả năng thấm hút. Phải chọn loại đã tiệt trùng và chưa quá hạn sử dụng, băng vệ sinh phải mềm có tính thấm tốt để có cảm giác thoải mái và còn có thể ngăn ngừa máu kinh chảy ra ngoài. 

– Băng vệ sinh phải có tính cố định tốt, mềm và thoáng khí, đồng thời chỉ sử dụng một lần là bỏ. Bất luận sử dụng loại giấy vệ sinh hay băng vệ sinh nào cũng phải siêng thay đổi, lúc thay phải chú ý vệ sinh môi trường và rửa sạch tay. 

– Nên thay băng vệ sinh 4-6 giờ/lần. Nếu kinh nguyệt ra nhiều, có thể thay sớm hơn.

– Khi thay băng vệ sinh phải đồng thời vệ sinh “vùng kín” sạch sẽ. Tuy nhiên, trong thời kỳ kinh nguyệt, do tính chất nhạy cảm và nguy cơ viêm nhiễm cao, phụ nữ chỉ cần dùng nước muối loãng, hoặc nước trà xanh, hoặc dung dịch vệ sinh phụ nữ chuyên dụng để vệ sinh. 

– Không dùng xà bông, sữa tắm để rửa “vùng kín” vì tính kiềm mạnh sẽ làm độ pH vùng kín bị thay đổi, gây khô rát.

Thực hiện thao tác vệ sinh “vùng kín” đúng cách: rửa từ trước ra sau; chỉ rửa bộ phận sinh dục ngoài (âm hộ), không thụt rửa sâu vào trong âm đạo. Sau khi rửa sạch, nên dùng khăn bông sạch, mềm, thấm khô nhẹ nhàng, không chà xát mạnh vào bộ phận sinh dục.

– Hạn chế ngâm “vùng kín” lâu trong nước (tắm bồn, bơi lội).

– Với phụ nữ đã có gia đình, nên hạn chế quan hệ tình dục (nếu có quan hệ hãy dùng bao cao su) bởi quan hệ tình dục trong thời kỳ “đèn đỏ” dễ khiến phụ nữ bị viêm nhiễm hơn. Nhiều người cho rằng, quan hệ tình dục trong thời gian “đèn đỏ” sẽ dễ dàng hơn bởi máu trong kinh nguyệt cũng có tác dụng như một chất bôi trơn. Tuy nhiên, chúng ta nên biết rằng, trong thời kỳ kinh nguyệt, cổ tử cung hé mở, “vùng kín” cũng nhạy cảm hơn, quan hệ tình dục vô tình đưa vi khuẩn từ bên ngoài vào “vùng kín” một cách dễ dàng hơn, do đó nguy cơ viêm nhiễm khi quan hệ tình dục trong thời gian này cao hơn.

– Ngoài ra, phụ nữ cũng nên chú ý bồi dưỡng, ngủ đủ 8 tiếng 1 ngày, tránh vận động mạnh (chạy nhảy, lao động nặng), tránh căng thẳng, stress để giữ gìn sức khoẻ.

– Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt ăn nhiều trái cây, rau củ. Trong thời gian hành kinh, phụ nữ nên chú ý giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, nếu thấy những bất thường như ngứa, màu sắc kinh nguyệt bất thường, cần đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa để được các bác sĩ khám và điều trị kịp thời.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :